Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 1)

Dấu tích rừng cây còn sót lại ở xã Tân Điền (Gò Công Đông)
Dấu tích rừng cây còn sót lại ở xã Tân Điền (Gò Công Đông)

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cực Nam của Việt Nam gồm 1 thành phố và 12 tỉnh. Vùng đất được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua nhiều kỷ nguyên thay đổi mực nước biển.

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 1) ảnh 1Đồng bằng sông Cửu Long được coi là vựa lúa, vựa trái cây, vựa thủy sản của đất nước. Đây là vùng đất này có điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp với hơn 2,5 triệu ha đất nông nghiệp được bồi đắp phù sa màu mỡ, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Ảnh: Trọng Chính

Là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của cả nước, Đồng bằng sông Cửu Long thực hiện sứ mệnh đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu khi đóng góp tới hơn 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu của cả nước.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng đến toàn cầu cũng như Việt Nam với những tác động như: Mực nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán, lũ lụt, triều cường, bồi lắng cửa sông… Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang từng ngày, từng giờ chịu tác động nặng nề từ biến đổi khí hậu với tình trạng hạn hán, lũ lụt và xâm nhập mặn ngày càng tăng.

Trước hiện trạng này, nhiều giải pháp đã được ban hành; từ sách lược của Đảng, Nhà nước với Nghị quyết số 120/NQ - CP của Chính phủ: Về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu hay còn gọi là “Nghị quyết thuận thiên” đến những nghiên cứu chuyên gia, nhà khoa học, hỗ trợ của các đối tác quốc tế, sự hợp tác của doanh nghiệp, sự chủ động người dân. Từ đó, thách thức từ biến đổi khí hậu đã trở thành cơ hội, tư duy sản xuất nông nghiệp của người nông dân nơi đây từng bước thay đổi, đưa Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng phát triển bền vững.

Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có chuyến công tác tới một số địa phương thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để nắm bắt thực tế và triển khai 4 bài viết chủ đề: “Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng”.

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 1) ảnh 2Những năm qua, mô hình luân canh trồng lúa kết hợp nuôi tôm đã chứng minh được tính hiệu quả, ngày càng chứng tỏ được sự phát triển bền vững. Bởi, mô hình không chỉ thích ứng được với điều kiện biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn ngày càng gay gắt mà giá trị từ việc làm lúa sạch, tôm sạch đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của Cà Mau. Ảnh: Huỳnh Anh - TTXVN

Bài 1: Đối mặt với nguy cơ

Đồng bằng sông Cửu Long được coi là vựa lúa, vựa trái cây, vựa thủy sản của đất nước. Với diện tích tự nhiên gần 4 triệu km2 (khoảng 13% diện tích cả nước) và dân số khoảng triệu người (19% dân số cả nước), vùng đất này có điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp với hơn 2,5 triệu ha đất nông nghiệp (chiếm 62,9% tổng diện tích đất tự nhiên của cả vùng) được bồi đắp phù sa màu mỡ, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt.

Đồng bằng sông Cửu Long thực hiện sứ mệnh đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu khi đóng góp tới hơn 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, những năm gần đây, vùng đất này đang đứng trước tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún đất chủ yếu do biến đổi khí hậu gây ra.

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 1) ảnh 3Sạt lở lộ nông thôn nghiêm trọng tại tỉnh Sóc Trăng. Ảnh: Tuấn Phi-TTXVN

Nguy cơ hiện hữu

Theo một nghiên cứu của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (cơ quan trực thuộc Liên hợp quốc) qua phân tích và phỏng đoán các tác động của nước biển dâng, 3 vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cấp do biến đổi khí hậu là: Vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập). Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cũng cho thấy, Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất do biến đổi khí hậu. Tại Việt Nam, 2 vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng nặng nhất. Khi nước biển dâng cao 1 m, ước chừng 5,3% diện tích tự nhiên, 10,8% dân số, 10,2% GDP, 10,9% vùng đô thị, 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp sẽ bị ảnh hưởng.

Dưới tác động của biến đổi khí hậu, ở Đồng bằng sông Cửu Long, ước tính hàng trăm ngàn hecta đất bị ngập, hàng triệu người có thể bị mất nhà cửa nếu nước biển dâng cao. Sản lượng lương thực có nguy cơ giảm sút lớn, đe dọa tới an ninh lương thực của quốc gia. Diện tích canh tác nông nghiệp sử dụng nguồn nước ngọt như lúa, màu, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản sẽ bị thu hẹp, năng suất và sản lượng sẽ suy giảm. Cá nước ngọt dự kiến sẽ suy giảm vì diện tích đất đồng bằng và dòng sông nhiễm mặn gia tăng. Ngược lại, cá nước mặn, lợ sẽ phát triển. Diện tích nuôi tôm, sò và hải sản khác có thể sẽ gia tăng trong tương lai. Các vùng tài nguyên rừng, đất, nước, sinh vật hoang dã, khoáng sản (than bùn, cát đá xây dựng...) sẽ bị xâm lấn. Nông dân, ngư dân, diêm dân và thị dân nghèo sẽ là đối tượng chịu nhiều tổn thương nặng nề do thiếu nguồn dinh dưỡng, thiếu khả năng tài chính, thiếu điều kiện tiếp cận thông tin để có thể đối phó kịp thời với sự thay đổi của thời tiết và khí hậu. Dự kiến sẽ có sự dịch chuyển dòng di cư của nông dân ở các vùng ven biển bị tác động nặng nề do biến đổi khí hậu và nước biển dâng lên các đô thị vùng phía Bắc và phía Tây. Điều này khiến các quy hoạch đô thị bị phá vỡ, trật tự xã hội sẽ là một thử thách, môi trường đô thị sẽ bị xấu đi do sự gia tăng cơ học về dân số.

Tác động không mong muốn

Nêu 4 vấn đề gây ra những tác động không mong muốn của biến đổi khí hậu đối với toàn cầu cũng như Việt Nam và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Tiến sỹ Nguyễn Văn Bộ, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam, thành viên Hội đồng tư vấn của Ủy ban quốc gia về Biến đổi khí hậu của Việt Nam, hiện là thành viên Hội đồng cố vấn chính sách Australia về nghiên cứu nông nghiệp quốc tế cho biết, vấn đề đầu tiên là nền nhiệt độ tăng giảm không theo quy luật. Điều này khiến sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là cây trồng bị ảnh hưởng, dẫn đến quá trình ra hoa, đậu quả, mùa vụ đều phải điều chỉnh. Thứ hai là lượng mưa, trước đây mưa rất đều và đúng mùa để người dân tính toán mùa vụ phù hợp. Nay, mưa bất thường, đang mùa hạn lại có mưa hoặc đang mùa mưa lại hạn. Những cây trồng vốn quen với chu kỳ mưa trước đây không thể thích ứng kịp. Ví dụ, khi cây cà phê đang trong quá trình hạn lại có mưa sớm nên đã ra hoa. Người nông dân phải vứt bỏ phần hoa, điều chỉnh lại mùa vụ theo hướng tưới đuổi để đáp ứng đủ lượng nước cho bung hoa hết. Quy trình này rất tốn kém. Bên cạnh đó, việc chu kỳ mưa thay đổi cũng làm chuyển đổi cả kế hoạch bón phân cũng như xử lý sâu bệnh.

Bên cạnh nhiệt độ và mưa, hạn hán xảy ra dẫn đến xâm nhập mặn ở vùng thấp. Theo Tiến sỹ Nguyễn Văn Bộ, hạn hán-xâm nhập mặn là tác động điển hình của biến đổi khí hậu đối với những nước có tiếp giáp với biển. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng rất thấp. Theo kịch bản xấu, nếu khu vực này bị ngập 100 cm, có thể trên 50% diện tích ở Đồng bằng sông Cửu Long ngập trong nước biển.

Đề cập đến nước biển dâng, Tiến sỹ Nguyễn Văn Bộ cho rằng, hiện tượng này cùng với việc mưa ít dẫn đến nước mặn xâm nhập ngày càng sâu vào khu vực này. Trước kia, vùng nhiễm mặn chỉ trong một vài chục km, nay đã lên đến 50, 60 km, thậm chí xa hơn, sâu hơn.

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 1) ảnh 4Đai rừng phòng hộ ven biển Gò Công (Tiền Giang) đang bị xâm thực ngày càng nghiêm trọng. Nhiều vị trí, đai rừng phòng hộ chỉ còn từ 4 m đến 20 m, một số đoạn đê xung yếu không còn rừng nên sóng biển đánh thẳng vào thân đê, đe dọa nghiêm trọng sản xuất và đời sống. Trong ảnh: Dấu tích rừng cây còn sót lại ở xã Tân Điền (Gò Công Đông). Ảnh: Minh Trí - TTXVN

Một vấn đề nữa được Tiến sỹ Nguyễn Văn Bộ đề cập đến, diện tích bị ngập không chỉ do nước biển dâng mà còn do tình trạng sụt lún nền đất. Đây là hệ lụy của quá trình xây dựng không theo quy hoạch, mật độ xây dựng quá cao kết hợp với tình trạng khai thác nước ngầm quá mức.

Tác động cuối cùng được Tiến sỹ Nguyễn Văn Bộ nhắc tới là phát thải khí nhà kính. “Có 3 lĩnh vực phát thải rất lớn, đó là canh tác lúa, chăn nuôi đại gia súc, sử dụng đất. Cơ hội giảm được tỷ lệ phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp là rất lớn. Tuy nhiên, đòi hỏi nguồn kinh phí khá cao để đầu tư các giải pháp khoa học kỹ thuật”, Tiến sỹ Nguyễn Văn Bộ nhận định.

Tiến sỹ Bộ lấy ví dụ, muốn chuyển từ tưới ngập nước liên tục sang tưới nước chủ động, rút nước giữa kỳ hoặc ướt khô xen kẽ, hệ thống ruộng phải được san phẳng, hệ thống thoát nước phải tốt, hệ thống tưới phải chủ động. Đối với việc sử dụng phân bón, phải dùng thế hệ mới là phân bón chậm tan, chậm phân hủy để tăng hiệu quả, giảm phát thải, đặc biệt là đối với phân đạm. “Nói như vậy thì rất lý thuyết vì lấy đâu ra phân chậm tan khi bây giờ cả thế giới mới thương mại hóa được vài triệu tấn; trong khi đó, riêng Việt Nam đã sử dụng 7,5-8 triệu tấn phân hóa học; phân chậm tan thì ta chưa sản xuất được. Đối với phân hữu cơ, trước đây, các hộ đều có bể ủ phân chuồng, nay gần như hòa loãng nước đổ ra môi trường. Phụ phẩm thì đốt hết do mùa vụ ngắn, không có chế phẩm sinh học xử lý được rơm rạ trong vòng 20 ngày”, Tiến sỹ Bộ chia sẻ.

Tiến sỹ Nguyễn Văn Bộ cũng nhận định: “Khi nói đến thích ứng với biến đổi khí hậu nghĩa là chúng ta đã xét đến yếu tố tích cực”. Theo đó, mặt tích cực ở đây là cơ hội để chuyển đổi quỹ đất kém hiệu quả, từ những cây trồng, vật nuôi kém hiệu quả sang cây trồng, vật nuôi khác hiệu quả hơn. Cùng với đó, các sản phẩm nông nghiệp ngày càng được đa dạng hóa, đảm bảo an toàn sản xuất… Do đó, thách thức từ biến đổi khí hậu, nếu biết tận dụng, sẽ là cơ hội bứt phá cho Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, cả nước nói chung; cơ hội cho kinh tế nông nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế cả nước trong tương lai. (Xem tiếp Bài 2: Thời cơ mới cho vựa lúa Việt Nam)

Thu Phương

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.