Nhiều năm nay, người dân bản người Mông ở xã Pà Cò (tỉnh Phú Thọ) luôn sống trong cảnh thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng do nguồn nước tự nhiên khan hiếm; trong khi công trình cấp nước sạch xuống cấp, không còn hoạt động.
Trước thực trạng này, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực Mai Châu đã hỗ trợ vận chuyển nước sạch cho người dân. Cứ một tuần 3 ngày, mỗi ngày 2 chuyến xe bồn chuyên dụng của đơn vị được điều động, vượt quãng đường gần 100 km để chở nước lên bản cho đồng bào. Những chuyến xe nghĩa tình không chỉ góp phần giải quyết khó khăn trước mắt mà còn lan tỏa tinh thần sẻ chia với đồng bào vùng cao.
Thực trạng thiếu nước sinh hoạt của người dân
Tình trạng thiếu nước sinh hoạt đã trở thành nỗi lo thường trực của hàng trăm hộ dân tại các xóm vùng cao của xã Pà Cò. Dù nằm giữa khu vực có khí hậu mát mẻ, nhiều khe suối tự nhiên nhưng do biến đổi khí hậu, đặc biệt vào mùa khô, nguồn nước cạn kiệt khiến đời sống người dân gặp không ít khó khăn. Thiếu nước không chỉ ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày mà còn tác động trực tiếp đến sức khỏe, vệ sinh môi trường và phát triển kinh tế của địa phương.
Tình trạng thiếu nước sinh hoạt diễn ra tại nhiều thôn, bản của xã Pà Cò. Do địa hình đồi núi cao, dân cư sống phân tán khiến việc đầu tư hệ thống cấp nước tập trung gặp nhiều khó khăn. Một số công trình nước sinh hoạt được đầu tư trước đây hiện đã xuống cấp, đường ống hư hỏng, thất thoát nước nhưng chưa được sửa chữa kịp thời.
Bí thư Đảng ủy xã Pà Cò Sùng A Chênh cho biết, trên địa bàn, nhiều hộ dân chưa được sử dụng nguồn nước sạch ổn định. Vào mùa khô, lưu lượng nước tại các khe suối giảm mạnh, trong khi nhu cầu sử dụng ngày càng tăng. Một số công trình cấp nước tự chảy hoạt động không hiệu quả do thiếu nguồn bổ sung. Những ngày đầu mùa hè, tại nhiều xóm của xã Pà Cò, người dân phải chắt chiu từng can nước để phục vụ sinh hoạt. Không ít gia đình phải đi xa hàng chục km để lấy nước từ các khe suối nhỏ hoặc hứng nước mưa dự trữ. Có những thời điểm, nguồn nước tự chảy gần như khô cạn hoàn toàn khiến cuộc sống của người dân bị đảo lộn.
Gia đình anh Giàng A Phử (xã Pà Cò) có 6 nhân khẩu nhưng nhiều tháng nay phải sử dụng nước tiết kiệm tối đa. Anh Phử cho biết, trước đây khu vực này có nguồn nước tự chảy dẫn từ đầu núi về, đủ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân. Tuy nhiên vài năm gần đây, do thời tiết khô hạn kéo dài, lượng nước giảm mạnh, nhất là vào mùa nắng nóng. Nhiều hôm cả gia đình anh chỉ đủ nước để nấu ăn và uống, còn việc tắm giặt phải hạn chế.
Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ sử dụng xe chuyên dụng chở nước sinh hoạt cho bà con xã Pà Cò.
Chị Giàng Thị Mỷ (xã Pà Cò) chia sẻ, nhiều ngày nay, gia đình chị chỉ có đủ nước để nấu ăn và uống. Việc tắm giặt phải tiết kiệm tối đa. Có ngày cả xóm không còn nước, mọi người phải thay nhau xuống khe suối từ sáng sớm để lấy nước. Đường xa, dốc cao nên rất vất vả, nhất là với người già và phụ nữ. Vào cao điểm nắng nóng, nhiều hộ phải thức dậy từ 3 - 4 giờ sáng để chờ lấy nước. Thiếu nước kéo dài khiến sinh hoạt đảo lộn, việc chăn nuôi cũng bị ảnh hưởng. Người dân chỉ mong có công trình nước sạch ổn định để cuộc sống đỡ khó khăn.
Theo người dân địa phương, tình trạng thiếu nước không chỉ gây bất tiện trong sinh hoạt mà còn ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường và sức khỏe. Nhiều gia đình phải tận dụng nước mưa hoặc dùng chung nguồn nước khe suối chưa qua xử lý. Vì vậy, người dân mong muốn các cấp chính quyền sớm đầu tư, nâng cấp hệ thống cấp nước sinh hoạt để người dân vùng cao có nguồn nước sạch ổn định, bảo đảm cuộc sống lâu dài.
Giải quyết tình trạng thiếu nước trước mắt và lâu dài
Giữa những ngày nắng hạn kéo dài trên vùng cao Pà Cò (tỉnh Phú Thọ), những chuyến xe chở nước của lực lượng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ khu vực Mai Châu vẫn ngày ngày vượt đèo dốc mang nước sạch đến cho người dân. Hành trình chở nước hỗ trợ cho đồng bào Mông không chỉ góp phần giúp người dân vượt qua khó khăn trước mắt mà còn lan tỏa hình ảnh đẹp về tinh thần trách nhiệm, sẻ chia vì cộng đồng.
Các chiến sĩ Phòng cháy chữa cháy cùng Công an xã Pà Cò hỗ trợ phân phát nước cho người dân địa phương.
Thượng úy Bùi Văn Thanh, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực Mai Châu chia sẻ, điều anh và đồng đội mong muốn là giúp người dân có thêm nước sinh hoạt để giảm bớt khó khăn trong mùa khô hạn; để đồng bào đỡ phải đi gùi từng can nước từ khe núi về. Hiện hằng ngày, đơn vị hỗ trợ 2 chuyến xe chở nước. Tuy nhiên, do tình trạng thiếu nước ngày càng nghiêm trọng, đây chỉ là biện pháp giải quyết tình thế trước mắt, tạm thời, không thể duy trì lâu dài.
Xã Pà Cò không có hệ thống sông, suối hay hồ chứa nước ổn định. Hằng năm, tình trạng khô hạn thường kéo dài nhiều tháng. Thời tiết cực đoan nắng nóng kéo dài khiến nhiều nguồn nước tự nhiên cạn kiệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Chủ tịch UBND xã Pà Cò Trần Văn Truyền cho biết, có thời điểm hàng trăm hộ dân tại các thôn, bản rơi vào cảnh thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Do đó, UBND xã đã đề nghị Công an tỉnh Phú Thọ hỗ trợ cấp nước cho người dân. Từ ngày 5/5/2026, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ khu vực Mai Châu bắt đầu triển khai các chuyến xe chở nước lên xã Pà Cò.
Trung tá Nguyễn Thành Trung, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực Mai Châu cho biết: "Xe bồn chở nước xuất phát từ trung tâm Mai Châu lên Pà Cò, chiều tiếp tục thêm một chuyến nữa. Mỗi chuyến đi là hành trình nhiều vất vả bởi xe phải vượt qua những cung đường đèo nhỏ hẹp, nhiều khúc cua tay áo nguy hiểm. Có những xóm nằm trên cao như Thung Mài, Thung Mặn, xe không thể tiếp cận nên người dân phải mang can nhựa xuống điểm tập kết lấy nước rồi gùi bộ về nhà".
Nhiều người dân đã mang theo can nhựa đứng chờ xe chở nước, niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt của những người phụ nữ Mông đang xếp hàng nhận nước. Trưởng xóm Thung Mặn Giàng A Lềnh chia sẻ: "Nhiều tháng nay, bà con sống trong cảnh thiếu nước kéo dài, mọi sinh hoạt đều phải tiết kiệm tối đa. Có hôm cả xóm gần như không còn nước để dùng. Nay xe chở nước lên, ai cũng vui mừng”.
Theo kế hoạch, hoạt động cấp nước hỗ trợ người dân xã Pà Cò sẽ được duy trì đến giữa tháng 6/2026. Tuy nhiên nếu nắng nóng tiếp tục kéo dài, những chuyến xe bồn trở nước sinh hoạt vẫn tiếp tục vượt đèo lên với đồng bào vùng cao. Giữa mùa hạn khắc nghiệt, những chuyến xe mang theo nước sạch cùng sự sẻ chia, giúp người dân nơi đây thêm niềm tin để vượt qua khó khăn.
Để giải quyết dứt điểm tình trạng khát nước sinh hoạt trầm trọng tại xã Pà Cò, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông đã giao UBND xã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cùng các cơ quan liên quan rà soát hồ sơ pháp lý, hiện trạng quản lý, vận hành của 4 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung đã được đầu tư trên địa bàn xã; tổng hợp nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn. Đồng thời, địa phương tổ chức khảo sát, thăm dò, đánh giá trữ lượng và chất lượng nguồn nước trên địa bàn xã và khu vực lân cận. Trên cơ sở kết quả khảo sát, xã đề xuất phương án đầu tư cải tạo, nâng cấp các công trình hiện có và xây dựng bổ sung công trình mới đảm bảo hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng cân đối nguồn lực đề xuất giải pháp xử lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn