Di sản văn hóa Dao trên sân khấu: Từ nghệ thuật đến du lịch bền vững

Với mục tiêu gìn giữ, trao truyền và quảng bá những giá trị văn hóa của người Dao, thông qua nghệ thuật trình diễn kết hợp công nghệ hiện đại như ánh sáng, sắp đặt sân khấu, 3D mapping, nhưng vẫn tôn trọng nguyên bản văn hóa…, vở diễn thực cảnh “Thiêng”, diễn ra tại Sân Quần (Sa Pa, Lào Cai), đã trở thành sự kiện đặc biệt, không chỉ bởi quy mô và công nghệ trình diễn hiện đại, mà bởi thông điệp sâu sắc về văn hóa, niềm tin và bản sắc dân tộc.

anh1-1011.jpg
Một cảnh trong vở diễn thực cảnh "Thiêng". Ảnh: BTC cung cấp

Bản giao hưởng đất, trời và con người

Lấy cảm hứng từ kho tàng văn hóa Dao đỏ ở Sa Pa, “Thiêng” là tác phẩm ca - múa - nhạc - trình diễn thị giác quy mô lớn, được xây dựng trên nền tảng nghi lễ truyền thống, diễn xướng dân gian và vũ điệu bản địa. Tác phẩm khắc họa hành trình của người Dao tìm về nguồn cội, nơi tín ngưỡng và thiên nhiên hòa làm một, nơi con người đối thoại với đất trời bằng ngôn ngữ của niềm tin. Đây là dự án nghệ thuật do Công ty Hexogon Việt Nam, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, Hiệp hội du lịch tỉnh Lào Cai, UBND phường Sa Pa, cùng với ê kíp nghệ sĩ và khoảng 80 đồng bào dân tộc Dao ở Sa Pa thực hiện.

Giữa lòng Sân Quần (Sa Pa), vở diễn“Thiêng” mở ra như một bản giao hưởng của đất, trời và con người. Trong tiếng trống, tiếng tù và, tiếng nước hòa cùng lời Páo dung trầm mặc, tiếng thiêng của những bài văn cúng... tạo nên một không gian đầy linh cảm, nơi con người đối thoại với đất trời. Trên sân khấu, các nghệ nhân và người dân Dao đỏ cùng dàn diễn viên chuyên nghiệp, quan những làn điệu dân ca, dân nhạc, dân vũ, cho đến trang phục, nghi lễ… đã tái hiện lại vẻ đẹp của thiên nhiên gắn với đời sống văn hóa của đồng bào người Dao: Từ màu nâu đất ấm trong cảnh “Tìm đất, lập bản”, màu lam phảng phất trong “Cầu mưa”, sắc lửa rực hồng trong “Bếp thiêng” và thứ ánh sáng trắng thanh khiết khi 12 ngọn đèn cấp sắc bừng lên giữa màn sương Sa Pa. Những bức tranh thờ, những mảng đỏ biểu tượng, những đường nét bản địa được tôn lên bằng ánh sáng… tất cả như hơi thở của núi rừng hóa thành nghệ thuật, dẫn dắt người xem qua một hành trình tâm linh: Đất - Nước - Lửa - Tình yêu -Thiêng và Kết - hành trình con người Dao tìm lại niềm tin vào Đạo tổ và linh khí của đất trời.

Một trong những thành công lớn nhất của “Thiêng” là cách làm nghệ thuật dựa trên tinh thần “đồng sáng tạo với cộng đồng”. Với hơn 80% người tham gia là nghệ nhân và đồng bào Dao đỏ tại Sa Pa, mỗi bước múa, mỗi lời ca, mỗi nghi lễ đều xuất phát từ chính đời sống văn hóa của họ.

