Bản Na Ngân (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) có 156 hộ với gần 740 nhân khẩu, đều là dân tộc Thái. Bản này nằm biệt lập giữa đại ngàn Pù Huống, cách trung tâm xã hơn 20 km bằng con đường đất độc đạo vắt lưng chừng núi.
Trong trận lũ ống, lũ quét xảy ra trên suối Nậm Ngân vào cuối tháng 10/2025, bản làng tan hoang, nhiều nhà dân bị sạt lở đất đá, lũ cuốn trôi, ruộng vườn, hoa màu, ao cá bị san lấp, đường giao thông bị chia cắt do sạt lở núi, sụt trượt ta-luy khiến cả bản bị cô lập nhiều ngày. Sau khi lũ dữ đi qua, được sự quan tâm của các cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trong việc hỗ trợ khắc phục thiên tai, đặc biệt với quyết tâm chung tay xây dựng bản làng của người dân, nhịp sống tại bản Na Ngân đã hồi sinh rõ nét theo chiều hướng tích cực.
Bản làng hồi sinh
Bản Na Ngân là 1 trong 3 bản của “vùng trong” của xã miền núi Nga My nằm ẩn sâu, heo hút trong thung lũng trải dài dọc suối Nậm Ngân, thuộc vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống. Bao bọc quanh bản là những dãy núi cao Pù Hiêng, Pà Lượn trùng điệp và những cánh rừng già. Cuối tháng 10/2025, sau trận mưa lớn, lũ ống, lũ dữ xảy ra trên thượng nguồn suối Nậm Ngân quét qua, bản làng Na Ngân từng tan hoang và cô lập nhiều ngày. Đất đá vùi lấp ruộng đồng, suối khoét hàm ếch sát chân bản, điện lưới bị cắt, giao thông chia cắt nhiều ngày. Giữa thung lũng sâu hun hút ấy, cuộc sống của người dân như chùng xuống theo màu xám của núi rừng sau thiên tai. Nhưng rồi Na Ngân đã hồi sinh.
Sau nhiều tháng chờ mong, Trạm biến áp bản Na Ngân được cấp điện trở lại giúp người dân có điện lưới để thắp sáng, sinh hoạt, sản xuất, tiếp cận thông tin qua hệ thống loa đài, tivi. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Ông Lương Văn Ủn, trưởng bản Na Ngân cho biết, khi Trạm biến áp trong bản được cấp điện trở lại trước Tết, ánh sáng đã bừng lên giữa đại ngàn. Trong những ngôi nhà sàn nằm nép dưới chân núi, tiếng ti vi, loa đài lại vang lên sau nhiều tháng im lặng. Trẻ nhỏ háo hức ngồi học dưới ánh điện. Người già quây quần bên hiên nhà cập nhật thông tin từ các thiết bị nghe, nhìn. Với người dân Na Ngân, dòng điện trở lại không chỉ phục vụ sinh hoạt, hỗ trợ sản xuất, phát triển sinh kế mà tạo tiền đề, sức bật và thắp lên niềm tin về một cuộc sống mới.
Diện mạo bản Na Ngân đã có nhiều đổi thay, khởi sắc khi nhiều ngôi nhà sàn truyền thống được sửa chữa, xây tường bao quanh khuôn viên. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Cùng trưởng bản Lương Văn Ủn dạo quanh bản, chúng tôi không khỏi bất ngờ và ngạc nhiên trước sự phục hồi và đổi thay nhanh chóng sau lũ dữ của bản làng. Những lá cờ Tổ quốc đỏ thắm nối dài theo tuyến đường liên bản, nổi bật giữa màu xanh thẫm của rừng già. Dọc hai bên đường, nhiều ngôi nhà mới đã dựng lên xen kẽ với những nếp nhà sàn truyền thống được sửa sang khang trang, có tường rào bao quanh.
Người dân bản Na Ngân đang mở rộng trang trại chăn nuôi, phát triển kinh tế gia đình. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Ven suối Nậm Ngân, những điểm sạt lở nghiêm trọng đã được gia cố bằng đá và đất đắp. Các bờ kè mới dựng chạy dọc khe suối nhằm tránh sạt lở vào chân bản mỗi mùa mưa lũ. Đặc biệt, những nơi từng ngổn ngang đất đá sau lũ, nay trở thành những bờ xôi ruộng mật, lúa chín trĩu cành, chắc hạt hứa hẹn một mùa vàng trong nay mai. Nhiều diện tích ao cá từng bị lũ san phẳng nay đã được khôi phục, nuôi các loại cá thương phẩm có giá trị kinh tế cao như: cá trắm, trôi, mè...
Nguồn nước từ các khe suối được dẫn về bản nhờ hệ thống ống dẫn, giúp người dân có nước sạch sinh hoạt, giặt giũ hằng ngày. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Bên những bể chứa nước sinh hoạt, chị em phụ nữ đang chăm chỉ giặt giũ. Nhờ nguồn nước sạch từ các khe suối được dẫn về các hộ dân bằng hệ thống ống dẫn, người dân “thỏa sức” sử dụng nguồn nước sạch từ tự nhiên. Trong khu vườn nhỏ sau nhà, phụ nữ lại cần mẫn hái rau, chăm luống. Trẻ em ríu rít tới trường trên con đường sạch sẽ vừa được bà con cùng nhau chỉnh trang. Ngay trong bản 2 tiệm sửa xe máy đã hoạt động trở lại phục vụ người dân từ nhiều tháng qua.
Trẻ em trong bản Na Ngân đang trên đường tới trường. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Không khó để nhận ra dưới nhiều mái hiên nhà sàn cổ, những giò phong lan rừng được treo lên từ nhiều ngày qua, đung đưa trong gió núi. Ngoài sân, những người đàn ông đang cặm cụi đan chổi, hoặc chế tác cung nỏ chuẩn bị cho hội diễn thể thao của bản.
Trưởng bản Na Ngân, anh Lương Văn Ủn lắp đặt loa phóng thanh tại Nhà văn hóa cộng đồng của bản. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Buổi chiều, tại Nhà văn hóa cộng đồng, tiếng loa phóng thanh vang lên giữa thung lũng. Người dân tập trung họp bản, trao đổi chuyện làm ăn, sản xuất và giữ gìn bản sắc văn hóa.
Người dân bản Na Ngân họp, sinh hoạt cộng đồng tại Nhà văn hóa cộng đồng của bản. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Ông Vi Văn Tương, bản Na Ngân cho biết, sau những trận mưa lớn vừa qua, 2 điểm sạt lở tại vị trí lưng chừng núi dọc thượng nguồn suối Nậm Ngân đã không còn sụt sạt thêm nữa. Vết trượt đất, cây rừng loang lổ đã dần được cỏ và thảm thực vật đã mọc, phủ lấp trở lại. Dân bản giờ yên tâm hơn, không lo sợ như hồi mới xảy ra lũ ống, lũ quét nữa.
Diện tích ruộng trong thung lũng Na Ngân là “vựa” lương thực của người dân trong bản sau lũ dữ bị tan hoang, đất đá ngổn ngang giờ đã thành bờ xôi, ruộng mật, hứa hẹn cho mùa vàng bội thu. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Ông Lương Tuấn Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Nga My cho biết, khi lũ dữ đi qua, cấp ủy, chính quyền địa phương đã triển khai lực lượng tiếp cận bản làng, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho người dân đảm bảo các gia đình không bị đói, rét. Khi tuyến đường độc đạo vào bản được khai thông, công tác khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sinh kế được triển khai mạnh mẽ.
Nhiều diện tích ao nuôi cá trước đây bị lũ dữ càn quét, san phẳng giờ đã được phục hồi. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Hiện nay, ngoài chăn nuôi gia súc, thả cá, cải tạo đất, mở rộng diện tích trồng rau màu, lúa nước người dân còn trồng cây bo bo, dứa mật trên sườn đồi. Nhịp sống và những nét đổi thay ấy là những dấu hiệu khẳng định sự bình yên đã trở lại bản làng, góp phần làm cho Na Ngân từng bước chuyển mình và cũng bớt xa xôi hơn giữa đại ngàn.
Sức dân, tinh thần đoàn kết trên công trình trọng yếu
Những khu vực sạt lở dọc theo khe suối trong bản Na Ngân đã được xây dựng bờ kè đá phòng tránh sạt lở khi mưa có mưa lớn xảy ra. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Chiều ngày 20/5, trưởng bản Na Ngân, ông Lương Văn Ủn vui mừng chia sẻ, trưa cùng ngày, cầu sắt lát ván gỗ dài hơn 20m, rộng 1,5m bắc qua suối Nậm Ngân đoạn khe Hưng đã được dân bản hoàn tất trong trưa cùng ngày. Toàn tuyến đường độc đạo từ bản Na Ngân ra trung tâm xã Nga My có 4 vị trí suối Nậm Ngân cắt ngang, gồm: khe Đền, khe Bống, khe Hưng và khe Tàng Khám; trong đó, tại vị trí khe Hưng là nơi lòng suối Nậm Ngân rộng nhất, dòng chảy mạnh nhất và mực nước có độ sâu sâu nhất.
Nhiều ngôi nhà mới trong bản Na Ngân đã được dựng lên ngay khu vực trung tâm bản. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Nguồn kinh phí xây dựng, lắp đặt cây cầu này gần 90 triệu đồng, trích từ khoản tiền 150 triệu đồng do UBND xã hỗ trợ, cấp cho Ban Quản lý bản Na Ngân khắc phục thiên tai.
Phụ nữ trong bản Na Ngân hái rau sau vườn nhà. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Ông Lương Văn Ủn, trưởng bản Na Ngân cho biết thêm, toàn bộ cấu kiện gồm trụ, chân, dầm nâng của cây cầu được làm bằng khung thép, mặt cầu được lát ván bằng gỗ. Để có đủ lượng gỗ lát mặt cầu, Ban Quản lý bản Na Ngân đã kêu gọi, huy động người dân trong bản đóng góp từ nguồn gỗ dự trữ của các gia đình.
Ngày 10/5, hệ thống khung cầu được dựng xong. 10 ngày sau, khi có đủ lượng gỗ ván do dân bản đóng góp, Ban Quản lý bản Na Ngân đã huy động gần 160 người, chia làm 2 tổ thực hiện việc cưa xẻ gỗ, lát mặt bằng cầu, dựng lan can và tham gia phát dọn cây rừng, san ủi các hố trũng, sống trâu và giải phóng những vật cản trên tuyến đường dài hơn 10 km từ bản Na Ngân ra bản Xốp Kho (xã Nga My, tỉnh Nghệ An).
Đàn ông trong bản Na Ngân chế tác cung nỏ để tham gia hội diễn thể thao, thi thố tài năng trong dịp bản làng tổ chức vui hội. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Sáng sớm ngày 20/5, dân bản đã mang đã đùm cơm nắm, muối vừng, cá nướng, mang theo các loại dụng cụ, máy cưa, máy bào, dao, cuốc cùng nhau di chuyển ra “công trường” bằng phương tiện xe máy với quyết tâm hoàn thành cây cầu trong thời gian sớm nhất. Quá trình làm cầu, dọn đường dù thời tiết có mưa, khá vất vả nhưng mọi người đều cố gắng lao động, hoàn thành xong những phần việc do ban quản lý bản phân công.
Đường độc đạo về bản Na Ngân, đoạn qua bản Xốp Kho (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) đã được bê-tông cứng hóa. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Cũng theo ông Lương Văn Ủn, khoản kinh phí còn lại khoảng hơn 60 triệu đồng, Ban Quản lý bản Na Ngân sẽ dùng để làm thêm một cây cầu ở vị trí khe Tàng Khám nối 2 cụm dân cư của bản. Khi cây cầu này hoàn thành sẽ tạo điều kiện cho người dân đi lại, vận chuyển nông sản, hàng hóa được thuận lợi, nhất là học sinh các cấp mầm non, tiểu học ở 2 điểm trường trong bản an toàn khi đến trường vào mùa mưa.
Điểm sạt lở hàm ếch nghiêm trọng trên suối Nậm Ngân đoạn chảy quan bản Na Ngân đã được đắp đất đá, ngăn sạt lở tái diễn khi có mưa lớn, suối Nậm Ngân dâng cao.
Ông Lương Tuấn Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Nga My cho biết, hiện nay, tuyến đường độc đạo nối trung tâm xã, đi qua các bản Canh, Xốp Kho vào bản Na Ngân đã được cải tạo, mở rộng. Những điểm có nguy cơ sạt lở vách núi, sụt trượt ta-luy âm đã được xử lý đảm bảo cho xe ô tô con và xe tải cỡ nhỏ có thể lưu thông vào bản. Từ đó tạo động lực giúp người dân bản Na Ngân đi lại thuận tiện, giao thương kinh tế, trao đổi hàng hóa dễ dàng hơn.
Người dân bản Na Ngân treo cờ Tổ quốc trên con đường liên bản. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Trong thời gian tới, cấp ủy, chính quyền địa phương sẽ nghiên cứu, khảo sát, mở rộng các mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng cây ăn quả tại các bản có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, trình độ canh tác phù hợp để phát triển sinh kế cho người dân, nhất là đối với các bản nằm trong vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống như: Na Kho, Na Ngân, Xốp Kho.../.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn