Tây Ninh - vùng đất cửa ngõ Đông Nam Bộ đang từng bước chuyển mình trong phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.
Từ những mô hình nuôi trồng thủy sản ven hồ Dầu Tiếng, vùng nguyên liệu chanh hữu cơ, thanh long xuất khẩu đến cây mía và cây sắn ứng dụng công nghệ cao, điểm chung dễ nhận thấy là người nông dân ngày càng làm chủ tri thức, kỹ thuật và thị trường. Đây chính là nền tảng quan trọng, kiềng ba chân để nâng cao giá trị nông sản, tạo sinh kế ổn định và giảm nghèo bền vững.
Làm chủ tri thức - chìa khóa nâng giá trị nông sản
Tại ấp B4, xã Lộc Ninh, tỉnh Tây Ninh, mô hình nuôi ba ba thương phẩm của ông Phạm Văn Toại là minh chứng sinh động cho sự thay đổi tư duy sản xuất. Dù đã ngoài 60 tuổi, ông vẫn miệt mài tìm tòi, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
“Làm nông bây giờ không chỉ dựa vào sức người, mà phải có kỹ thuật, có thông tin”, ông Toại chia sẻ. Nhờ áp dụng đúng quy trình kỹ thuật từ xử lý môi trường nước đến bổ sung dinh dưỡng, đàn ba ba sinh trưởng tốt, ít dịch bệnh, cho giá trị kinh tế ổn định. Mỗi năm, gia đình ông thu lãi cao hơn so với nhiều loại cây trồng truyền thống.
Cũng tại xã Lộc Ninh, ông Phạm Văn Đáng cũng phát triển trang trại ba ba quy mô hơn 1.000 m2, chia thành nhiều khu nuôi chuyên biệt. Theo ông Đáng, việc cập nhật thông tin thời tiết và tuân thủ hướng dẫn kỹ thuật giúp giảm thiểu rủi ro, nhất là trong mùa mưa.
“Nuôi ba ba không khó, chỉ cần chịu học hỏi, làm đúng kỹ thuật, giữ môi trường sạch. Giờ tôi không còn nghèo, mà còn có thể hỗ trợ bà con cùng làm”, ông Đáng nói.
Từ những mô hình như vậy, nghề nuôi trồng thủy sản tại các xã ven hồ Dầu Tiếng đã trở thành đòn bẩy giúp người dân nâng cao thu nhập, từng bước thoát nghèo bền vững.
Nếu tri thức là nền tảng, thì liên kết chuỗi chính là động lực giúp nông sản Tây Ninh nâng tầm giá trị. Ông Nguyễn Văn Hiển, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Thương mại và Đầu tư Chanh Việt cho biết, doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở sản xuất mà còn đầu tư chế biến sâu, tận dụng tối đa giá trị của trái chanh.
“Làm nông nghiệp mà không chế biến thì giá trị rất thấp. Chúng tôi hướng đến khai thác toàn bộ giá trị sản phẩm, đồng thời đồng hành cùng nông dân từ kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm”, ông Hiển nhấn mạnh.
Hiện nay, doanh nghiệp đã liên kết với hàng nghìn hộ dân, hình thành vùng nguyên liệu chanh không hạt gần 7.000 ha, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường khó tính.
Cùng với doanh nghiệp, các hợp tác xã đang giữ vai trò quan trọng trong tổ chức lại sản xuất, nâng cao giá trị nông sản. Ông Đặng Văn Phải, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Thạnh Hòa cho biết, việc liên kết sản xuất và áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP đã tạo bước chuyển rõ nét cho nghề trồng chanh tại địa phương.
Theo ông Phải, trước đây nông dân sản xuất nhỏ lẻ, sản phẩm tiêu thụ bấp bênh, giá cả phụ thuộc thị trường. Từ khi tham gia hợp tác xã, quy trình sản xuất được kiểm soát đồng bộ, đầu ra ổn định, đời sống người dân từng bước được cải thiện. Hiện hợp tác xã có hơn 30 ha chanh của 15 thành viên, toàn bộ sản lượng đều được doanh nghiệp và thương lái thu mua tận vườn với giá ổn định.
Đáng chú ý, nhờ sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, sản phẩm chanh của hợp tác xã đã được xuất khẩu sang Hà Lan và nhiều nước châu Á. “Khi đạt chuẩn, giá bán cao hơn thị trường, đầu ra ổn định, lợi nhuận của người dân tăng rõ rệt”, ông Phải chia sẻ.
Những mô hình liên kết này không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn góp phần thay đổi tập quán canh tác, hướng đến nền nông nghiệp sạch, bền vững.
Kinh tế hợp tác - nền tảng phát triển bền vững
Tại xã An Lục Long, Hội quán Cầu Đôi đang phát huy hiệu quả vai trò “cầu nối” đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với nông dân. Ông Trương Minh Trung, Giám đốc Hợp tác xã Long Hội, Chủ nhiệm Hội quán cho biết, mô hình này giúp người dân có không gian trao đổi kinh nghiệm, cập nhật thông tin thị trường và từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất.
Thành lập từ năm 2019 với 22 thành viên, đến nay hội quán đã thu hút gần 100 nông dân tham gia. Mỗi tháng, hội quán tổ chức sinh hoạt định kỳ, mời các nhà khoa học, doanh nghiệp và cán bộ khuyến nông đến hướng dẫn kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối tiêu thụ sản phẩm. Khoảng một nửa số thành viên hiện là xã viên của Hợp tác xã Long Hội, trở thành lực lượng nòng cốt trong việc áp dụng quy trình sản xuất mới.
Theo ông Trương Minh Trung, việc tham gia hội quán không chỉ giúp nông dân nâng cao trình độ canh tác mà còn góp phần hình thành chuỗi sản xuất thanh long sạch, bền vững, có đầu ra ổn định. Nhờ đó, đời sống người dân từng bước được cải thiện, có việc làm và thu nhập ổn định hơn
Tại xã Thạnh Bình, bà Võ Thị Thu Thảo, nông dân có hơn 21 năm gắn bó với cây mía cho biết, hiệu quả sản xuất đã được cải thiện rõ rệt nhờ sự đồng hành của doanh nghiệp trong cung ứng vật tư, chuyển giao kỹ thuật và đẩy mạnh cơ giới hóa. Hiện gia đình bà canh tác 13 ha mía nguyên liệu, năng suất bình quân đạt trên 80 tấn/ha. Việc ứng dụng cơ giới hóa, đặc biệt là sử dụng thiết bị bay không người lái để phun thuốc, giúp giảm đáng kể chi phí nhân công, tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu bệnh, đồng thời bảo đảm an toàn trong sản xuất.
Tuy nhiên, để cây mía thực sự trở thành nguồn thu bền vững, bà Thảo cho rằng, doanh nghiệp cần tiếp tục hỗ trợ nông dân trong việc phát triển giống mới, hoàn thiện quy trình canh tác tiết kiệm chi phí và mở rộng cơ giới hóa, nhất là trong bối cảnh lao động nông nghiệp ngày càng khan hiếm và chi phí sản xuất tăng cao.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh Trương Tấn Đạt cho biết, giai đoạn 2026–2030, tỉnh dự kiến bố trí hơn 100 tỷ đồng để triển khai khoảng 89 dự án liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản, tập trung vào các ngành hàng chủ lực như tôm, thanh long, sầu riêng, lúa chất lượng cao, dưa lưới, măng tre… cùng nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao gắn với chuỗi giá trị. Song song đó, tỉnh đẩy mạnh hỗ trợ cơ giới hóa, nhất là ứng dụng thiết bị bay không người lái trong sản xuất, góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả.
Các chương trình đào tạo, chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu và chứng nhận tiêu chuẩn sản xuất an toàn tiếp tục được chú trọng, qua đó giúp nông dân nâng cao năng lực sản xuất, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp.
Theo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh Lê Văn Hẳn, nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh, với trọng tâm là tái cơ cấu ngành theo hướng phát huy lợi thế từng vùng, hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn, gắn với tiêu chuẩn sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP. Việc ứng dụng giống mới, cơ giới hóa, quản lý dịch hại tổng hợp và mô hình canh tác giảm phát thải đang góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh của nông sản.
Bên cạnh trồng trọt, lĩnh vực chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp, công nghệ cao với các dự án quy mô lớn, hình thành chuỗi sản xuất khép kín, bảo đảm an toàn sinh học và thân thiện môi trường. Thủy sản tiếp tục được duy trì ổn định, nâng cao hiệu quả nhờ ứng dụng khoa học công nghệ và quản lý chặt chẽ môi trường nuôi. “Với các giải pháp đồng bộ, khu vực nông, lâm, thủy sản của tỉnh dự kiến tăng trưởng từ 3 - 3,5% trong năm 2026, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao đời sống người dân và tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu”, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh nhấn mạnh.
Thực tiễn tại Tây Ninh cho thấy, khi nông dân được tiếp cận tri thức, khoa học kỹ thuật và tham gia vào các chuỗi liên kết sản xuất, giá trị nông sản không ngừng được nâng cao. Từ đó, sinh kế của người dân ngày càng ổn định, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững.
Những kết quả đạt được không chỉ khẳng định hướng đi đúng của tỉnh Tây Ninh trong tái cơ cấu nông nghiệp, mà còn mở ra triển vọng xây dựng nền nông nghiệp xanh, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao đời sống người dân nông thôn./.