Lào Cai: Người dân nơm nớp lo sợ khi bờ kè suối sạt lở

Thời gian qua, gần 30 hộ dân ở thôn Làng Chạng, xã Phong Dụ Thượng, tỉnh Lào Cai nơm nớp lo sợ khi sống giáp bên bờ suối Ngòi Hút bị sạt lở nghiêm trọng vào nhà ở của các hộ dân. Trước mùa mưa lũ đang đến gần, nhiều vị trí sạt lở ăn sâu vào khu dân cư khiến nỗi lo của người dân ngày một lớn và không thể an cư.

Trời mưa phải đi ở nhờ

lang-chang-180526-1.jpg
Đoạn suối Ngòi Hút qua thôn Làng Chạng có khoảng 900m bị sạt lở nghiêm trọng, nhiều vị trí xói sâu vào khu dân cư ảnh hưởng đến 28 hộ dân.

Cách trung tâm tỉnh Lào Cai gần 100 km, Phong Dụ Thượng là xã vùng sâu, vùng xa, khó khăn với 6 dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 97%, chủ yếu đồng bào dân tộc Tày, Dao và Mông.

Với địa hình chủ yếu đồi núi, xã vùng cao Phong Dụ Thượng thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lớn, lũ ống, lũ quét. Tháng 8/2025, trên địa bàn xã xảy ra mưa lũ lớn gây thiệt hại nặng nề đến tài sản, cây cối, hoa màu của người dân, đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của 28 hộ dân sinh sống giáp bờ suối Ngòi Hút, ở thôn Làng Chạng.

Hiện nay, đoạn suối Ngòi Hút qua thôn Làng Chạng có chiều dài khoảng 2.000 m, trong đó có khoảng 900 m bị sạt lở nghiêm trọng, nhiều vị trí xói sâu vào khu dân cư, nếu không được xử lý kịp thời sẽ gây thiệt hại lớn về tài sản, tính mạng của nhân dân. Ngoài ra, tình trạng sạt lở cũng làm mất khoảng 4.000 m2 đất sản xuất nông nghiệp (khoảng 20 hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp) và đe dọa an toàn của tuyến đường liên thôn cùng các công trình hạ tầng công cộng khác.

Ngày 15/5/2026, phóng viên có mặt tại thôn Làng Chạng cho thấy, đoạn kè suối Ngòi Hút bị sạt lở nghiêm trọng, nhiều mảng bê tông, rọ đá ngổn ngang dưới lòng suối. Hàng chục ngôi nhà nằm chênh vênh trơ móng, hở hàm ếch và dễ dàng sạt lở khi mưa lớn xảy ra.

Theo người dân nơi đây, khu vực phía sau nhà ở các hộ dân, toàn bộ bờ suối, kè bê tông, nhà vệ sinh, chuồng trại, cây cối, vật nuôi bị nước lũ cuốn trôi và gây sạt lở taluy âm, đe doạ trực tiếp đến cuộc sống người dân. Hiện mỗi khi trời mưa, 28 hộ dân sinh sống nơi đây không dám ở nhà, phải chạy đi ở nhờ nhà người thân, hàng xóm. Điều này khiến họ luôn sống trong cảnh lo âu, bất an.

Bờ kè các hộ dân tự gia cố cũng bị mưa lũ cuốn trôi, gây sạt lở.

Bờ kè các hộ dân tự gia cố cũng bị mưa lũ cuốn trôi, gây sạt lở.

Chứng kiến cảnh sạt lở nghiêm trọng vào tận móng nhà, chị Trần Thị Điều, thôn Làng Chạng xót xa chia sẻ, trước đây giữa bờ suối và khu dân cư có một bờ kè do người dân gia cố. Tuy nhiên, theo thời gian mưa lũ ngày một thất thường, dòng nước cũng bị thay đổi nên kè bị sạt lở. Mưa lũ đã cuốn trôi căn nhà tôn ngang, bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh của gia đình và gây sạt lở taluy âm 8 mét đất từ bờ kè vào nhà chị, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng. Sau khi sạt lở xảy ra, gia đình chị cùng bà con trong thôn tạm thời gia cố, sửa chữa phần móng nhà để đảm bảo an toàn.

“Tuy nhiên, việc sửa chữa chỉ là tạm thời trước mắt, hiện giờ người dân chúng tôi lo lắm, bởi mùa mưa lũ đang cận kề. Mỗi khi trời mưa cả làng lo sợ và rủ nhau chạy đi ở nhờ. Niềm mong mỏi lớn nhất của bà con được Đảng, Nhà nước, tỉnh Lào Cai quan tâm khẩn trương đầu tư xây dựng kè để bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân. Qua đó, giúp người dân yên tâm sinh sống, lao động sản xuất và phát triển kinh tế”, chị Điều lo lắng.

Chung nỗi lo với chị Điều, bà Hà Thị Đông, thôn Làng Chạng bộc bạch, mưa lũ gây sạt taluy âm 6 mét từ bờ suối vào nhà. Giờ mỗi khi trời mưa gia đình ăn không ngon, ngủ không yên bởi cả nhà phải tự lên phương án sơ tán đến nhà người thân ở nơi an toàn. Bà mong muốn Nhà nước tạo điều kiện sớm có phương án xây dựng kè để nhân dân yên tâm sinh sống, làm ăn.

Có thể thấy, điều lo lắng nhất của người dân nơi đây là hiện nay mùa mưa lũ đang đến gần. Nếu không có biện pháp kịp thời, cuộc sống của nhân dân sẽ gặp nhiều khó khăn khi nhà cửa, tài sản bị uy hiếp, đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp.

Khẩn cấp xây kè bảo vệ

Người dân thôn Làng Chạng mong muốn sớm được đầu tư kè để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

Người dân thôn Làng Chạng mong muốn sớm được đầu tư kè để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

Theo người dân nơi đây, ngay sau khi sạt lở xảy ra, người dân đã nhiều lần làm đơn và kiến nghị chính quyền các cấp thông qua các buổi tiếp xúc cử tri về việc khẩn trương có phương án xây dựng kè suối Ngòi Hút nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho người dân. Thế nhưng đến nay vẫn chưa có phương án đầu tư xây dựng.

Anh Hoàng Trọng Vinh, thôn Làng Chạng cho hay, trước tình trạng bờ suối sạt lở, ăn sâu vào diện tích đất ở và một số công trình của các hộ gia đình, anh và các hộ dân nơi đây đã viết đơn gửi lên chính quyền địa phương với mong muốn trong thời gian chờ đợi công trình kiên cố, kính mong chính quyền địa phương hỗ trợ các biện pháp khắc phục tạm thời như rọ đá, nắn dòng chảy, để đảm bảo an toàn cho người dân. Về lâu dài, UBND tỉnh Lào Cai sớm phê duyệt chủ trương đầu tư kè kiên cố giúp người dân an tâm sinh sống, phát triển kinh tế.

Ngay sau khi xảy ra sạt lở, UBND xã Phong Dụ Thượng đã 3 lần có công văn, báo cáo gửi đến UBND tỉnh Lào Cai và các cấp, các ngành có liên quan về việc đề xuất xem xét đầu tư xây dựng kè chống sạt lở suối Ngòi Hút tại thôn Làng Chạng xã Phong Dụ Thượng. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa được phê duyệt chủ trương đầu tư.

Trước nỗi lo của người dân, ông Hoàng Văn Khoa, Phó Chủ tịch UBND xã Phong Dụ Thượng cho biết, sau khi kiểm tra thực tế, tổng hợp báo cáo thực trạng, xã đã triển khai các biện pháp ứng phó trước mắt để đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho người dân.

Bờ suối Ngòi Hút bị sạt lở, sói mòn sâu từ 6-8 mét vào nhà ở các hộ dân.

Bờ suối Ngòi Hút bị sạt lở, sói mòn sâu từ 6-8 mét vào nhà ở các hộ dân.

Theo đó, UBND trích một phần kinh phí 550 triệu để thực hiện kè tạm thời trên 100 mét chiều dài; đồng thời, kiến nghị tỉnh cho phép 28 hộ dân bị ảnh hưởng được lấy đá, sỏi dưới lòng suối (khu vực bồi đắp do lũ gây ra) để đắp kè rọ đá, bảo vệ đất, nhà ở, công trình phụ và các loại tài sản khác; xem xét, hỗ trợ kinh phí có mục tiêu cho UBND xã để thực hiện công tác thanh thải, nắn dòng chảy về chính giữa lòng suối như hiện trạng ban đầu, mua rọ đá kè các vị trí bị sạt lở taluy âm để hạn chế thấp nhất thiệt hại do mưa lũ gây ra.

Về lâu dài, UBND tỉnh Lào Cai sớm xem xét, phê duyệt chủ trương đầu tư, thực hiện thi công khẩn cấp dự án kè chống sạt lở suối Ngòi Hút tại thôn Làng Chạng, xã Phong Dụ Thượng với chiều dài 900m, kinh phí dự tính khoảng 29 tỷ đồng. Qua đó, nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của người dân; bảo vệ ổn định diện tích đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, đất công cộng. Từ đó góp phần ổn định dân cư, tạo điều kiện để nhân dân yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu ở địa phương./.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Nông dân Lào Cai làm giàu từ liên kết xuất khẩu măng Bát Độ

Nông dân Lào Cai làm giàu từ liên kết xuất khẩu măng Bát Độ

Những ngày này, nông dân xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai rộn ràng bước vào chính vụ thu hoạch măng tre Bát độ. Với năng suất 20 đến 25 tấn/ha, mỗi năm, loại cây này mang lại thu nhập 70 đến 120 triệu đồng, cao gấp nhiều lần cây lâm nghiệp truyền thống.

Lâm Đồng khẩn trương khắc phục thiệt hại sau mưa lớn, gió giật mạnh

Lâm Đồng khẩn trương khắc phục thiệt hại sau mưa lớn, gió giật mạnh

Chiều 20/8, mưa lớn kèm gió giật mạnh xảy ra trên địa bàn xã Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng, khiến nhiều cây rừng ngã đổ tại một số vị trí trên Quốc lộ 20, đoạn qua đèo Chuối. Cây ngã đổ chắn một phần mặt đường, gây cản trở giao thông và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người, phương tiện lưu thông qua khu vực.

Bảo đảm môi trường học tập tốt cho học sinh vùng biên giới

Bảo đảm môi trường học tập tốt cho học sinh vùng biên giới

Ngày 20/8, Đoàn công tác do Thứ trưởng thường trực Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng làm Trưởng đoàn đã làm việc với tỉnh Lào Cai về chuẩn bị lễ khai giảng năm học 2026-2027, khánh thành Trường phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Khương tại xã biên giới Mường Khương.

Dự án xây trường tại Thanh Hóa lỡ hẹn năm học mới

Dự án xây trường tại Thanh Hóa lỡ hẹn năm học mới

Nằm trong danh mục các công trình được đầu tư theo Nghị quyết số 11 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa về xây dựng và phát triển huyện Mường Lát, dự án Trường Tiểu học Quang Chiểu 1, xã Quang Chiểu được kỳ vọng sẽ góp phần cải thiện điều kiện dạy và học, đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất cho giáo viên và học sinh vùng biên. Tuy nhiên, sau 2 năm triển khai, đến nay, công trình vẫn dang dở, chưa thể đưa vào sử dụng, trong khi năm học mới đã cận kề.

Gia Lai: Dự kiến phát triển mới hơn 20.000 ha rừng trồng gỗ lớn

Gia Lai: Dự kiến phát triển mới hơn 20.000 ha rừng trồng gỗ lớn

Theo báo cáo của UBND tỉnh Gia Lai, đến nay tổng diện tích rừng trồng sản xuất gỗ lớn trên địa bàn tỉnh đạt gần 10.500 ha. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh dự kiến tiếp tục duy trì diện tích hiện có và phát triển mới hơn 20.000 ha rừng trồng gỗ lớn, góp phần nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp và hiệu quả sử dụng đất.

'Lớp học trên mây' gieo tri thức nơi vùng núi cao

'Lớp học trên mây' gieo tri thức nơi vùng núi cao

Giữa những đỉnh núi cao mờ sương của tỉnh miền núi phía Bắc, một lớp học đặc biệt mang tên “Lớp học trên mây” đang thắp sáng hy vọng cho trẻ em địa phương cùng người làm du lịch bản địa.

Tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số

Tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số

Xác định phát triển sinh kế bền vững là giải pháp căn cơ để nâng cao thu nhập, phát huy nội lực và giúp đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi từng bước vươn lên, thời gian qua, tỉnh Phú Thọ từng bước chuyển trọng tâm từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nâng cao năng lực cho người dân. Qua đó, các hộ gia đình có thêm điều kiện chủ động phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập và từng bước thoát nghèo bền vững.

Mở hướng nâng tầm nông sản bằng nông nghiệp hữu cơ

Mở hướng nâng tầm nông sản bằng nông nghiệp hữu cơ

Với lợi thế về đất đai, khí hậu, nguồn lao động và kinh nghiệm sản xuất, xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ có nhiều điều kiện phát triển nông nghiệp hàng hóa, nổi bật là vùng bưởi đỏ đặc sản cùng các sản phẩm rau, củ, quả và chăn nuôi.

Rừng keo chết khô, Quảng Ngãi cảnh báo cháy rừng cấp cực kỳ nguy hiểm

Rừng keo chết khô, Quảng Ngãi cảnh báo cháy rừng cấp cực kỳ nguy hiểm

Nắng nóng kéo dài khiến hàng trăm ha rừng trồng chủ yếu là cây gỗ (keo lai, bạch đàn) từ 3-5 năm tuổi tại các xã, phường phía Nam tỉnh Quảng Ngãi như Nguyễn Nghiêm, Khánh Cường Đức Phổ, Sa Huỳnh bị héo lá, chết khô, gây thiệt hại lớn cho người trồng rừng và làm gia tăng nguy cơ cháy rừng.

Mong có nơi học tập gần để không phải bỏ học

Mong có nơi học tập gần để không phải bỏ học

Trước thềm năm học mới 2026-2027, nhiều học sinh vùng ven biển phía Đông tỉnh Đắk Lắk không trúng tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông công lập nhưng lại khó tiếp cận Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp, Giáo dục thường xuyên ở địa phương hoặc trường dân lập ngoài địa bàn, dẫn đến nguy cơ cao phải bỏ học.

Xây dựng người chiến sĩ Cảnh sát cơ động kỷ luật, trách nhiệm, vì nhân dân phục vụ

Xây dựng người chiến sĩ Cảnh sát cơ động kỷ luật, trách nhiệm, vì nhân dân phục vụ

Những ngày tháng 8, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Cảnh sát cơ động số 2, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động (Bộ Công an) có mặt tại xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La thực hiện đợt hành quân dã ngoại. Tại đây, các cán bộ, chiến sĩ vừa rèn luyện, nâng cao khả năng tác chiến trong điều kiện địa hình rừng núi hiểm trở vừa gần dân, hiểu dân và chung tay hỗ trợ nhân dân.

Khi số hóa về bản

Khi số hóa về bản

Chuyển đổi số đang ngày càng hiện diện rõ nét trong đời sống nông thôn, từ thanh toán không dùng tiền mặt, giải quyết thủ tục hành chính đến quảng bá sản phẩm, phát triển du lịch và hỗ trợ người dân tiếp cận các tiện ích số. Tại xã Mai Châu và phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ, những cách làm phù hợp với điều kiện thực tế đang từng bước đưa công nghệ đến gần người dân, tạo chuyển biến trong phương thức sản xuất, kinh doanh và phục vụ cộng đồng.

Nhà thầu thi công quyết tâm phấn đấu sẽ hoàn thành và đưa công trình vào sử dụng theo đúng kế hoạch, trước dịp khai giảng năm học mới 2026-2027. Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN

Các dự án hạ tầng giáo dục tăng tốc, hướng về năm học mới

Để bảo đảm các điều kiện tốt nhất cho năm học mới 2026 - 2027, tỉnh Tuyên Quang đặt mục tiêu công tác rà soát, kiểm tra toàn diện mức độ sẵn sàng của các cơ sở giáo dục hoàn thành trước ngày 30/8; đồng thời các trường học trên địa bàn tỉnh đồng loạt tổ chức Lễ khai giảng vào ngày 5/9 bảo đảm trang trọng, thiết thực và an toàn.

Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Trà Lĩnh sẵn sàng cho năm học mới

Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Trà Lĩnh sẵn sàng cho năm học mới

Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Trà Lĩnh được khởi công từ tháng 1/2026, đến nay các hạng mục chính của dự án đã cơ bản hoàn thành, sẵn sàng cho khai giảng năm học mới 2026-2027. Thầy trò và nhân dân xã Trà Lĩnh đang háo hức chào đón một năm học mới ở mái trường khang trang, mở ra nhiều cơ hội tiếp cận tri thức và phát triển toàn diện cho học sinh.

Mở cánh cửa tương lai cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt

Mở cánh cửa tương lai cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt

Đối với các em học sinh thuộc diện đồng bào dân tộc thiểu số hộ nghèo, cận nghèo, trẻ em thuộc diện bảo trợ xã hội, gia đình chính sách, Trường Văn hóa Công an nhân dân II, tại phường Tân Lập (tỉnh Đắk Lắk) được kỳ vọng trở thành môi trường giáo dục nội trú an toàn, kỷ cương, nhân văn, tạo thêm cơ hội để các em được học tập, rèn luyện và phát triển toàn diện. Trước thềm năm học đầu tiên, nhà trường đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, đội ngũ và các điều kiện cần thiết để đón học sinh.

Tuyên Quang ứng phó với mưa lớn, sạt lở đất

Tuyên Quang ứng phó với mưa lớn, sạt lở đất

Theo Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Tuyên Quang, do ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới có trục qua khu vực giữa Nam Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ kết hợp với hội tụ gió lên đến mực 5.000 m hoạt động mạnh dần lên, từ nay đến ngày 19/8, trên địa bàn tỉnh có mưa vừa, mưa to và dông, cục bộ có nơi mưa rất to với lượng mưa từ 40 - 100 mm, có nơi trên 150 mm, tập trung chủ yếu vào chiều tối, đêm và sáng sớm.

Gắn bồi dưỡng cán bộ với mục tiêu phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số

Gắn bồi dưỡng cán bộ với mục tiêu phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số

Nhằm trang bị kiến thức, nâng cao năng lực thực tiễn và kỹ năng vận động quần chúng cho đội ngũ cán bộ nòng cốt cơ sở, sáng 18/8, Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ khai mạc Chương trình bồi dưỡng kiến thức dân tộc thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Cần Thơ năm 2026.