Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 2)

Tỉnh An Giang khuyến khích người dân và doanh nghiệp đẩy mạnh cơ giới hoá đồng bộ, sản xuất các giống lúa thơm, đặc sản đảm bảo chất lượng xuất khẩu vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản. Ảnh: Vũ Sinh – TTXVN
Tỉnh An Giang khuyến khích người dân và doanh nghiệp đẩy mạnh cơ giới hoá đồng bộ, sản xuất các giống lúa thơm, đặc sản đảm bảo chất lượng xuất khẩu vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản. Ảnh: Vũ Sinh – TTXVN

Bài 2: Thời cơ mới cho vựa lúa Việt Nam

Tay quệt ngang trán lau đi những giọt mồ hôi đang tuôn trong cái nắng chói chang của vùng Đồng Tháp, nông dân Nguyễn Văn Một nhoẻn miệng cười chỉ tay vào đám ruộng trước mặt: “Lúa nhà tui đây, còn khoảnh kia là của anh em trong nhóm. Chỗ này chúng tôi hợp đồng hết rồi. Đến mùa thu hoạch là chở vô nhà máy thôi”. Trên khuôn mặt rám nắng lộ nét lạc quan khi nhìn những ruộng lúa đang tươi tốt, chú nói: “Mấy mùa nay hợp đồng với nhà máy ổn định, có tiền hơn, vợ tui cũng ủng hộ, không càm ràm, làm ăn cũng lên hương hơn”.

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 2) ảnh 1Tỉnh An Giang đang thực hiện đề án “Xây dựng và phát triển thương hiệu gạo An Giang đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. Ảnh: Vũ Sinh – TTXVN

Từ sản xuất nông nghiệp…

Nông dân Nguyễn Văn Một (trú tại ấp Tân An, xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) được người dân nơi đây gọi bằng cái tên Mười Một như cách giản dị mà người Nam Bộ hay gọi. Chú Mười Một có thể được coi là một nông dân thế hệ 4.0 điển hình. Là trung gian cho nhóm 17 hộ dân ký hợp đồng cung cấp lúa cho Nhà máy xay xát gạo Lấp Vò (Tập đoàn Sunrice của Australia), chú Mười Một cho biết, cả nhóm có 24 ha lúa, trong đó, gia đình chú có hơn 7 ha, ký hợp đồng cung cấp cho Sunrice đã sang mùa vụ thứ 4.

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 2) ảnh 2Nông dân Nguyễn Văn Một (ấp Tân An, xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp), một nông dân thế hệ 4.0 điển hình và ông Mark Tattersall, Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam trên cánh đồng lúa ông đang canh tác. Ảnh: Trọng Chính
Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 2) ảnh 3Nông dân Nguyễn Văn Một và những nông dân trong nhóm của ông là những người được hưởng lợi từ Dự án “Chuỗi giá trị gạo bền vững cho nông hộ nhỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long” có nguồn kinh phí tài trợ khoảng 2,6 triệu AUD đến từ ngân sách Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia và Tập đoàn Sunrice (Australia) thực hiện theo hình thức đối tác công tư (PPP). Ảnh: Trọng Chính

Ba vụ trước, Nhà máy gạo đều đưa ra mức giá thu mua ổn định. Quá trình chăm sóc lúa, các kỹ sư nông nghiệp của Nhà máy cũng thường xuyên xuống thăm ruộng, trợ giúp nông dân chăm sóc quá trình sinh trưởng của cây lúa. “Giờ chăm lúa cũng nhàn thôi, cứ theo sát quy trình kỹ thuật. Khâu bón phân, xử lý thuốc đã có cơ giới máy bay lo rồi”, ông Mười Một chia sẻ.

Đến kỳ thu hoạch, khác với trước đây, thương lái thường chở ghe đến ruộng thu mua của nông dân theo giá thường là thấp hơn thị trường. Nay, chú Mười Một và các nông dân trong nhóm thuê ghe chở đến nhà máy. Chú vui vẻ cho biết: “Ngày xưa bán cho thương lái, giao tại ghe, giờ bán cho nhà máy, mình phải tổ chức bài bản, thuê ghe đàng hoàng chở đến cho nhà mày. Hổng biết thì thôi chứ biết thấy cũng dễ dàng à!. Tiền công chuyên chở lúa được nhà máy tính vô giá mua lúa rồi nên anh em ở đây cũng đồng tình với tui, làm khỏe lắm".

Khi được hỏi, giờ giá thị trường cao quá, nông dân mình có chừa lại một ít bán ra ngoài không, chú Mười Một lắc đầu quầy quậy: "Không, đâu có làm vậy được, ký hợp đồng bán cho nhà máy rồi thì phải bán hết chứ, làm vậy nói chuyện được với ai, đâu còn uy tín với anh em nữa”. Chú Mười Một cũng cho biết, thấy nhóm của chú làm ăn ổn định với Nhà máy, nhiều hộ lân cận cũng muốn tham gia nhóm, nhờ chú Mười Một tư vấn, ký hợp đồng bao tiêu với Nhà máy.

Chú Mười Một và những nông dân trong nhóm của chú là những nông dân được hưởng lợi từ Dự án “Chuỗi giá trị gạo bền vững cho nông hộ nhỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long” có nguồn kinh phí tài trợ khoảng 2,6 triệu AUD đến từ ngân sách Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia và Tập đoàn Sunrice (Australia) thực hiện theo hình thức đối tác công tư (PPP). Đối tác chính tại Việt Nam của dự án là Viện Nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long (Đại học Cần Thơ), Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng và Đồng Tháp cùng một số công ty trực thuộc Tập đoàn Sunrice.

Dự án nhằm mục tiêu thiết lập một chuỗi giá trị gạo cho năng suất cao, bền vững, có thể truy xuất nguồn gốc và đảm bảo chất lượng cho gạo hạt ngắn nhiệt đới với những đặc tính cụ thể ở Đồng bằng sông Cửu Long, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu của Sunrice.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Hồng Tín (Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Cần Thơ), đối tượng hưởng lợi từ dự án là các hộ nông dân trồng lúa quy mô nhỏ, các nhóm nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ. Khi tham gia dự án, họ sẽ được hỗ trợ tăng cường năng lực và mở rộng các cơ hội để tham gia chuỗi liên kết với các thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, Dự án cũng có một hợp phần nghiên cứu được triển khai ở Bắc Australia nhằm hỗ trợ cho các hoạt động nhân giống tại Việt Nam. Theo đó, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long sẽ lai tạo và phát triển giống lúa Japonica hạt ngắn cho năng suất cao, chịu được áp lực sinh học và phi sinh học ở Đồng bằng sông Cửu Long, đáp ứng các trong yêu cầu chất lượng cao đối với thị trường quốc tế của Sunrice. Đồng thời hoạt động nhân giống ở Australia sẽ nghiên cứu việc sử dụng các phương pháp tiếp cận di truyền thế hệ mới gồm: Hỗ trợ đánh dấu và chọn lọc bộ gen trong giai đoạn tiền nhân giống. Việc này nhằm hỗ trợ công tác nhân các giống có khả năng kháng bệnh trên cây lúa.

Các kết quả nghiên cứu nhân giống ở Australia sẽ được chia sẻ với chương trình nhân giống ở Việt Nam để hỗ trợ phía Việt Nam áp dụng các công nghệ mới trong nghiên cứu các giống phù hợp với khí hậu nhiệt đới.

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Tín đánh giá, thông qua dự án này, người nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp cận được với những giống lúa tốt, cho năng suất cao, chống chịu được với những tác động của biến đổi khí hậu, đáp ứng các yêu cầu chất lượng cao của thị trường quốc tế. Người nông dân còn được nâng cao tri thức, thực hành các khâu thu hoạch đúng tiêu chuẩn, giúp giữ được phẩm cấp lúa và giá trị sản phẩm. Họ sẽ hiểu được thế nào là chuỗi giá trị gạo bền vững, từ đó có được lợi ích từ điều này. Từ việc phụ thuộc nhiều vào thương lái mỗi khi đến vụ, không tiếp cận được thị trường, thông qua dự án này, họ cũng được kết nối với các thị trường xuất khẩu giá trị cao.

Điểm mới của Dự án này là, doanh nghiệp phối hợp cùng các cơ quan của Chính phủ tổ chức vùng sản xuất nguyên liệu sau đó mới ký hợp đồng với nông dân đối với những sản phẩm đạt chất lượng cao, tiếp cận được với các thị trường quốc tế. Điều này giúp tạo niềm tin, tinh thần hợp tác cho người nông dân, từ đó xây dựng mối liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp.

Cũng theo Tiến sỹ Nguyễn Hồng Tín, chuỗi giá trị lúa gạo bền vững được thể hiện qua 3 điểm: Kinh tế bền vững, môi trường bền vững, xã hội bền vững. Tuy nhiên, đến nay, bền vững về kinh tế luôn được đặt trọng tâm. Qua hơn 1,5 năm vận hành dự án này, doanh nghiệp và nông dân nơi đây đang có sự kết nối khá vững chắc về mặt kinh tế. Người nông dân được tiếp cận với thị trường quốc tế rộng lớn có sẵn của doanh nghiệp, được tiếp cận với những tiêu chuẩn quốc tế về sản xuất, canh tác, thu hoạch để ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm lúa gạo. Đây là hướng đi phù hợp với ngành lúa gạo của Việt Nam.

"Hướng đi này sẽ có những doanh nghiệp, nông dân đi trước. Những doanh nghiệp, nông dân khác, dù với tập quán canh tác hay truyền thống kinh doanh thế nào thì với áp lực thị trường, áp lực về xu hướng, sẽ phải chuyển đổi phương thức để cạnh tranh với thị trường thế giới", Tiến sỹ Nguyễn Hồng Tín nhận định.

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 2) ảnh 4Tỉnh An Giang khuyến khích người dân và doanh nghiệp đẩy mạnh cơ giới hoá đồng bộ, sản xuất các giống lúa thơm, đặc sản đảm bảo chất lượng xuất khẩu vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản. Ảnh: Vũ Sinh – TTXVN

… đến kinh tế nông nghiệp

Đến nay, tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp bắt đầu đã bén rễ vào nhận thức xã hội, vào người nông dân, vào các doanh nghiệp. Như Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan từng phát biểu: “Ngành Nông nghiệp thời gian tới phải chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, chuyển từ đơn giá trị sang đa giá trị. Tư duy kinh tế nông nghiệp là tư duy bán hàng, với những tâm huyết, trách nhiệm với cộng đồng, xã hội và thương hiệu phải được xây dựng từ "nhân hiệu"”.

Người nông dân không còn đơn thuần chỉ biết chăn nuôi, trồng trọt. Họ đang từng ngày từng giờ cập nhật kiến thức nông học, tiếp cận với thế giới, sử dụng công nghệ tiên tiến vào canh tác, thu hoạch. Như chú Mười Một và nhiều nông dân khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, việc sử dụng máy bay không người lái để bón phân, rải thuốc hay các máy móc hiện đại khác trong canh tác lúa đã trở nên quen thuộc. Không còn cảnh “Ngửa mặt trông trời” hay “may nhờ rủi chịu”, canh tác mùa vụ được thực hiện nghiêm ngặt theo quy trình, đáp ứng đầy đủ những điều kiện nghiêm ngặt của những thị trường khó tính như: châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia…

Giáo sư Võ Tòng Xuân - Hiệu trưởng danh dự Trường Đại học Nam Cần Thơ, Giáo sư “gạo” của Việt Nam cho rằng, tình trạng “trúng mùa, rớt giá” của nền nông nghiệp Việt Nam cần phải chấm dứt. “Nếu nền “kinh tế giải cứu” còn tồn tại, nông dân sẽ tiếp tục sản xuất. Do đó, người nông dân cần được phổ biến, cập nhật kiến thức về kinh tế nông nghiệp để có thể tự tính toán, giải quyết được các yếu tố về nhu cầu thị trường, chi phí sản xuất, chất lượng nông sản, chuỗi ngành hàng giá trị bền vững thì mới có thành công.

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để thích ứng (Bài 2) ảnh 5Giáo sư Võ Tòng Xuân - Hiệu trưởng danh dự Trường Đại học Nam Cần Thơ trả lời phỏng vấn các phóng viên ngay trên bờ ruộng của ông Nguyễn Văn Một ở ấp Tân An, xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Trọng Chính

“Người nông dân cũng cần biết chủ động liên kết, cùng bắt tay nhau trong những hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới để tạo thành một cánh đồng lớn sẵn sàng liên kết với các nhà đầu tư lớn xây dựng vùng công nghiệp sản xuất lúa sạch, rau quả sạch, hoặc vùng công nghiệp thủy sản sạch, cung cấp cho doanh nghiệp, từ đó sản phẩm của nông dân sẽ được tiêu thụ ở thị trường quốc tế”, Giáo sư Võ Tòng Xuân nhận định.

Theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, người nông dân cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, doanh nghiệp. Kết nối này cần được thực hiện trên tinh thần minh bạch, công bằng, phát huy lợi ích nhiều mặt, từ đó, ngành nông nghiệp phát triển ngày càng bền vững.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thích ứng với những tác động không mong muốn hay đón nhận cơ hội từ thách thức này tùy thuộc vào quyết định của từng nông dân. Thay đổi để thích ứng, học hỏi để thành công, chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp không dễ nhưng với sự chung tay hỗ trợ của Nhà nước, doanh nghiệp, chuyên gia nông nghiệp, với sự cần cù, sáng tạo của nông dân Việt, ngành Nông nghiệp Việt Nam, vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long chắc chắn sẽ đón được những thời cơ mới. (Xem tiếp Bài 3: Biến thách thức thành cơ hội phát triển

Thu Phương

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.