Ông Hà Văn Thắng, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai, tác giả kịch bản chia sẻ, ông không tái hiện một cách đơn thuần, mà để chính người Dao kể lại câu chuyện của họ. Khi họ hát Páo dung, thực hiện nghi lễ cấp sắc hay thực hành những nét văn hóa của mình trên sân khấu, họ đang sống trong văn hóa, chứ không “diễn” nó…

anh2-1011.jpg
Một cảnh trong vở diễn thực cảnh "Thiêng". Ảnh: BTC cung cấp

Với đạo diễn Đặng Xuân Trường, “Thiêng” không chỉ là một show diễn, đó là một hành trình để sống cùng văn hóa Dao, nơi ánh sáng, âm thanh và con người cùng cất lên tiếng nói thiêng liêng về cội nguồn, về những giá trị được gìn giữ qua bao thế hệ. Đạo diễn Đặng Xuân Trường chia sẻ, “Thiêng” là cuộc đối thoại giữa ánh sáng và niềm tin, mọi yếu tố ánh sáng, khói, nhạc, chuyển động… đều được thiết kế như những biểu tượng, đối thoại với khán giả. Sự kết hợp giữa ngôn ngữ sân khấu đương đại và nghi lễ truyền thống tạo ra cho “Thiêng” một không gian trình diễn hiếm có: nơi công nghệ 3D mapping, hiệu ứng khói, laser, ánh sáng kết hợp hài hòa với vũ điệu, sắc phục, lời ca và tâm thức người Dao đỏ.

Trên nền không gian đặc biệt của Sân Quần - nơi giao hòa giữa kiến trúc nhà thờ đá và núi rừng Sa Pa - đạo diễn Đặng Xuân Trường đã biến sân khấu thành bức họa ánh sáng khổng lồ, khi ánh sáng xoáy tròn trong làn khói trắng, hình tượng rồng hiện ra, phun nước làm mưa; khi đàn lễ bùng cháy giữa sân khấu; khi tiếng tù và vọng lên từ sâu trong đêm… cả không gian như chìm trong một nghi lễ thiêng, như đang dự lễ cấp sắc của chính cộng đồng. “Thiêng” vì thế trở thành minh chứng sinh động cho sự giao thoa hài hòa giữa tâm linh và công nghệ, di sản và sáng tạo, quá khứ và hiện tại.

Từ nghệ thuật đến du lịch bền vững

Với người dân Sa Pa và du khách, câu chuyện về một show nghệ thuật sinh ra từ chính lòng dân, kể về chính họ… đã để lại những ấn tượng sâu sắc. Họa sĩ Thu Hà, đến từ Hà Nội chia sẻ, chị đã đến Sa Pa nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên một chương trình khiến chị xúc động đến vậy. Cảm giác như đang được dự một nghi lễ thật, rất linh thiêng. Điều đó khiến chị muốn tìm hiểu nhiều hơn về văn hóa của người Dao.

“Thiêng” cũng trở thành một bài học quý về cội nguồn, khơi dậy niềm tự hào dân tộc với thế hệ trẻ người Dao ở Sa Pa. Chảo Láo Tả, một thanh niên Dao đỏ đã được cấp sắc 3 đèn chia sẻ, với anh, “Thiêng” không chỉ là một chương trình nghệ thuật, mà là một bài học để trở về với cội nguồn. Những nghi lễ như tìm đất, cầu mưa, nhóm lửa, cấp sắc... đều là các phần thiêng trong đời sống, khi được khâu nối lại bằng ngôn ngữ sân khấu, ánh sáng, âm nhạc, tất cả trở nên vừa gần gũi, vừa choáng ngợp.

“Là người dân tộc Dao, nhiều năm nay, tôi thấy văn hóa Dao dần bị mai một, người trẻ chưa hiểu hết cái hay, cái đẹp nên dễ bỏ qua hoặc coi là phiền toái. Khi xem lại, tôi thực sự xúc động, không ngờ những điều thân thuộc ấy lại có thể đẹp đến thế. “Thiêng” đã giúp chúng tôi nhìn lại và tự hào hơn với di sản của mình”, Chảo Láo Tả nói.

Với Mẩy Vy, đảm nhiệm vai trò dẫn chuyện trong vở diễn, “Thiêng” là một trải nghiệm không thể quên, bởi ở đó, văn hóa của đồng bào Dao không chỉ được tái hiện, còn được nâng lên, lung linh và sống động. Đó cũng là khoảnh khắc giúp Mẩy Vy hiểu sâu hơn về nguồn cội và thấy tự hào vì được là người Dao…

Không chỉ là một chương trình sân khấu, “Thiêng” là một sản phẩm văn hóa du lịch, kết tinh giữa sáng tạo của nghệ sĩ và niềm tự hào của cộng đồng, mở ra hướng đi mới trong phát triển du lịch văn hóa Sa Pa, đó là biến di sản thành sản phẩm văn hóa - du lịch có giá trị, tạo sinh kế từ vốn văn hóa của chính đồng bào. Vở diễn thực cảnh “Thiêng” đã mang đến cho mảnh đất Sa Pa thêm một sản phẩm nghệ thuật biểu diễn phục vụ du lịch, được kiến tạo từ chính chất liệu của đời sống bản địa. Nhiều du khách nước ngoài sau khi xem show diễn đã chia sẻ, đêm diễn xứng đáng để trải nghiệm.

anh3-1011.jpg
Một cảnh trong vờ diễn thực cảnh "Thiêng". Ảnh: BTC

Ngay trong đêm công diễn đầu tiên, ê kíp thực hiện đã nhận được những lời cảm ơn thành tâm của đồng bào người Dao và du khách trong và ngoài nước. Ông Ngô Xuân Minh, Giám đốc Công ty Hexogon Việt Nam, đơn vị tổ chức thực hiện chương trình xúc động chia sẻ, khi bà con người Dao nói cảm ơn vì đã cho họ một đêm diễn mãn nhãn, khi du khách chia sẻ về cảm xúc họ có được, ông thấy mọi vất vả suốt cả năm trời, những đêm không ngủ, những ngày mưa sương dày đặc… đều xứng đáng.

Thành công của “Thiêng” cho thấy sức mạnh của mô hình nghệ thuật cộng đồng: nghệ nhân là chủ thể, nghệ sĩ là người đồng hành, công nghệ là cánh tay nối dài của văn hóa. Đây cũng là cách để văn hóa bản địa không chỉ được giữ gìn, mà còn trở thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai đánh giá cao dự án nghệ thuật này, bởi lẽ, với việc đưa các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào vào trong show diễn, từ các làn điệu dân ca, dân nhạc, dân vũ, cho đến trang phục, nghi lễ… chương trình vừa góp phần bảo tồn, tái hiện những cái giá trị văn hóa truyền thống, vừa tạo thêm sinh kế cho đồng bào. Với tư cách là chủ thể văn hóa tham gia vào chương trình, đồng bào dân tộc ở địa phương sẽ có thêm nguồn thu nhập để cải thiện đời sống, địa phương có thêm sản phẩm du lịch để giới thiệu với du khách…/.

Phương Lan/TTXVN
Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao

Có thể bạn quan tâm

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Sáng 22/10, Lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường năm 2026 với chủ đề “Đền Đôi Cô Cam Đường - Kết nối cội nguồn, dựng xây quê hương” do phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai tổ chức đã chính thức được khai hội thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái. Lễ hội là sự kiện văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy giá trị di tích, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và quảng bá hình ảnh phường Cam Đường đến với du khách trong và ngoài tỉnh.

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gắn với lao động sản xuất, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, nghệ thuật múa dân gian của người Cống ở Điện Biên vừa lưu giữ những giá trị văn hóa đặc trưng, vừa phản ánh đời sống của một dân tộc rất ít người. Việc nghệ thuật múa của người Cống được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể mở thêm cơ hội bảo tồn, trao truyền các điệu múa truyền thống, nhất là cho thế hệ trẻ.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Hằng năm, vào ngày Mão tháng Chín âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai tổ chức Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông nhằm tổng kết một năm lao động, sản xuất, bày tỏ lòng tri ân với Mẫu Thượng Ngàn, các đấng thần linh và tổ tiên đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Năm 2026, ngày Đinh Mão (11/9 âm lịch), tức ngày 20/10 dương lịch là ngày chính lễ với nhiều nghi thức truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của người Tày Khao.

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Lự năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Lự”, UBND xã Khun Há (Lai Châu) tổ chức tái hiện lễ hội Sú Khon Khoài, với điểm nhấn là nghi thức cúng hồn trâu.

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Tối 16/10, tại tỉnh Lào Cai, Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 với chủ đề “Tinh hoa Xòe Thái - Sắc màu Tây Bắc” được khai mạc, với điểm nhấn là màn biểu diễn đại Xòe có sự góp mặt của 2.026 người.

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Nằm ở thôn Phú Hạnh, xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, đồi Cổ Thạch thu hút du khách bởi cảnh quan núi biển giao hòa, con đường đá được người dân truyền lại là có từ hàng trăm năm trước cùng rừng duối lâu năm.

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.