Gìn giữ nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm của người Dao Thanh Y

Nếu như người đàn ông đóng vai trụ cột trong đời sống của người Dao Thanh Y thì phụ nữ ở dân tộc này lại nắm giữ những giá trị không thể thay thế, là người nuôi dưỡng phát huy nguồn văn hóa truyền thống trong mỗi gia đình và rộng hơn là bản sắc của cả một dân tộc. Một trong những nét văn hóa của phụ nữ Dao Thanh Y ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh còn giữ lại được là nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm, thể hiện sự khéo léo, tài tình của phụ nữ.

det-theu-1.jpg
Phụ nữ Dao Thanh Y ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh vẫn còn giữ được nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm truyền thống. Ảnh: Hương Hiền.
det-theu-4.jpg
Sợi được chọn lọc, chuốt kỹ càng trước khi đưa vào công đoạn thêu, dệt. Ảnh: Hương Hiền.
det-theu-3.jpg
Xã Thượng Yên Công từ nhiều năm nay đã hình thành tổ thêu thổ cẩm Dao Thanh Y và tổ dệt dây lưng người Dao để gìn giữ nghề truyền thống. Ảnh: Hương Hiền.
det-theu-13.jpg
Với dụng cụ hết sức thô sơ như ống tre, thanh tre, người phụ nữ Dao Thanh Y đã thêu, dệt lên những bộ trang phục tinh tế. Ảnh: Hương Hiền.

Người Dao Thanh Y quan niệm, những cô gái giỏi giang khéo tay phải được thể hiện qua chính các bộ trang phục truyền thống nhiều sắc màu, kỳ công; hoa văn hài hòa… Từ các chất liệu thổ cẩm, rồi tơ tằm hoặc những sợi len cùng với dụng cụ thô sơ như ống thanh tre, người phụ nữ Dao Thanh Y đã thêu, dệt lên những bộ trang phục tinh tế, chắc chắn, đẹp rực rỡ. Trang phục người Dao Thanh Y còn là của hồi môn dành cho con gái…

det-theu-5.jpg
Các công cụ dệt đều được chế tạo thủ công và phục vụ cho việc dệt vải bằng tay nhưng đã cho ra nhiều sản phẩm đẹp mắt. Đặc biệt dây lưng của phụ nữ Dao Thanh Y được dệt bằng chỉ đỏ pha chỉ đen và vàng, hai đầu có tua dài, dây lưng dài 180 cm - 200 cm, rộng 5 cm - 7cm. Ảnh: Hương Hiền.

Trang phục của bà con Dao Thanh Y ở Quảng Ninh cũng rất đa dạng. Trong lễ cưới hỏi, cô dâu, chú rể diện lễ phục thổ cẩm Dao Thanh Y rực rỡ, điểm xuyết bởi dây thắt lưng, mũ đội đầu và các vòng bạc trang trí. Trang phục lễ tết thì sặc sỡ, nhiều màu sắc. Dịp làm lễ hoặc ma chay nổi bật là trang phục của thầy mo có thêm áo rồng trang nghiêm, uy nghi…

det-theu-12.jpg
Màu sắc của bộ trang phục Dao Thanh Y cũng rất phong phú, như vàng, đen, trắng, xanh, đỏ kết hợp được trên nền vải đen, hội tụ đủ ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ảnh: Hương Hiền.

Màu sắc của bộ trang phục cũng rất phong phú, như vàng, đen, trắng, xanh, đỏ kết hợp được trên nền vải đen, hội tụ đủ ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Mỗi màu sắc ấy lại tượng trưng cho tư tưởng tâm linh của đồng bào dân tộc Dao Thanh Y, rằng nếu mặc trang phục sắc màu sặc sỡ sẽ tránh được thú dữ, bởi thú có dữ đến đâu cũng vẫn yêu cái đẹp. Điều này cho thấy một nếp nghĩ, tâm hồn đẹp của những con người quanh năm cuộc đời gắn bó với núi rừng.

det-theu-7.jpg
Bà Lý Thị Mai thường ngồi miệt mài, tâm huyết bên những sắc màu xanh đỏ để dệt và thêu những bộ trang phục truyền thống Dao Thanh Y. Ảnh: Hương Hiền.

Tại thôn Khe Sú 1 xã Thượng Yên Công, TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, hàng ngày người ta vẫn nhìn thấy bà Lý Thị Mai ngồi bên những sắc màu xanh đỏ để dệt và thêu những bộ trang phục truyền thống. Người phụ nữ đã ngoài 70 tuổi không chỉ giữ được đam mê cho bản thân mà rất tâm huyết trọng việc dạy nghề cho những ai có nhu cầu đến học. Bà cũng là người năng nổ trong tổ thêu thổ cẩm dao Thanh Y và tổ dệt dây lung người Dao trên địa bàn xã. Cứ vậy, từ bà truyền cho mẹ, mẹ lại dạy cho con, không có một sách vở nào ghi lại quy trình cụ thể, nhưng người Dao vẫn có những cách thức riêng của mình để lưu giữ văn hóa truyền thống dân tộc.

det-theu-6.jpg
Bà Lý Thị Mai rất tâm huyết trong việc truyền dạy thêu, dệt thổ cẩm của người Dao Thanh Y. Ảnh: Hương Hiền.

Bà Mai là người thêu thắt lưng, khăn đội đầu của người Dao rất giỏi. Bà chia sẻ: "Tôi biết dệt từ năm 16 tuổi đến giờ. Tôi đã truyền dạy được cho hơn 30 người biết dệt thắt lưng trang phục dân tộc tôi. Dạy được cho các cháu biết đến dệt truyền thống mình vui, phấn khởi lắm vì đã giữ được bản sắc dân tộc ngày xưa. Tôi mong con cháu của tôi cũng biết làm, lưu giữ để cái nghề của mình nó không thể quên đi".

det-theu-10.jpg
Người phụ nữ Dao Thanh Y thành thục kỹ năng thêu thùa vì rèn luyện từ nhỏ. Ở một số nơi còn có phong tục mỗi cô gái Dao trước khi đi lấy chồng đều tự thêu cho mình một bộ trang phục cưới. Ảnh: Hương Hiền.
det-theu-9.jpg
Những tổ thêu thổ cẩm Dao Thanh Y và dệt dây lưng người Dao vừa giúp gìn giữ văn hóa truyền thống vừa giúp chị em gắn kết, học hỏi nhau từ đường kim, mũi chỉ cho đến làm kinh tế và kinh nghiệm cuộc sống gia đình. Ảnh: Hương Hiền

Kỹ năng thêu dệt phối màu sắc được người phụ nữ Dao Thanh Y rèn luyện từ nhỏ, vì vậy họ thành thục và điêu luyện với từng đường kim mũi chỉ, các họa tiết trên trang phục chủ yếu thêu vo bằng tay mà không cần kẻ vẽ, tạo hình từ trước.

det-theu-11.jpg
Phụ nữ Dao Thanh Y miệt mài dệt từng chiếc dây đai, thêu từng mũi kim sợi chỉ cho ra những bộ trang phục rực rỡ sắc màu. Ảnh: Hương Hiền

Những đôi tay khéo léo của những người bà, người mẹ Dao Thanh Y vẫn miệt mài dệt từng chiếc dây đai, thêu từng mũi kim sợi chỉ cho ra những bộ trang phục rực rỡ sắc màu, vừa để mặc trong những dịp lễ hội, vừa làm “của hồi môn cho con gái” và quan trọng hơn cả, họ truyền dạy cho thế hệ đi sau gìn giữ gốc gác từ những điều bình dị nhất.

det-theu-8.jpg
Những sản phẩm thổ cẩm tinh xảo từ từng đường kim, mũi chỉ. Các họa tiết trên trang phục chủ yếu thêu vo bằng tay của phụ nữ Dao Thanh Y mà không cần kẻ vẽ, tạo hình từ trước. Ảnh: Hương Hiền

Bà Hoàng Thị Thân thôn Khe Sú 1 cho biết: Từ nhiều năm nay ở đây chúng tôi đã hình thành tổ thêu thổ cẩm Dao Thanh Y và tổ dệt dây lưng người Dao. Tổ thêu, dệt ngoài việc tạo ra các sản phẩm truyền thống, chúng tôi còn có trách nhiệm truyền dạy cho lớp trẻ và những ai muốn đến học thêu, dệt thổ cẩm của người Dao. Chúng tôi còn vận động bà con mặc quần áo truyền thống vào các dịp lễ tết, đám cưới, mùa lễ hội và bà con đã hưởng ứng làm theo rất tích cực. Gần như 100% phụ nữ lớn tuổi trong xã đều biết thêu dệt quần áo dân tộc mình.

Hương Hiền

Hương Hiền ((Báo ảnh Dân tộc và Miền núi))
Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao

Có thể bạn quan tâm

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Sáng 22/10, Lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường năm 2026 với chủ đề “Đền Đôi Cô Cam Đường - Kết nối cội nguồn, dựng xây quê hương” do phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai tổ chức đã chính thức được khai hội thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái. Lễ hội là sự kiện văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy giá trị di tích, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và quảng bá hình ảnh phường Cam Đường đến với du khách trong và ngoài tỉnh.

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gắn với lao động sản xuất, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, nghệ thuật múa dân gian của người Cống ở Điện Biên vừa lưu giữ những giá trị văn hóa đặc trưng, vừa phản ánh đời sống của một dân tộc rất ít người. Việc nghệ thuật múa của người Cống được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể mở thêm cơ hội bảo tồn, trao truyền các điệu múa truyền thống, nhất là cho thế hệ trẻ.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Hằng năm, vào ngày Mão tháng Chín âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai tổ chức Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông nhằm tổng kết một năm lao động, sản xuất, bày tỏ lòng tri ân với Mẫu Thượng Ngàn, các đấng thần linh và tổ tiên đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Năm 2026, ngày Đinh Mão (11/9 âm lịch), tức ngày 20/10 dương lịch là ngày chính lễ với nhiều nghi thức truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của người Tày Khao.

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Lự năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Lự”, UBND xã Khun Há (Lai Châu) tổ chức tái hiện lễ hội Sú Khon Khoài, với điểm nhấn là nghi thức cúng hồn trâu.

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Tối 16/10, tại tỉnh Lào Cai, Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 với chủ đề “Tinh hoa Xòe Thái - Sắc màu Tây Bắc” được khai mạc, với điểm nhấn là màn biểu diễn đại Xòe có sự góp mặt của 2.026 người.

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Nằm ở thôn Phú Hạnh, xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, đồi Cổ Thạch thu hút du khách bởi cảnh quan núi biển giao hòa, con đường đá được người dân truyền lại là có từ hàng trăm năm trước cùng rừng duối lâu năm.

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.