Quay lại
Kỹ thuật chế tác độc đáo của nghề gốm Bàu Trúc

Kỹ thuật chế tác độc đáo của nghề gốm Bàu Trúc

Hình ảnh làng gốm Bàu Trúc (Khánh Hòa) gắn liền với những sản phẩm thủ công tinh xảo, mang đậm dấu ấn văn hóa đặc sắc của người Chăm.

Độc đáo gốm người xoay

Ông Nái Đôm, nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc cho biết: Nét độc đáo của làng nghề chính là công đoạn làm gốm của các nghệ nhân. Dù đã có nhiều công cụ hiện đại áp dụng vào ngành gốm, nhưng bà con tại làng Bàu Trúc vẫn duy trì phương thức làm thủ công. Thay vì dùng những chiếc bàn xoay khi nặn những chiếc bình, chiếc lọ, nghệ nhân nơi đây lại dùng bàn chân để xoay quanh một chiếc bàn cố định, dùng tay nặn, nắn, miết để biến một cục đất trở thành một sản phẩm theo ý mình.

Điểm đặc biệt nữa trong kỹ thuật làm gốm Bàu Trúc nằm ở việc chế tác. Những người phụ nữ “làm bằng tay, xoay bằng mông”. Người thợ đi giật lùi, tay trong thì ép, tay ngoài thì xoa, khéo léo thổi hồn cho từng khối đất thô trở thành những tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Đất sét được tạo dáng hình quả bí đặt lên bàn kê; người thợ vừa đi giật lùi xung quanh bàn kê, vừa dùng tay tạo hình sản phẩm ban đầu cho khối đất sét. Người thợ dùng từng lọn đất sét khác ráp nối với phần gốm cơ bản ban đầu để nâng thân gốm cao dần lên, sau đó bắt đầu tạo kiểu gốm theo ý tưởng của mình. Công đoạn này người thợ dùng vải cuộn xếp thành 2 - 3 lớp để thấm nước chà láng thân gốm. Sau khi chà láng thân gốm thì bắt đầu công đoạn tạo hình cho miệng gốm được uốn lượn theo nét đặc trưng riêng của gốm Bàu Trúc.

Đường vào làng nghề gốm Bàu Trúc.

Đường vào làng nghề gốm Bàu Trúc.

Nhà sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Chăm làng nghề gốm Bàu Trúc.

Nhà sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Chăm làng nghề gốm Bàu Trúc.

Cổng vào Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc.

Cổng vào Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc.

Các nghệ nhân làng nghề gốm Bàu Trúc chăm chút tạo hình các sản phẩm gốm.

Các nghệ nhân làng nghề gốm Bàu Trúc chăm chút tạo hình các sản phẩm gốm.

Tất cả các sản phẩm gốm Bàu Trúc đều được các nghệ nhân và người thợ làm thủ công.

Tất cả các sản phẩm gốm Bàu Trúc đều được các nghệ nhân và người thợ làm thủ công.

Qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, những sản phẩm gốm là các bình, lọ hoa bằng gốm với nhiều dáng vẻ rất đẹp.

Qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, những sản phẩm gốm là các bình, lọ hoa bằng gốm với nhiều dáng vẻ rất đẹp.

Hoa văn trên các sản phẩm gốm Bàu Trúc được trang trí tự do, đường nét ẩn hiện tinh tế.

Hoa văn trên các sản phẩm gốm Bàu Trúc được trang trí tự do, đường nét ẩn hiện tinh tế.

Gốm Bàu Trúc được tạo tác từ đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Chăm, không có bàn xoay, không tráng men và được nung ngoài trời.

Gốm Bàu Trúc được tạo tác từ đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Chăm, không có bàn xoay, không tráng men và được nung ngoài trời.

Du khách thăm quan phòng trưng bày sản phẩm gốm tại HTX gốm Bàu Trúc.

Du khách thăm quan phòng trưng bày sản phẩm gốm tại HTX gốm Bàu Trúc.

Sản phầm gốm Bàu Trúc phần lớn là các loại bình, lọ hoa với nhiều kiểu dáng, mẫu mã đẹp và độc đáo.

Sản phầm gốm Bàu Trúc phần lớn là các loại bình, lọ hoa với nhiều kiểu dáng, mẫu mã đẹp và độc đáo.

Hoa văn trên các sản phẩm gốm Bàu Trúc được trang trí tự do, đường nét ẩn hiện tinh tế, chủ yếu có hình răng cưa, vỏ sò, sông nước, hoa lá thực vật. Ngoài các hoa văn trên gốm, còn sử dụng cả dấu bàn tay, móng tay, dùng màu thực vật, kỹ thuật hun khói làm màu áo để gốm có màu sắc phong phú vừa mộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng lại phảng phất nét cổ truyền, huyền bí mang đậm sắc thái văn hóa của đồng bào Chăm độc đáo, quyến rũ và rất đặc sắc.

Theo anh Thuận, Giám đốc Hợp tác xã gốm Bàu Trúc, ngày nay làng gốm Bàu Trúc không chỉ sản xuất đồ gốm gia dụng mà còn mở rộng sang các dòng gốm mỹ nghệ như tượng Apsara, tháp Chăm, bình hoa, đồ phong thủy… Không chỉ được ưa chuộng trong nước, gốm Bàu Trúc còn xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế như Nga, Mỹ, Ý, Nhật Bản. Điều này góp phần khẳng định giá trị văn hóa của làng nghề ở Khánh Hòa trên bản đồ thế giới.

Ngày nay, nhiều nam giới cũng đã tham gia sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường, nhưng tinh thần gìn giữ nghề truyền thống vẫn được duy trì. Các nghệ nhân ở làng nghề gốm Bàu Trúc hiện tạo ra 3 dòng sản phẩm chính gồm gốm gia dụng, gốm tâm linh và gốm mỹ nghệ. Nhờ hoạt động du lịch trải nghiệm ngày càng phát triển, các sản phẩm gốm nơi đây được quảng bá rộng rãi. Điều này góp phần nâng cao thu nhập và khẳng định giá trị văn hóa đặc sắc của người Chăm.

Ông tổ nghề gồm trong đời sống cộng đồng Chăm

Theo các nghệ nhân cao niên ở làng gốm Bàu Trúc, tổ nghề của làng gốm Bàu Trúc là Po Klaong Can, một vị nam thần. Theo truyền thuyết, Po Klaong Can thuở thiếu thời là bạn mục đồng với vua Po Klaong Garai (1151 - 1205). Khi Po Klaong Garai trở thành vua, có ngỏ ý mời Po Klaong Can làm quan nhưng ngài từ chối cáo lui về quê ẩn giật. Về sau, đất nước có biến, ngài đưa dân làng Bàu Trúc về định cư ở “làng cũ” (Palei Hamu Craok) lấy đất sét và dạy dân làm gốm. Từ đó, dân làng tự nhận Po Klaong Can là tổ nghề, xây hẳn một đền thờ để thờ ngài. Hàng năm, dân làng Bàu Trúc thường tổ chức cúng Tổ nghề 3 lần (vào tháng 1, tháng 4 và tháng 7 lịch Chăm) với các nghi thức như rước y trang, tắm tượng, mặc trang phục cho tượng thần, dâng lễ vật, đại lễ, trình diễn làm gốm và nghệ thuật ca múa nhạc dân gian đặc sắc để trình nghề và nhớ ơn tổ nghề.

Nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc đang chăm chút tỉa những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trên bình gốm.

Nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc đang chăm chút tỉa những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trên bình gốm.

Qua bàn tay khéo léo của những người thợ, những tác phẩm đang dần hình thành mang dáng vẻ nghệ thuật đặc sắc.

Qua bàn tay khéo léo của những người thợ, những tác phẩm đang dần hình thành mang dáng vẻ nghệ thuật đặc sắc.

Nghệ nhân Nái Đôm đang hoàn thiện tác phẩm.

Nghệ nhân Nái Đôm đang hoàn thiện tác phẩm.

Du khách nước ngoài trải nghiệm thử làm sản phẩm gốm Bàu Trúc.

Du khách nước ngoài trải nghiệm thử làm sản phẩm gốm Bàu Trúc.

Sản phẩm gốm truyền thống chủ yếu là vật dụng phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày, đồ dùng trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, như nồi, niêu, chum, phù điêu, đèn gốm và những sản phẩm gốm mỹ nghệ dùng để trang trí như các loại tượng, tháp Chăm và chậu hoa, lọ hoa...

Sản phẩm gốm truyền thống chủ yếu là vật dụng phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày, đồ dùng trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, như nồi, niêu, chum, phù điêu, đèn gốm và những sản phẩm gốm mỹ nghệ dùng để trang trí như các loại tượng, tháp Chăm và chậu hoa, lọ hoa...

bt13.jpg
Mỗi sản phẩm gốm Chăm đều mang tính độc bản, thể hiện dấu ấn của nghệ nhân trên từng sản phẩm.
Du khách thăm quan các sản phẩm làng nghề làm gốm Bàu Trúc.

Du khách thăm quan các sản phẩm làng nghề làm gốm Bàu Trúc.

Những sản phẩm gốm đặc sắc đậm chất nghệ thuật đang chờ xuất xưởng.

Những sản phẩm gốm đặc sắc đậm chất nghệ thuật đang chờ xuất xưởng.

Những sản phẩm gốm Bàu Trúc qua lăng kính của những người thợ đã phản ánh đời sống thường nhật, dấu ấn văn hóa và gửi gắm những khát vọng tươi đẹp của cộng đồng dân cư.

Những sản phẩm gốm Bàu Trúc qua lăng kính của những người thợ đã phản ánh đời sống thường nhật, dấu ấn văn hóa và gửi gắm những khát vọng tươi đẹp của cộng đồng dân cư.

Nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào năm 2022.

Nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào năm 2022.

Tồn tại từ khoảng cuối thế kỷ 12 đến nay, Bàu Trúc được xem là một trong số rất ít những làng gốm cổ ở Đông Nam Á còn lưu giữ kỹ thuật làm gốm thô sơ của người Sa Huỳnh cách đây khoảng 3.000 năm. Ngoài nghệ thuật làm gốm bằng tay với nhiều bí quyết và tri thức dân gian độc đáo, Bàu Trúc vẫn còn lưu giữ làng nghề cổ truyền theo chế độ mẫu hệ với nhiều nghi lễ, hội hè và nghệ thuật ca múa nhạc dân gian đặc sắc diễn ra hàng năm.

Vì thế làng gốm Bàu Trúc trở thành điểm nhấn du lịch làng nghề của tỉnh Khánh Hòa, thu hút nhiều du khách đến tham quan, trải nghiệm. Nơi đây, không chỉ trình diễn gốm mà còn gắn gốm với nghệ thuật ca múa nhạc và ẩm thực truyền thống phục vụ nhiều đoàn khách tham quan trong nước và quốc tế.

Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh là sự khẳng định bản sắc văn hóa độc đáo của Việt Nam trong kho tàng di sản văn hóa thế giới, đồng thời tạo hiệu ứng tích cực, góp phần nâng cao nhận thức của công chúng và chính quyền địa phương trong việc tổ chức các hoạt động nhằm bảo tồn, phát huy và tạo sức sống mới cho di sản. Từ đó cũng truyền cảm hứng để giới trẻ gắn bó, tiếp nối nghề làm gốm của cha ông.

Đặc biệt, sau khi nghệ thuật làm gốm Chăm được UNESCO ghi danh đã thu hút khách du lịch đến với làng gốm nhiều hơn, giúp cộng đồng cư dân có thêm nguồn lực, củng cố niềm tự hào và nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của chính họ.

Tin sản xuất
Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm

Có thể bạn quan tâm

Thăm khám miễn phí, trao quà thiết thực cho đồng bào thiểu số ở vùng biên

Thăm khám miễn phí, trao quà thiết thực cho đồng bào thiểu số ở vùng biên

Ngày 5/7, UBND xã Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) phối hợp với Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu (Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh), Chi cục Kiểm lâm thành phố Đồng Nai tổ chức khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp phát thuốc miễn phí, trao tặng những phần quà thiết thực cho 400 người dân trên địa bàn xã biên giới hưởng ứng chiến dịch đợt cao điểm 180 ngày đêm khám sức khỏe định kỳ toàn dân.

Bước chuyển nâng giá trị cho đặc sản miền núi

Bước chuyển nâng giá trị cho đặc sản miền núi

Từ những đồi chè Shan tuyết phủ sương ở Lào Cai, vùng trái cây xuất khẩu rộng hàng chục nghìn héc-ta của Sơn La, những cánh rừng sâm ở Lai Châu đến các đặc sản OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) của Cao Bằng, một cuộc chuyển động âm thầm nhưng mạnh mẽ đang diễn ra trên khắp các vùng miền núi. Điều đáng nói, sự thay đổi không chỉ ở sản lượng hay quy mô sản xuất mà có sự chuyển đổi tư duy làm ra sản phẩm sang tạo ra giá trị.

Kinh tế Tuyên Quang tiếp đà tăng trưởng từ những động lực mới

Kinh tế Tuyên Quang tiếp đà tăng trưởng từ những động lực mới

Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, kinh tế Tuyên Quang tiếp tục duy trì tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 7,79%; thu ngân sách nhà nước đạt 4.228,5 tỷ đồng, bằng 58% kế hoạch; 546 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 76% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy công nghiệp - đầu tư, nông nghiệp và dịch vụ tiếp tục là những động lực quan trọng, tạo nền tảng để tỉnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026.

Tuyên Quang: Khẩn trương thi công, đưa 6 trường nội trú liên cấp vào sử dụng trước 30/8

Tuyên Quang: Khẩn trương thi công, đưa 6 trường nội trú liên cấp vào sử dụng trước 30/8

Với quyết tâm hoàn thành, nghiệm thu và đưa vào sử dụng 6 trường khởi công đợt 1 năm 2025 trước ngày 30/8 tới, bảo đảm đầy đủ điều kiện tổ chức khai giảng năm học 2026 - 2027, tỉnh Tuyên Quang đang tập trung triển khai thực hiện "Chiến dịch 60 ngày đêm cao điểm" xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới.

Khẳng định thương hiệu vịt Cổ Lũng trên thị trường số

Khẳng định thương hiệu vịt Cổ Lũng trên thị trường số

Nhằm hỗ trợ người chăn nuôi tiêu thụ sản phẩm, quảng bá nông sản đặc trưng của địa phương và thúc đẩy chuyển đổi số, UBND xã miền núi Cổ Lũng (tỉnh Thanh Hóa) đã tổ chức các chương trình livestream bán hàng, giới thiệu, quảng bá và kết nối tiêu thụ sản phẩm vịt Cổ Lũng.

Nâng chất ngành hàng sầu riêng, tăng sức cạnh tranh xuất khẩu

Nâng chất ngành hàng sầu riêng, tăng sức cạnh tranh xuất khẩu

Đẩy mạnh sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, mở rộng vùng trồng được cấp mã số, ứng dụng công nghệ cao và phát triển chuỗi liên kết đang giúp ngành hàng sầu riêng Lâm Đồng nâng cao giá trị, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và hướng tới phát triển bền vững trên thị trường quốc tế.

Nữ sinh miền núi Lâm Đồng chinh phục đỉnh cao kỳ thi tốt nghiệp

Nữ sinh miền núi Lâm Đồng chinh phục đỉnh cao kỳ thi tốt nghiệp

Với 9,65 điểm xét công nhận tốt nghiệp trong Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 đã đưa Trần Cát Phượng, học sinh lớp 12A2, Trường Trung học phổ thông Tánh Linh, xã Tánh Linh trở thành thí sinh có số điểm xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông cao nhất của tỉnh Lâm Đồng. Phía sau số điểm ấn tượng ấy không chỉ là quá trình nỗ lực học tập của nữ sinh miền núi mà còn phản ánh chất lượng giáo dục của một ngôi trường nhiều năm kiên trì nâng cao chất lượng dạy và học.

Nhận diện điểm nghẽn giải ngân vốn đầu tư công cấp xã

Nhận diện điểm nghẽn giải ngân vốn đầu tư công cấp xã

Do còn nhiều hạn chế, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh Phú Thọ còn chậm, chưa tương xứng với nguồn lực được giao, nhất là tại cấp xã. Trước thực trạng này, UBND tỉnh Phú Thọ đang chỉ đạo quyết liệt nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn vốn, phấn đấu hoàn thành mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công cấp xã trên 95% kế hoạch trong năm 2026.

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Tại chương trình “Trải nghiệm Vô Tranh - Dấu ấn xứ Trà, hành trình một năm kiến tạo vươn tầm và phát triển”, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên đã giới thiệu tiềm năng, lợi thế trong phát triển kinh tế nông nghiệp, văn hóa trà và du lịch cộng đồng. Sự kiện là dịp quảng bá hình ảnh vùng chè Vô Tranh, đồng thời mở ra hướng đi mới trong khai thác giá trị cây chè gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xanh.

Hơn 15.700 học sinh vùng khó khăn được hỗ trợ dinh dưỡng

Hơn 15.700 học sinh vùng khó khăn được hỗ trợ dinh dưỡng

Hơn 15.700 học sinh tiểu học tại các địa bàn khó khăn của 4 tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Trị, Đắk Lắk và Lai Châu đã được hỗ trợ trên 948.000 hộp sữa đậu nành. Đây là kết quả được công bố tại Hội nghị tổng kết Chương trình "Sữa đậu nành học đường" năm học 2025-2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Quỹ Khuyến học Sữa đậu nành Việt Nam và Công ty Sữa đậu nành Việt Nam Vinasoy tổ chức ngày 3/7 tại Hà Nội.

Thu hẹp khoảng cách số cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Thu hẹp khoảng cách số cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Trong tiến trình chuyển đổi số, phụ nữ Tuyên Quang đang từng bước thay đổi tư duy, tích cực học tập, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và đời sống. Từ những lớp tập huấn kỹ năng số đến hoạt động kinh doanh trên nền tảng số, nhiều hội viên phụ nữ đã làm chủ công nghệ, góp phần phát triển kinh tế gia đình và thúc đẩy chuyển đổi số ở cơ sở.

Phụ nữ Tuyên Quang tích cực học tập nâng cao kỹ năng số

Phụ nữ Tuyên Quang tích cực học tập nâng cao kỹ năng số

Chuyển đổi số đang hiện diện trong mọi mặt của đời sống, từ đô thị đến vùng sâu, vùng xa. Tại Tuyên Quang, nhiều hội viên phụ nữ đang chủ động học tập, nâng cao kỹ năng số để ứng dụng công nghệ vào lao động, sản xuất, kinh doanh và cuộc sống hằng ngày.

Lan tỏa hoạt động tình nguyện thiết thực trong mùa hè

Lan tỏa hoạt động tình nguyện thiết thực trong mùa hè

Những ngày này, không khí Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2026 đang diễn ra sôi nổi tại nhiều địa phương ở Đắk Lắk. Với chủ đề “Đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn”, tuổi trẻ toàn tỉnh đang triển khai nhiều mô hình thiết thực, hướng mạnh về cơ sở, góp phần cùng địa phương thực hiện chuyển đổi số và chăm lo đời sống nhân dân.

Đà Nẵng: Rình rập nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh

Đà Nẵng: Rình rập nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh

Mặc dù đang mùa hè nhưng nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh (thành phố Đà Nẵng) luôn rình rập, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhất là vào thời điểm xuất hiện những cơn mưa rừng nặng hạt. Vị trí có nguy cơ sạt lở cao thường ở những khu vực đã từng xảy ra sạt lở trong mùa mưa năm 2025.

Điện Biên nỗ lực trong phòng chống nạn tảo hôn

Điện Biên nỗ lực trong phòng chống nạn tảo hôn

Tảo hôn vẫn là một trong những vấn đề nhức nhối tại nhiều địa bàn vùng cao của tỉnh Điện Biên. Hệ lụy này không chỉ kéo theo đói nghèo, thất nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tương lai của trẻ em và chất lượng dân số.

Lào Cai: Sẽ giảm tối thiểu 50% thời gian và chi phí giải quyết thủ tục hành chính

Lào Cai: Sẽ giảm tối thiểu 50% thời gian và chi phí giải quyết thủ tục hành chính

Năm 2026, Lào Cai đặt mục tiêu cắt giảm tối thiểu 50% thời gian và chi phí giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp. Với quyết tâm ấy, Lào Cai đang từng bước được hiện thực hóa bằng những hành động cụ thể sau khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.

Chăm lo hiệu quả cho người dân vùng biên giới

Chăm lo hiệu quả cho người dân vùng biên giới

Ngày 1/7, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai tổ chức tổng kết mô hình “Địa phương, đơn vị phía sau hỗ trợ địa phương, đơn vị phía trước” và Đề án “Xây dựng Điểm dân cư liền kề Chốt dân quân biên giới” trên địa bàn thành phố Đồng Nai giai đoạn 2019 - 2025.

Phát triển bền vững kinh tế vùng biên

Phát triển bền vững kinh tế vùng biên

Phát triển kinh tế vùng biên không chỉ là bài toán ổn định dân cư mà còn là chiến lược mở rộng không gian phát triển của thành phố Đồng Nai. Sở hữu tuyến biên giới dài khoảng 259 km giáp Campuchia cùng hệ thống cửa khẩu, lối mở sôi động, địa phương này đang dồn lực đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông kết nối và nâng cấp khu kinh tế cửa khẩu. Bằng việc kiên quyết xử lý các dự án kém hiệu quả và thúc đẩy thương mại – dịch vụ vùng biên, Đồng Nai đang từng bước giảm dần sự phụ thuộc thuần túy vào nông nghiệp, tạo đòn bẩy vững chắc cho sự phát triển toàn diện của 8 xã biên giới.

Ngăn bệnh sốt xuất huyết lan rộng trong mùa mưa

Ngăn bệnh sốt xuất huyết lan rộng trong mùa mưa

Đắk Lắk đang bước vào mùa mưa, thời tiết nắng nóng xen kẽ những cơn mưa lớn tạo điều kiện thuận lợi để muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết sinh sôi, phát triển. Trước nguy cơ dịch bệnh lan rộng, ngành Y tế đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khống chế ổ dịch, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Tăng tốc để 'về đích' trường liên cấp biên giới

Tăng tốc để 'về đích' trường liên cấp biên giới

Đến cuối tháng 6/2026, 4 trường học liên cấp biên giới được khởi công từ cuối năm 2025 tại các xã Rờ Kơi, Mô Rai, Dục Nông và Sa Loong (tỉnh Quảng Ngãi) đã đạt tiến độ thi công từ 52 - 83%. Trong đó, Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở xã Mô Rai có tiến độ thi công thấp nhất khi mới đạt 52%. Trước tình hình đó, Ban Quản lý dự án đầu tư Tây Quảng Ngãi đang khẩn trương yêu cầu đơn vị thi công tăng tốc để sớm đưa các dự án vào hoạt động theo đúng tiến độ đã đề ra là trước ngày 30/8.

Người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai mong sớm được tái định cư, ổn định cuộc sống

Người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai mong sớm được tái định cư, ổn định cuộc sống

Gần một năm sau trận lũ quét, sạt lở đất xảy ra đêm 31/7 và rạng sáng 1/8/2025, đến nay 21 hộ dân ở bản Bắng Chộc, xã Na Son (tỉnh Điện Biên) vẫn chưa được bố trí nơi ở mới. Trong khi mùa mưa lũ đang cận kề, người dân vẫn phải sống trong cảnh tạm bợ, đối mặt với nguy cơ sạt lở, ảnh hưởng đến tài sản, tính mạng.

'Cột mốc sống' nơi biên cương

'Cột mốc sống' nơi biên cương

Với đường biên giới dài hơn 265km cùng những dãy núi hùng vĩ, trùng điệp, thế trận lòng dân ở miền biên viễn Lai Châu đang được bồi đắp mỗi ngày. Sát cánh cùng lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh là đội ngũ già làng, trưởng bản và những người có uy tín. Họ là những “cột mốc sống” ngày đêm thầm lặng, gìn giữ từng tấc đất đường biên, mốc giới chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Tiếp thêm động lực để các gia đình chính sách ổn định cuộc sống

Tiếp thêm động lực để các gia đình chính sách ổn định cuộc sống

Thực hiện chủ trương của Chính phủ về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, tỉnh Gia Lai đang tập trung nhân lực, vật lực khẩn trương đẩy nhanh xây dựng các công trình. Sự chung tay của lực lượng vũ trang đang trực tiếp góp phần đẩy nhanh tiến độ và tiếp thêm động lực để các gia đình chính sách ổn định cuộc sống.

Khai mở tiềm năng, đưa Lai Châu phát triển nhanh, xanh, bền vững

Khai mở tiềm năng, đưa Lai Châu phát triển nhanh, xanh, bền vững

Lai Châu là miền đất hội tụ những giá trị khác biệt về vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên, bản sắc văn hóa và khát vọng phát triển. Với quy hoạch đồng bộ, hạ tầng từng bước hoàn thiện cùng quyết tâm cải thiện môi trường đầu tư, Lai Châu đang mở ra cơ hội mới cho các nhà đầu tư trong hành trình phát triển bền vững.