Đắk Nông vài nét tổng quan

Đắk Nông vài nét tổng quan
1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn; được xác định trong khoảng tọa độ địa lý: 11045' đến 12050' vĩ độ Bắc, 107013' đến 108010' kinh độ Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia. Đăk Nông là tỉnh nằm trong khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia.

Đắk Nông có Quốc lộ 14 nối thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Đông Nam Bộ với các tỉnh Tây nguyên, cách Thành phố Hồ Chí Minh 230 km về phía Bắc và cách Thành phố Ban Mê Thuột (Đắk Lắk) 120 km về phía Tây Nam; có Quốc lộ 28 nối Đắk Nông với Lâm Đồng, Bình Thuận và các tỉnh Duyên hải miền Trung, cách Thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) 180 km và Thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) 230 km về phía Đông. Đắk Nông có 130 km đường biên giới với nước bạn Campuchia, có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Dak Peur nối thông với Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap,..

Địa hình
        
Tỉnh Đắk Nông có diện tích tự nhiên là 6.514,38 km2. Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M'Nông, độ cao trung bình khoảng 600 m đến 700m so với mặt nước biển, có nơi lên đến 1.982m (Tà Đùng).

Nhìn tổng thể, địa hình Đắk Nông như hai mái của một ngôi nhà mà đường nóc là dãy núi Nam Nung, chạy dài từ Đông sang Tây, có độ cao trung bình khoảng 800m, có nơi cao đến hơn 1.500m. Địa hình có hướng thấp dần từ Đông sang Tây. Các huyện Đăk Song, Đăk Mil, Cư Jut, Krông Nô thuộc lưu vực sông Krông Nô, sông Srêpốk nên thấp dần từ Nam xuống Bắc. Các huyện Tuy Đức, Đăk Rlâp, Đăk Glong và thị xã Gia Nghĩa thuộc thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai nên thấp dần từ Bắc xuống Nam.

Vì vậy, Đắk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lư­ợn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng. Địa hình thung lũng thấp, có độ dốc từ 0-30 chủ yếu phân bố dọc sông Krông Nô, Sêrêpôk, thuộc các huyện Cư Jút, Krông Nô. Địa hình cao nguyên đất đỏ bazan chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song, độ cao trung bình 600 - 800 m, độ dốc khoảng 5-100. Địa hình chia  cắt mạnh và có độ dốc lớn > 150 phân bố chủ yếu trên địa bàn các huyện Đăk Glong, Đắk R'Lấp.

Khí hậu
      
Đắk Nông là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể.

Nhiệt độ trung bình năm 22-230 C, nhiệt độ cao nhất 350 C, tháng nóng nhất là tháng 4. Nhiệt độ thấp nhất 140C, tháng lạnh nhất vào tháng 12. Tổng số giờ nắng trong năm trung bình 2000-2300 giờ. Tổng tích ôn cao 8.0000 rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm.

Lượng mưa trung bình năm 2.513 mm, lượng mưa cao nhất 3.000mm. Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 8, 9; mưa ít nhất vào tháng 1, 2. Độ ẩm không khí trung bình 84%. Độ bốc hơi mùa khô 14,6-15,7 mm/ngày, mùa mưa 1,5-1,7 mm/ngày.

Hướng gió thịnh hành mùa mưa là Tây Nam, hướng gió thịnh hành mùa khô là Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2,4 -5,4 m/s , hầu như không có bão nên không gây ảnh hưởng đến kinh tế-xã hội.

Tuy nhiên cũng như các vùng khác của Tây Nguyên, điều bất lợi cơ bản về khí hậu là sự mất cân đối về lượng mưa trong năm và sự biến động lớn về biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa, nên yếu tố quyết định đến sản xuất và sinh hoạt là việc cấp nước, giữ nước và việc bố trí mùa vụ cây trồng.

Thủy văn
     
Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đều khắp. Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện và phục vụ nhu cầu dân sinh.
   
