Từ bản làng đến không gian ngày hội
Ngay từ những ngày đầu tháng 10, bản Tù Lu - Tìa Ló, xã Pu Nhi (tỉnh Điện Biên) đã khoác lên mình diện mạo mới. Người dân tất bật chuẩn bị sản vật, trang phục, dụng cụ nghề truyền thống và các hoạt động trải nghiệm đặc trưng của đồng bào Mông để du khách đến tham quan, trải nghiệm.
Trong khuôn khổ Ngày hội văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV, nơi đây được lựa chọn là một trong những điểm tham quan, trải nghiệm dành cho du khách. Do đó, công tác chuẩn bị không chỉ là chỉnh trang cảnh quan mà còn là quá trình sắp xếp, giới thiệu lại những giá trị văn hóa vốn hiện hữu trong đời sống cộng đồng.
Tại homestay của gia đình anh Hờ Nhìa Di, khung dệt, vải và các bộ trang phục truyền thống được gia đình sắp xếp ngay ngắn. Chị Chá Thị Hoa (vợ anh Di) cùng người thân đã chuẩn bị từng bộ váy áo, sẵn sàng giới thiệu với du khách.
Chị Hoa phấn khởi chia sẻ: “Mấy ngày nay, mọi người đều cũng háo hức. Người dọn nhà, người chuẩn bị trang phục, khung dệt. Chúng tôi mong đến ngày hội để được đón khách, giới thiệu những bộ trang phục truyền thống của người Mông giúp du khách hiểu hơn về nét đẹp trong đời sống, văn hóa của dân tộc mình”.
Đồng thời, người dân chủ động vệ sinh môi trường, chỉnh trang nhà cửa và chuẩn bị các sản phẩm nông sản, sản phẩm thủ công để phục vụ khách đến tham quan. Trưởng bản du lịch cộng đồng Tù Lu - Tìa Ló Chá A Mua khẳng định, du khách đến với bản có thể tham gia các trò chơi dân gian như đánh tù lu, bắn nỏ, giã bánh dày; thưởng thức ẩm thực, đồng thời trải nghiệm nghề dệt thổ cẩm, may trang phục Mông, rèn dao truyền thống…
Trong những ngày diễn ra ngày hội, không gian bản làng sẽ trở thành “sân khấu” - nơi du khách không chỉ quan sát mà có thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động văn hóa. Chợ phiên, ẩm thực, ném pao, giã bánh giầy, tù lu, bắn nỏ; tái hiện nghi lễ Nào Pê Chầu; trình diễn nghề rèn dao truyền thống, dệt thủ công và thêu hoa văn trên vải… được địa phương chuẩn bị theo hướng tăng tính tương tác, để văn hóa đến gần hơn với du khách.
Ở xã Pu Nhi, những thửa ruộng bậc thang đang vào mùa đẹp nhất cũng trở thành một phần của hành trình trải nghiệm. Giữa không gian núi rừng, những bộ váy áo Mông truyền thống rực rỡ sắc màu được người dân đưa đến phục vụ du khách thuê mặc, chụp ảnh.
Chị Ly Thị Cở (người dân bản Phù Lồng) cho biết, du khách rất thích mặc trang phục Mông, nhất là khi đứng giữa những thửa ruộng bậc thang. “Họ thích thú như vậy thì bà con cũng vui, vì trang phục của dân tộc mình được nhiều người biết đến và yêu thích hơn”.
Từ trang phục, ẩm thực đến nghề thủ công và trò chơi dân gian, những giá trị văn hóa vốn quen thuộc trong đời sống hằng ngày đang được cộng đồng chủ động biến thành sản phẩm trải nghiệm. Qua đó, việc tổ chức ngày hội không dừng ở hoạt động biểu diễn, giới thiệu văn hóa mà tạo thêm cơ hội để người dân quảng bá sản phẩm, duy trì nghề truyền thống và từng bước gắn văn hóa với phát triển du lịch.
Hoàn tất những phần việc cuối cùng
Không chỉ tại các bản du lịch cộng đồng, công tác chuẩn bị ngày hội đang được triển khai đồng bộ tại khu vực trung tâm phường Điện Biên Phủ. Tại Quảng trường 7/5 - nơi diễn ra lễ khai mạc hay phố đi bộ Mường Thanh, các nghệ nhân, diễn viên của tỉnh Điện Biên đang khẩn trương luyện tập, hoàn thiện các tiết mục. Trong không khí rộn ràng, tiếng khèn Mông vang lên như mang theo những chuyện văn hóa từ những bản làng vùng cao đến gần hơn với công chúng và du khách.
Là Nghệ nhân Ưu tú về khèn được mời tham gia biểu diễn trong dịp này, ông Sình A Tâu đến từ xã Sính Phình vui mừng cho biết, ông rất phấn khởi khi được tham gia ngày hội với quy mô lớn. Ông mong muốn mang những điệu khèn, điệu múa và nghi lễ truyền thống của người Mông đến với khán giả, du khách trong và ngoài nước. Đây cũng là dịp để mọi người hiểu hơn về văn hóa của dân tộc mình, để cho lớp trẻ tiếp tục học, gìn giữ tiếng khèn Mông.
Tại khu vực phố đi bộ Mường Thanh - nơi diễn ra nhiều hoạt động của ngày hội cũng đang được hoàn thiện. Không gian trưng bày chuyên đề “Đặc trưng văn hóa dân tộc Mông trong cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt Nam”; không gian trải nghiệm ẩm thực truyền thống, sản phẩm văn hóa, sản vật, sản phẩm OCOP và các giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của dân tộc Mông được bố trí, sắp xếp theo từng khu vực.
Các mô hình, dụng cụ phục vụ trải nghiệm như gùi, cối xay ngô, dụng cụ làm mèn mén, giã bánh giầy, vẽ sáp ong, nhuộm vải, mô hình lò rèn… đã được đưa vào không gian trưng bày. Cách tổ chức này giúp người dân, du khách có thể trực tiếp tìm hiểu các công đoạn, vật dụng gắn với đời sống và nghề truyền thống của đồng bào Mông.
Ông Nguyễn Minh Phú, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên, Trưởng Ban Tổ chức ngày hội cho biết, đến nay, các đơn vị đang tập trung hoàn thiện những phần việc cuối cùng, bảo đảm không gian trải nghiệm sẵn sàng phục vụ ngày hội. Các phương án bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, y tế, an toàn thực phẩm, điện lưới… được triển khai đồng bộ. Công tác tuyên truyền, quảng bá và chuẩn bị các điểm tham quan, trải nghiệm được thực hiện theo tiến độ đề ra.
Theo kế hoạch, Ngày hội văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 diễn ra từ ngày 9 - 11/10, quy tụ gần 800 nghệ nhân, vận động viên, diễn viên đến từ 11 tỉnh, thành phố có đồng bào Mông sinh sống gồm: Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Sơn La, Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An và Đắk Lắk. Riêng tỉnh Điện Biên có 101 nghệ nhân, diễn viên, thành viên tham gia các nội dung văn hóa. Cùng với việc tổ chức các hoạt động trình diễn, trải nghiệm, Điện Biên đang xây dựng 7 bản du lịch cộng đồng, mở thêm không gian để văn hóa Mông gắn với phát triển du lịch.
Theo ông Nguyễn Minh Phú: “Thông qua ngày hội này, chúng tôi muốn tiếp tục lan tỏa, quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Mông. Và điều quan trọng hơn là, ngoài việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, chúng tôi muốn văn hóa thực sự trở thành một nguồn lực để tạo sinh kế cho người dân”.
Từ những giá trị được gìn giữ qua nhiều thế hệ, Ngày hội văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 tại Điện Biên đang mở ra một không gian mới để văn hóa được trao truyền, phát huy và tạo ra những giá trị mới. Khi tiếng khèn, trang phục, nghề truyền thống, ẩm thực và các phong tục được đưa vào không gian trải nghiệm, văn hóa không chỉ được giới thiệu mà tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.
Với sự chuẩn bị từ mỗi bản làng đến các khu vực trung tâm, tỉnh Điện Biên đã sẵn sàng chào đón những sắc màu văn hóa Mông hội tụ, góp phần lan tỏa giá trị bản sắc dân tộc, đồng thời tạo thêm động lực để văn hóa trở thành nguồn lực phát triển du lịch và nâng cao đời sống cộng đồng.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn