Vào đầu mùa Thu, đất trời Lào Cai dường như đã được bao bọc bởi sắc vàng. Những thửa ruộng bậc thang trải dài trên sườn núi bắt đầu ngả dần từ sắc xanh ngọc bích sang sắc vàng óng ánh.
Đồi Móng ngựa ở xã Mù Cang Chải trải dài trên triền đồi, mềm mại và uyển chuyển như những dải lụa vàng. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN
Trong mùa vàng, các bản làng rộn ràng với những lễ hội giàu bản sắc và hoạt động văn du lịch cộng đồng gắn với mùa lúa chín, thu hút đông đảo du khách tham quan, trải nghiệm.
Sức hút từ mùa vàng no ấm
Ẩn sau vẻ đẹp của các thửa ruộng bậc thang nơi rẻo cao là tầng tầng, lớp lớp các câu chuyện về tri thức canh tác nông nghiệp độc đáo và tinh thần lao động cần cù để xây nên những mùa màng no ấm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc. Đó cũng là chiều sâu làm nên sức hấp dẫn của văn hóa các vùng đất du lịch ở Lào Cai.
Mùa lúa ở Y Tý luôn là cảm hứng bất tận cho những sáng tác của nghệ sĩ nhiếp ảnh và du khách mọi miền mỗi khi có dịp đến nơi đây. Mỗi thời điểm trong ngày, những tràn ruộng ở Y Tý lại toát lên vẻ đẹp riêng có. Nếu như bình minh, nơi đây dịu dàng như "nàng thơ", thì khi hoàng hôn buông xuống nơi đây như khoác lên mình một tấm áo lộng lẫy, biến đổi sắc màu kỳ ảo theo từng phút giây, đẹp như bức tranh vẽ.
Những thửa ruộng bậc thang ở đây được thành hình từ bao thế hệ bởi bàn tay lao động siêng năng, phương thức canh tác khoa học của đồng bào Hà Nhì. Anh Phu Chuy Thó, thôn Mò Phú Chải cho biết: Người Hà Nhì biết chọn các khe nước, có nguồn nước ổn định và vị trí khe nước này có địa hình phù hợp để dẫn nước chảy vào những thửa ruộng bậc thang đầu tiên và dần dần xuống thửa ruộng tiếp theo. Nước từ khe suối chảy vào ruộng bậc thang đầu tiên có một độ dốc rất nhỏ để khi nước chảy qua ruộng sẽ không gây bào mòn mất chất màu mỡ. Công việc điều tiết tưới tiêu khoa học nên hầu như canh tác ruộng bậc thang không bao giờ bị úng, lụt. Với địa hình và cấu trúc như thế, người dân tộc ở những nơi đây không dùng bón phân hóa học, thuốc trừ sâu,… cho cây lúa; hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên.
Thu về, cả đất trời Púng Luông rực màu vàng no ấm trên những thửa ruộng bậc thang xen giữa đại ngàn xanh thẳm. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN
Những ngày này, trên các cánh đồng ở xã Sín Chéng, mùa lúa chín trải rộng tít tắp. Đối với nhiều du khách, Sín Chéng lộng lẫy nhất là vào mùa lúa, bởi thời điểm này, cả vùng núi được tô thắm bởi sắc xanh xen vàng của từng sóng ruộng nối tiếp nhau. Sín Chéng mùa lúa chín như thiếu nữ đang căng tràn sức sống, mang trong mình không chỉ vẻ đẹp, mà còn là sự đủ đầy.
Lễ hội Mùa vàng Sín Chéng – Âm vang điệu Khèn diễn ra ngày 15/7 vừa qua đã thu hút gần 5.000 lượt người dân và du khách tham gia. Nhiều du khách tới đây không giấu được sự yêu thích đặc biệt với vùng đất tươi đẹp và giàu bản sắc văn hóa này.
Ông Lê Tiến Hưng, du khách đến từ thành phố Hải Phòng cùng gia đình tham quan, trải nghiệm tại "cao nguyên trắng" Bắc Hà và trong ngày nghỉ cuối quyết định lên Sín Chéng tham gia lễ hội. Ông nói, thời điểm đẹp nhất để ngắm cảnh và chụp ảnh lúa là lúc bình minh hoặc buổi chiều tà. Từng thửa ruộng nổi bật với sắc xanh, đôi chỗ điểm vàng đẹp tươi tắn như bảng màu hội họa thơ mộng, mang đến cảm giác no ấm, sung túc. Lúc đầu ông khá băn khoăn vì cái tên Sín Chéng còn chưa được nhắc đến nhiều trong hành trình du lịch Lào Cai nhưng khi đến tận nơi ông cảm thấy vô cùng xứng đáng vì kết quả mỹ mãn cho chuyến đi ngoài dự kiến.
Nâng tầm trải nghiệm
Lào Cai có nhiều danh thắng ruộng bậc thang cấp quốc gia ở Tả Van, Mù Cang Chải, Y Tý... Tại các điếm đến, người dân không chỉ đơn thuần đi trekking, ngắm cảnh mà còn được tham gia các hoạt động trải nghiệm độc đáo về văn hóa, thể thao.
Những thửa ruộng bậc thang ở xã Mù Cang Chải vào độ chín vàng thu hút hàng nghìn du khách và nhiếp ảnh gia. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN
Phó Chủ tịch UBND xã Sín Chéng Lê Đình Nghiệp thông tin, không chỉ được thiên nhiên ưu đãi với những cánh đồng bậc thang trải dài, khí hậu trong lành, cảnh quan nguyên sơ, Sín Chéng còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa độc đáo. Lễ hội Mùa vàng Sín Chéng – Âm vang điệu Khèn diễn ra nhiều hoạt động phong phú như biểu diễn nghệ thuật khèn Mông, các trò chơi dân gian, thi ẩm thực, trình diễn trang phục dân tộc, tham quan chợ văn hóa, nhà cổ, hang động và nhiều hoạt động trải nghiệm hấp dẫn khác đã mang đến cho du khách những cảm nhận chân thực về vẻ đẹp thiên nhiên, con người và bản sắc văn hóa của Sín Chéng.
Chị Hoàng Thu Hương và bạn bè đến từ Gia Lai tỏ ra rất thích thú khi được tham gia trải nghiệm nghề dệt vải của người Thu Lao - một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đã được trao truyền gìn giữ qua nhiều thế hệ. Chị được tự tay hái bông, tách hạt, se sợi... và cầm trên tay tấm vải thành phẩm khiến chị thêm hiểu và yêu quý, trân trọng vẻ đẹp mộc mạc, giàu bản sắc của đồng bào dân tộc địa phương.
Điều khiến nhiều du khách nước ngoài yêu thích Tả Van - ngôi làng được mệnh danh đẹp nhất châu Á chính là cảm giác được hòa mình vào cuộc sống của người dân bản địa, thức dậy giữa bản làng yên bình trong một căn homestay mộc mạc với tầm nhìn mở rộng ra thửa ruộng bậc thang thơ mộng.
Du khách từ khắp nơi đổ về, háo hức ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ và đắm mình trong vẻ đẹp của mùa lúa chín. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN
Gia đình anh Lucas Petit (du khách Pháp) đã lưu trú tại homestay CơmLam Eco House được gần 1 tháng. Trong khoảng thời gian này, anh cùng chủ nhà nấu ăn, trải nghiệm sinh hoạt văn nghệ, tìm hiểu phong tục tập quán địa phương. Điều khiến anh ấn tượng nhất không phải chỉ là thời tiết ôn hòa, cảnh đẹp nguyên sơ, mà là con người nơi đây với bản sắc văn hóa độc đáo, tính cách thân thiện, gần gũi cùng ẩm thực phong phú, hấp dẫn.
Chị Vàng Thị Nguyên, chủ homestay CơmLam Eco House chia sẻ: Nhiều đoàn khách lưu trú khá lâu bởi họ không chỉ đến để ngắm ruộng bậc thang mà còn muốn thưởng thức ẩm thực, trải nghiệm cuộc sống cùng người dân địa phương. Đó cũng là động lực để chúng tôi gìn giữ bản sắc đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ du khách.
Trong mùa lúa chín, nếu như Tả Van gia tăng giá trị điểm đến bởi sự phát triển du lịch cộng đồng giàu bản sắc thị Mường Bo lại níu chân du khách bởi một sản phẩm du lịch - thể thao mới: Đạp xe giữa biển lúa vàng. Không chỉ là sân chơi của gần 200 vận động viên, vừa qua, Giải đua xe đạp địa hình "Mường Bo X-Rice - Vút bay trên sóng lúa vàng - LCC10" được tổ chức đã thực sự tạo nên ngày hội của khách du lịch và người dân địa phương. Điểm nhấn chính là cung đường hỗn hợp dài khoảng 25km, đưa các tay đua băng qua những thửa ruộng bậc thang đang chuyển vàng, men theo bản làng, vượt suối, chinh phục những con dốc đá và các khúc cua gấp đặc trưng của vùng cao.
Từng thửa ruộng bậc thang nối nhau như sóng vàng mềm mại trải dài đến tận chân trời. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN
Với nhiều vận động viên, Mường Bo là một cung đường đua giàu cảm xúc nhất từng trải nghiệm. Anh Lê Văn Thuần, thành viên Câu lạc bộ Xe đạp thể thao Sóc Sơn (Hà Nội) chia sẻ, lần đầu tham gia giải đấu tại Mường Bo, anh ấn tượng bởi cung đường đẹp nhưng đầy thử thách. Dọc đường là những thửa ruộng bậc thang vàng óng, đầy sức sống. Cảm giác về đích giữa khung cảnh thiên nhiên vùng cao kỳ vỹ rất đặc biệt.
Theo ông Nguyễn Trung Kiên, Bí thư Đảng ủy xã Mường Bo, mục tiêu của địa phương không chỉ là tổ chức một giải đấu thành công mà còn quảng bá cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa và các sản phẩm du lịch đặc trưng của Mường Bo và hướng đến xây dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm mới gắn với mùa lúa chín hằng năm.
Giai đoạn 2026 - 2030, Lào Cai đặt mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xây dựng địa phương trở thành trung tâm du lịch bốn mùa của cả nước với thương hiệu "Nơi hội tụ sắc màu Tây Bắc". Địa phương xác định bên cạnh việc chú trọng phát triển sản phẩm mới sẽ tiếp tục nâng tầm tài nguyên có sẵn nhằm gia tăng giá trị các điểm đến, đưa văn hóa bản địa trở thành giá trị cốt lõi, tạo lợi thế để phát triển du lịch bền vững và nâng cao sức cạnh tranh trong giai đoạn mới./.
Tên tự gọi: Hà Nhi gia.
Tên gọi khác: U Ní, Xá U Ní.
Nhóm địa phương: Hà Nhì, Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì đen.
Dân số: 21.725 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.
Lịch sử: Cư dân Hà Nhì đã từng sinh sống lâu đời ở nam Trung Quốc và Việt Nam. Từ thế kỷ thứ 8, thư tịch cổ đã viết về sự có mặt của họ ở Tây Bắc Việt Nam. Nhưng phần lớn tổ tiên người Hà Nhì hiện nay là lớp cư dân di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trở lại đây.
Hoạt động sản xuất: Người Hà Nhì sớm biết trồng lúa trên ruộng bậc thang. Họ giỏi việc khai khẩn tạo nên những thửa ruộng trên sườn núi dốc với những mương dẫn nước khéo léo. Họ quen dùng phân chuồng và phân tro trong canh tác lúa nước; đồng thời cũng làm nương cày hoặc nương cuốc để trồng ngô hoặc rau đậu, bầu, bí, bông, chàm...
Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo lối chăn thả tự nhiên. Ðàn trâu nuôi thả rông trong rừng có đến hàng trăm con.
Nghề trồng bông, dệt vải đảm bảo nhu cầu vải mặc truyền thống. Có nơi do khí hậu lạnh nên không trồng được bông phải đem các sản phẩm như chàm, đồ đan, gia cầm đổi lấy bông. Phụ nữ dệt vải trên khung cửi nhỏ, khổ 20 cm. Vải bền do kỹ thuật dệt đo được nhuộm chàm nhiều lần. Trồng chàm và nhuộm chàm là một hoạt động rất đặc sắc ở người Hà Nhì.
Hái lượm còn chiếm vị trí đáng kể trong đời sống hàng ngày.
Ăn: Người Hà Nhì quen dùng cả cơm nếp và cơm tẻ trong các bữa ăn hàng ngày. Thực phẩm chủ yếu được cung cấp từ săn bắt, đánh cá, hái lượm. Vào dịp lễ tết, họ thường làm nhiều loại bánh, ưa dùng thịt nướng, thịt xào và đặc biệt thích ăn cháo ám nấu với thịt gà hoặc thịt lợn.
Ở: Họ quần cư chủ yếu trên dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào thuộc các huyện Bát Xát (Lào Cai), Mường Tè (Lai Châu). Bộ phận làm ruộng bậc thang, nương định canh từ lâu đã sống định cư. Nhiều bản có tuổi trên 100 năm, đông tới 50, 60 hộ. Những nơi làm nương, bản thường phân tán rải rác theo nương.
Ða số cư dân ở nhà đất, tường trình chắc chắn, dày tới 30-40cm, thích hợp với khí hậu lạnh vùng núi cao. Tuỳ từng nơi, nhà có hàng hiên phía trước hoặc hàng hiên ở ngay trong nhà để tránh gió rét. Họ quen nấu cơm bằng chảo ở bếp lò xây trên nền đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Hà Nhì phổ biến dùng gùi đeo qua trán, một số nơi dùng ngựa trong việc đi lại và chuyên trở.
Quan hệ xã hội: Tính cộng đồng trong làng bản biểu hiện khá tập trung không chỉ trong sản xuất mà cả trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng.
Gia đình nhỏ phụ quyền song người phụ nữ vẫn được trân trọng trong xã hội. Có nhiều họ khác nhau, mỗi họ lại chia ra thành nhiều chi. Tên chi gọi theo tên ông tổ.
Người Hà Nhì không có tục thờ cúng chung toàn dòng họ mà chỉ thờ cúng theo gia đình. Việc thờ cúng do con trai cả, dòng trưởng đảm nhận. Nếu dòng trưởng không có người thừa kế thì việc thờ cúng chuyển cho con trai út. Các thành viên trong gia đình, dù đã ra ở riêng, nếu bị chết phải đưa xác về quàn tại trước bàn thờ bố mẹ thì người quá cố mới được thờ cúng chung với tổ tiên.
Hàng năm vào tối 30 tết, một nghi lễ rất quan trọng trong gia đình được thực hiện. Ðó là lễ tưởng nhớ tổ tiên dòng họ, đọc tên từng tổ tiên và mọi người cùng nhắc lại. Tên từng người được gọi theo cách gọi phụ tử liên danh, tên cha nối với tên con, nên có vần điệu dễ nhớ. Có họ nhắc tới 71 tên gọi trong buổi lễ này. Có nơi nghi lễ này cũng được thực hiện trong lễ nhập quan cho người chết.
Cưới xin: Tuỳ từng vùng phong tục cưới xin khác nhau nhưng một điểm chung nhất là các cuộc hôn nhân do trai gái tự tìm hiểu. Ở vùng Bát Xát (Lào Cai), cưới qua nhiều bước. Sau ba lần dạm hỏi, lễ cưới thứ nhất được tổ chức nhằm đưa con dâu về nhà chồng. Lần cưới thứ hai ăn uống linh đình ở nhà gái. Lễ này chỉ diễn ra sau khi đôi vợ chồng làm ăn khá giả, lúc đó họ đã có con, cháu, có người 50-60 năm sau hoặc cho đến khi chết vẫn chưa tổ chức được lễ cưới này. Ở Tây Bắc, sau lễ hỏi, con rể đến ở rể. Nếu trả ngay tiền cưới thì không phải ở rể, lễ cưới được tổ chức ngay, từ đó con dâu mang họ của chồng.
Sinh đẻ: Phụ nữ Hà Nhì đẻ đứng. Ðể dễ đẻ họ có tục đập vỡ ống bương đựng nước cho nước toé ra hoặc thả ống bương nước trong có cái đục từ trên đỉnh nóc nhà xuống, đục bắn ra giống như đứa trẻ được đẻ ra. Có nơi sản phụ được uống nước tro của ruột voi với mong muốn sản phụ có sức mạnh như voi. Rau đẻ được chôn ở ngay sau cửa ra vào hay cột cạnh bếp lò.
Nhà có trẻ mới sinh được báo hiệu bằng chiếc nón úp trên cọc ở trước cửa, nếu cọc ở phía bên phải - sinh con gái, bên trái - sinh con trai.
Ma chay: Quan tài bằng thân cây khoét rỗng, có nắp đậy kín. Nơi đào huyệt được chọn bằng cách ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào ở đấy. Kiêng chôn vào mùa mưa, vào thời điểm đó quan tài người chết được treo xuống huyệt nhưng không lấp, bên trên có nhà táng hoặc đặt trên giàn. Hết mùa mưa mới đem chôn quan tài có người chết.
Thờ cúng: Họ tin có linh hồn, thờ cúng tổ tiên, cúng bản và các nghi lễ nông nghiệp.
Lễ tết: Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch. Trong năm còn có Tết cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7.
Học: Người Hà Nhì chưa có chữ viết riêng, việc giáo dục chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác.
Văn nghệ: Người Hà Nhì có nền văn học dân gian với nhiều thể loại như truyện thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ...
Dân ca, dân vũ là những hình thức văn nghệ được mọi lứa tuổi ưa thích.
Các loại nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi, sáo.
Chơi: Trẻ em Hà Nhì thích chơi các trò chơi đòi hỏi lòng dũng cảm, khéo léo như đấu vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay.
Theo cema.gov.vn