Các sông chính chảy qua địa phận tỉnh gồm:

Sông Sêrêpôk do hai nhánh sông Krông Nô và Krông Na hợp lưu với nhau tại thác Buôn Dray. Khi chảy qua địa phận huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, do kiến tạo địa chất phức tạp, lòng sông trở nên hẹp và dốc nên tạo ra các thác nước lớn hùng vĩ, vừa có cảnh quan thiên nhiên đẹp, vừa có tiềm năng thủy điện mang lại giá trị kinh tế. Đó là thác Trinh Nữ, Dray H'Linh, Gia Long, ĐraySap. Các suối Đắk Gang, Đắk Nir, Dray H'Linh, Ea Tuor, Đắk Ken, Đắk Klou, Đắk Sor cũng đều là thượng nguồn của sông Sêrêpôk.

Sông Krông Nô bắt nguồn từ dãy núi cao trên 2.000 m phía Đông Nam tỉnh Đắk Lắk, chảy qua huyện Krông Nô. Sông Krông Nô có ý nghĩa rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống dân cư trong tỉnh. Còn nhiều suối lớn nhỏ khác suối Đắk Mâm, Đắk Rô, Đắk Rí, Đắk Nang là thượng nguồn của sông Krông Nô.

Hệ thống sông suối thượng nguồn sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai dòng chảy chính không chảy qua địa phận Đắk Nông nhưng có nhiều sông suối thượng nguồn. Đáng kể nhất là: Suối Đắk Rung bắt nguồn từ khu vực Thuận Hạnh, Đắk Nông với chiều dài 90 km. Suối Đắk Nông có lưu lượng trung bình 12,44m3/s. Môduyn dòng chảy trung bình 47,9 m3/skm2.Suối Đắk Bukso là ranh giới giữa huyện Đắk Song và Đắk R'Lấp. Suối ĐắkR'Lấp có diện tích lưu vực 55,2 km2, là hệ thống suối đầu nguồn của thủy điện Thác Mơ. Suối Đắk R'Tih chảy về sông Đồng Nai, đầu nguồn của thủy điện Đắk R'tih và thủy điện Trị An.

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ, đập lớn vừa có tác dụng giữ nước cho sản xuất nông, công nghiệp, thủy điện, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch như Hồ Tây, EaSnô, Ea T'Linh, Đắk Rông, Đak Đier, ĐăkR'tih, Đồng Nai 3, 4...

Chế độ lũ: Chịu sự chi phối mạnh của sông Krông Nô. Tại Đức Xuyên lũ lớn thường xảy ra vào tháng 9, 10. Hàng năm dòng sông này thường gây ngập lũ ở một số vùng thuộc các xã phía nam huyện Krông Nô. Lũ trên sông Sêrêpôk là tổ hợp lũ của 2 sông Krông Nô và Krông Na, lũ xuất hiện vào tháng 9 và 10.

Đất đai

Đắk Nông có tổng diện tích đất tự nhiên là 650.927 ha.

Về thổ nhưỡng: Đất đai Đắk Nông khá phong phú và đa dạng, nhưng chủ yếu gồm 05 nhóm chính: Nhóm đất xám trên nền đá macma axit và đá cát chiếm khoảng 40% diện tích và được phân bổ đều toàn tỉnh. Đất đỏ bazan trên nền đá bazan phong hóa chiếm khoảng 35% diện tích, có tầng dày bình quân 120 cm, phân bổ chủ yếu ở Đăk Mil, Đăk Song. Còn lại là đất đen bồi tụ trên nền đá bazan, đất Gley và đất phù sa bồi tụ dọc các dòng sông, suối.

Với tài nguyên đất đai nêu trên, Đắk Nông rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như: Cà phê, cao su, chè, tiêu, điều trên nền đất xám, đất đỏ bazan. Đồng thời rất thích hợp cho phát triển một diện tích lớn cây hàng năm như lúa, ngô và các loại cây công nghiệp ngắn ngày khác trên đất đen bồi tụ, đất Gley và đất phù sa ven sông, suối.
     
2. Dân cư
      
Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 636.000 người. Dân cư phân bố không đều trên địa bàn các huyện, nơi đông dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã, thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ. Có những vùng dân cư thưa thớt như một số xã của huyện Đắk Glong, Tuy Đức.

Đắk Nông là tỉnh có cộng đồng dân cư gồm hơn 40 dân tộc cùng sinh sống. Cơ cấu dân tộc đa dạng chủ yếu là dân tộc Kinh,  M'Nông, Tày, Thái, E Đê, Nùng. Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ khoảng 65,5%; M'Nông chiếm 9,7%, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ nhỏ.

Đắk Nông là vùng đất sinh sống từ hàng ngàn đời của đồng bào các dân tộc tại chỗ, đồng thời cũng là vùng đất quần tụ của cư dân từ nhiều vùng miền về sinh cơ, lập nghiệp nên đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng cũng vô cùng phong phú. Gồm có Công giáo, Phật giáo, Tin lành.

Ngoài ra, đồng bào các dân tộc Đăk Nông còn có rất nhiều tín ngưỡng để tôn thờ, đặc biệt là đồng bào các dân tộc tại chỗ thờ cúng Yàng (Trời), thần Núi, thần Sông v.v. và rất nhiều lễ hội như: Lễ hội Đâm trâu (ăn trâu). Lễ mừng nhà mới, Lễ mừng mùa, Lễ bỏ mả,... phong phú và đặc sắc.

3. Lịch sử hình thành và phát triển

Đắk Nông là vùng đất cổ, nằm trên cao nguyên M’Nông, phía Tây Nam vùng Tây nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn, có độ cao trung bình từ 600 - 700m, có nơi lên đến 1.970m so với mực n­ước biển. Là nơi sinh sống lâu đời của các dân tộc bản địa như M’Nông, Mạ, Ê đê …, theo chế độ cộng đồng, thị tộc, bộ lạc, trải dài trên một địa bàn rộng lớn.

Do vị trí địa lý, vùng đất Đăk Nông nói riêng, vùng đất Tây Nguyên nói chung, nằm ở ngã ba của các quốc gia Đông Dương, luôn chịu sự tranh chấp của nhiều thế lực bên ngoài với các tộc người bản địa hoặc giữa các thế lực xâm lược với nhau. Vì vậy, vùng đất này luôn chịu sự xáo trộn về ranh giới địa lý hành chính.

Từ năm 1893, triều đình nhà Nguyễn buộc phải chấp nhận để Pháp toàn quyền cai trị vùng cao nguyên Trung phần, Đăk Nông trở thành vùng đất thuộc quyền cai trị trực tiếp của thực dân Pháp.

Không chịu khuất phục dưới ách thống trị của thực dân, các dân tộc Tây Nguyên nói chung, Đắk Nông nói riêng đã vùng lên, chống thực dân xâm lược mà điển hình là các cuộc khởi nghĩa của N'Trang Gưh (1845-1914, tù trưởng buôn Cuah Kplang), từ năm 1887 đến năm 1914, ông từng lãnh đạo nghĩa quân bao vây tiêu diệt đồn Buôn Tur, buôn Riăng, buôn Dur, buôn Tinh, đồn Phơty…; cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng (1870 - 1935, là người dân tộc M'Nông), Ông đã đứng lên lãnh đạo các dân tộc M' Nông, Stiêng, Mạ… vũ trang chống Pháp từ cuối năm 1911, cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp vùng cao nguyên M'Nông và được nhiều tù trưởng tài giỏi khác như R'Dinh, R'Ong (tù trưởng của các buôn Bu Jeng Chet, Bu Mera, Bu Nơr, Bu Nốp... thuộc tổng DakRtik, nay là tỉnh Đắk Nông) tham gia. Giữa tháng 5 năm 1935, quân Pháp tập trung tiến công đại bản doanh của nghĩa quân. Tù trưởng N'Trang Lơng bị trọng thương và tử thương đêm 23 tháng 5 năm 1935.

Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định khu vực Tây Nguyên, thực dân Pháp đã từng bước thiết lập hệ thống chính quyền tay sai thực dân trên địa bàn Đăk Nông để kiểm soát dân chúng, tập trung ở Đăk Mil, Đăk Song. Năm 1940, bên cạnh nhà tù Buôn Ma Thuột, chúng còn cho xây dựng Ngục Đăk Mil (nay thuộc huyện Đăk Mil, Đắk Nông), nhằm đày ải và tra tấn các chiến sĩ cách mạng của ta. Ngục Đăk Mil trở thành một cơ sở cách mạng trên địa bàn huyện và đã chứng kiến nhiều lần vượt ngục dũng cảm của những người Cộng sản yêu nước.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Đắk Nông là vùng địch tạm chiếm đóng. Đồng bào dân tộc M'Nông, Mạ… với truyền thống kiên cường, anh dũng trong đấu tranh chống ngoại xâm đã được sớm giác ngộ và đi theo cách mạng. Năm 1950, tỉnh Đắk Lắk cử Đội công tác 124 về tiến hành xây dựng cơ sở ở xung quanh núi Nâm Nung.

Những năm 1954 - 1959, trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhiều thanh niên M'Nông, Mạ… đã giác ngộ cách mạng, thoát ly và được đưa vào vùng hậu cứ đào tạo để sau này phục vụ địa phương. Ban Cán sự Đảng kết hợp với đội công tác tuyên truyền, vận động thành lập được trung đội du kích người dân tộc M'Nông để chiến đấu chống Pháp. Đây là những lực lượng tiền thân của lực lượng quân sự tỉnh sau này.

Từ năm 1959, khu vực Nâm Nung trở thành khu căn cứ của lực lượng cách mạng. Tại căn cứ này, chính quyền cách mạng đã xây dựng được 3 trung đội du kích, gồm 150 thanh niên M'Nông, đã huy động được hàng chục ngàn ngày công phục vụ chiến đấu, vận động nhân dân đóng góp hàng ngàn tấn lương thực, hàng trăm tấn thực phẩm cho cách mạng và xây dựng hàng ngàn hầm chông, cạm bẫy, rào hàng chục cây số để chiến đấu bảo vệ hậu cứ, bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo tỉnh, huyện và các trạm hành lang.

Tháng 1.1959, chính quyền Sài Gòn cắt một phần phía Tây của tỉnh Đắk Lắk, một phần quận Kiến Hòa của Thủ Dầu Một để thành lập tỉnh Quảng Đức. Địa giới hành chính tỉnh Quảng Đức, về cơ bản giống như địa giới tỉnh Đắk Nông ngày nay, được chia làm 3 quận: Quận Đức Lập, quận Kiến Đức, quận Khiêm Đức và khu hành chính Đức Xuyên. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược và điều kiện chiến tranh, tháng 12 năm 1960, Trung ương đã quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức dựa trên sự phân chia địa giới của địch (lấy mật danh là B4), thuộc Liên tỉnh IV, do Liên khu V trực tiếp chỉ đạo; giữa năm 1961, tỉnh Quảng Đức do khu VI trực tiếp chỉ đạo.

Đầu năm 1962, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của Cách mạng, Trung ương quyết định giải thể tỉnh Quảng Đức, chuyển Đức Lập, Đức Xuyên nhập về tỉnh Đắk Lắk, Kiến Đức nhập về tỉnh Phước Long, Khiêm Đức nhập về tỉnh Lâm Đồng.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tháng 5/1975, thực hiện chủ trương của Trung ương, tỉnh Quảng Đức được thành lập lại, Chính quyền Cách mạng đã nhanh chóng chỉ đạo các cấp, các ngành ổn định tổ chức, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước phát triển kinh tế-xã hội. Tháng 11/1975, tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk.

Từ ngày 01/01/2004, tỉnh Đắk Nông được tái lập theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đắk Lắk.
Theo daknong.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Mùa Na vùng núi đá Lạng Sơn

Mùa Na vùng núi đá Lạng Sơn

Những ngày giữa tháng 8, trên các triền núi đá ở các xã Chi Lăng và Cai Kinh của tỉnh Lạng Sơn, không khí thu hoạch na diễn ra khẩn trương và tất bật. Xen giữa nhịp thu hoạch là công việc chăm sóc các diện tích na gối vụ, tạo nền tảng cho những lứa quả tiếp theo và hướng tới nâng cao giá trị cây na trên vùng núi đá.

Na núi đá – sinh kế trên vùng đất khó

Na núi đá – sinh kế trên vùng đất khó

Từ những khe đá khô cằn, cây na đã bén rễ và trở thành sinh kế của nhiều hộ dân phường Hà Giang 2, tỉnh Tuyên Quang. Sau hơn 30 năm, vùng na phát triển gần 60 ha, mang lại giá trị hàng chục tỷ đồng mỗi năm, đồng thời mở hướng liên kết sản xuất, tiêu thụ và du lịch nông nghiệp.

Phát huy giá trị văn hóa bản địa, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm OCOP

Phát huy giá trị văn hóa bản địa, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm OCOP

Trong giai đoạn 2026 - 2030, Tuyên Quang đặt mục tiêu có trên 450 sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) còn hiệu lực chứng nhận đạt từ 3 sao trở lên; phát triển mới khoảng 150 sản phẩm OCOP; trong đó, mỗi xã, phường có từ 1 - 3 sản phẩm mới được chứng nhận đạt từ 3 sao trở lên; có từ 5 sản phẩm OCOP đạt hạng 5 sao và tối thiểu 15% số sản phẩm OCOP còn hiệu lực được nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao.

Nỗ lực tìm đầu ra cho chè Liên Sơn

Nỗ lực tìm đầu ra cho chè Liên Sơn

Gần 500 ha chè, phần lớn là giống chất lượng cao, đang là nguồn sinh kế của hàng trăm hộ dân xã Liên Sơn, tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, thiếu cơ sở thu mua, chế biến khiến đầu ra bấp bênh. Địa phương đang nỗ lực thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết sản xuất, tiêu thụ, giúp người dân ổn định thu nhập và gắn bó với cây chè.

Khẩn trương khắc phục điểm sạt lở lớn trên Quốc lộ 24

Khẩn trương khắc phục điểm sạt lở lớn trên Quốc lộ 24

Do ảnh hưởng của mùa mưa bão năm 2025, nhiều vị trí xung yếu trên tuyến Quốc lộ 24 nối phía Đông và phía Tây tỉnh Quảng Ngãi bị sạt lở nghiêm trọng. Đến nay, phần lớn các vị trí đã được lực lượng chức năng xử lý, khắc phục, song tại vị trí Km 112 + 100 đến Km 112 + 200, do khối lượng đất đá lớn, công tác khắc phục vẫn đang được gấp rút triển khai trước mùa mưa bão năm 2026.

Mở ra chặng đường mới cho sự nghiệp giáo dục ở vùng cao

Mở ra chặng đường mới cho sự nghiệp giáo dục ở vùng cao

Sau gần một năm thi công, công trình Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã Lóng Phiêng - một trong 13 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới của tỉnh Sơn La được đầu tư xây dựng theo chủ trương của Đảng đã đạt trên 97% khối lượng. Gần 200 công nhân đang khẩn trương hoàn thiện các công đoạn cuối cùng để công trình sớm đưa vào sử dụng.

Cần sớm hoàn thành khu tái định cư Suối Lóp để người dân ổn định cuộc sống

Cần sớm hoàn thành khu tái định cư Suối Lóp để người dân ổn định cuộc sống

Ảnh hưởng từ nhiều đợt mưa lũ gây sạt lở taluy ở thôn Kang Kỷ, xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai khiến hơn 70 hộ dân cần phải di dời chỗ ở. Để đảm bảo an toàn cho người dân, tỉnh Lào Cai đã lập Dự án di dân khẩn cấp thôn Suối Lóp, thế nhưng đến nay dự án vẫn dang dở thi công khiến bà con chưa thể di chuyển đến nơi ở mới để làm nhà, ổn định cuộc sống.

Hơn 3.000 người chạy đua với thời gian xây trường vùng biên

Hơn 3.000 người chạy đua với thời gian xây trường vùng biên

Những ngày giữa tháng 8, tại 6 công trường xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp ở khu vực biên giới thành phố Đà Nẵng, nhịp thi công đang được đẩy lên cao. Hơn 3.000 cán bộ, công nhân, bộ đội, dân quân cùng hàng trăm máy móc, thiết bị được huy động, tổ chức thi công đồng loạt, nhiều hạng mục làm việc theo ca, tranh thủ cả ngày và đêm, với mục tiêu đưa những ngôi trường mới sớm hoàn thiện, phục vụ học sinh vùng biên trong năm học 2026-2027.

 'Cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự tuyến biên giới'

'Cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự tuyến biên giới'

Ngày 16/8, mô hình “Cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự tuyến biên giới” đã ra mắt với 11 tổ tại xã Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) nhằm gắn nhiệm vụ bảo vệ rừng với nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, phát huy vai trò tự quản, tự phòng, tự bảo vệ của cộng đồng dân cư.

Khám mắt và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân vùng biên

Khám mắt và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân vùng biên

Ngày 16/8, tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, các y bác sĩ Bệnh viện Mắt Hà Nội - Đồng Nai phối hợp với UBND xã Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) tổ chức khám các bệnh lý về mắt và cấp phát thuốc miễn phí cho hàng trăm người dân vùng biên giới.

Đồng bào vùng cao làm giàu từ nuôi ngựa

Đồng bào vùng cao làm giàu từ nuôi ngựa

Nuôi ngựa là hướng đi mới giúp nhiều gia đình thoát nghèo vươn lên làm giàu ở Lạng Sơn. Từ nuôi ngựa, một số gia đình đã có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Đà Nẵng đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hai trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới

Đà Nẵng đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hai trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới

Ưu tiên hoàn thành những hạng mục trực tiếp phục vụ khai giảng, tổ chức thi công liên tục, đồng bộ, bảo đảm chất lượng và tiến độ- Đó là yêu cầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng khi kiểm tra tiến độ thi công Dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở La Êê và La Dêê vào ngày 15/8.

Tiềm ẩn nguy cơ sạt lở ở các xã miền núi Nghệ An

Tiềm ẩn nguy cơ sạt lở ở các xã miền núi Nghệ An

Miền núi phía Tây Nghệ An có địa hình chủ yếu là đồi núi, cao dần về phía Tây và Tây Bắc, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao cùng hệ thống sông, suối dày đặc. Đặc điểm địa hình này khiến khu vực thường chịu tác động lớn của mưa lớn, lũ ống, lũ quét và sạt lở đất đá trong mùa mưa bão, gây thiệt hại về người, nhà cửa, tài sản và hạ tầng giao thông.

Bàn giao 876 mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN

Bàn giao 876 mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN

Ngày 14/8, Ban Chỉ đạo về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tỉnh Điện Biên bàn giao 876 mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ chưa xác định được danh tính cho Viện Pháp y Quân đội, Cục Quân y, Bộ Quốc phòng để phục vụ giám định ADN xác định danh tính liệt sĩ.

Tinh gọn bộ máy: Từng bước thích ứng với yêu cầu mới

Tinh gọn bộ máy: Từng bước thích ứng với yêu cầu mới

Sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, xã miền núi Minh Đài, tỉnh Phú Thọ đã từng bước ổn định tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động quản lý Nhà nước thông suốt, không để gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công.

Tạo nền tảng thế trận lòng dân nơi tuyến đầu Tổ quốc

Tạo nền tảng thế trận lòng dân nơi tuyến đầu Tổ quốc

Sau khi hợp nhất địa giới hành chính, Tây Ninh tiếp tục củng cố thế trận biên phòng toàn dân bằng việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Bộ đội Biên phòng giúp nhân dân xã biên giới Sì Lở Lầu trồng sâm Lai Châu

Bộ đội Biên phòng giúp nhân dân xã biên giới Sì Lở Lầu trồng sâm Lai Châu

Trong những năm qua, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ làm tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới mà còn luôn đồng hành hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào các dân tộc qua các mô hình phát triển nông nghiệp như: Trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung. Đặc biệt gần đây, lực lượng Biên phòng đã lựa chọn đưa cây sâm Lai Châu vào trồng tại bản Ngải Thầu, xã biên giới Sì Lở Lầu để tạo sinh kế cho người dân do phù hợp về thổ nhưỡng, khí hậu, đồng thời cũng đúng với định hướng phát triển cây dược liệu của tỉnh Lai Châu.

Xuất khẩu lao động giúp người dân miền núi Thanh Hóa giảm nghèo

Xuất khẩu lao động giúp người dân miền núi Thanh Hóa giảm nghèo

Nhiều năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã đẩy mạnh việc đưa người lao động của các xã miền núi đi làm việc ở nước ngoài. Nhiều người sau khi trở về đã có số vốn lớn để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, từ các thôn bản nghèo đang còn nhà cửa đơn sơ, tới nay đã xuất hiện nhiều ngôi nhà kiên cố, đời sống người dân đã ổn định hơn trước.

Bứt phá tiến độ, hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố nơi biên cương

Bứt phá tiến độ, hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố nơi biên cương

Nằm trong đại dự án 21 trường liên cấp với tổng mức đầu tư hơn 7.700 tỷ đồng, 10 công trình giai đoạn 1 tại các xã biên giới Nghệ An đang bước vào chặng nước rút quyết định. Dù đối mặt với vô vàn áp lực từ thời tiết khắc nghiệt đến điều chỉnh kỹ thuật do sạt lở, các mũi thi công vẫn căng mình bám công trường, đưa 9/10 dự án giai đoạn 1 đạt mốc 80-90% khối lượng. Sự đồng lòng ấy đang hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố, kịp thời đón các em nhỏ dân tộc thiểu số vào lớp đúng ngày khai giảng.

Định hướng phát triển dâu tằm tơ thành ngành kinh tế chủ lực

Định hướng phát triển dâu tằm tơ thành ngành kinh tế chủ lực

Trong chiến lược phát triển nông nghiệp, Cao Bằng xác định nghề trồng dâu, nuôi tằm là một hướng đi tiềm năng, có thể tạo sinh kế bền vững cho người dân và nâng cao giá trị kinh tế địa phương. Hiện toàn tỉnh có 31 xã, phường tham gia sản xuất với hơn 2.700 hộ, diện tích dâu hơn 1.200 ha, sản lượng kén đạt khoảng 829 tấn/năm. Có thể nói, Cao Bằng rất có tiềm năng để phát triển trồng dâu nuôi tằm, tuy nhiên, sản phẩm chủ yếu mới dừng ở khâu nguyên liệu, tiêu thụ qua thương lái, chưa có nhà máy chế biến sâu để hoàn thiện chuỗi giá trị.

Trăm năm sầu riêng Đắk Lắk - Bài 2: Để vị ngọt sầu riêng đi tiếp trăm năm

Trăm năm sầu riêng Đắk Lắk - Bài 2: Để vị ngọt sầu riêng đi tiếp trăm năm

Lập kỷ lục 3,86 tỷ USD trong năm 2025, sầu riêng tiếp tục dẫn đầu nhóm rau quả xuất khẩu của Việt Nam; riêng Đắk Lắk đóng góp khoảng 1,1 tỷ USD. Bảy tháng của năm 2026, cả nước đã xuất khẩu 493.000 tấn, thu về 950,7 triệu USD. Bước vào cao điểm thu hoạch tại Tây Nguyên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định kim ngạch cả năm chắc chắn vượt 4 tỷ USD.