Phát triển sinh kế từ nghề miến dong ở Bản Xèo

Phát triển sinh kế từ nghề miến dong ở Bản Xèo

Các lớp tập huấn do địa phương tổ chức giúp người làm miến dong ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) bổ sung kiến thức kinh doanh, quảng bá và bán hàng trực tuyến, có thêm kỹ năng tìm kiếm khách hàng, tiêu thụ sản phẩm. Từ thực tế áp dụng tại các hộ gia đình, hợp tác xã, việc học gắn với giải quyết những khó khăn về kỹ thuật, tổ chức sản xuất và đầu ra góp phần nâng hiệu quả nghề truyền thống, tạo điều kiện duy trì việc làm, mở thêm cơ hội thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.

ban-xeo-2855.jpg
Người dân thu hoạch dong riềng, nguồn nguyên liệu phục vụ nghề sản xuất miến.
ban-xeo-5332.jpg
Khu vực phơi miến của Hợp tác xã miến dong Hưng Hiền, xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai), một cơ sở tạo việc làm cho lao động địa phương từ nghề truyền thống.
ban-xeo-9554.jpg
Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.
ban-xeo-7852.jpg
Gia đình bà Nông Thị Xiu, người Giáy ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai), duy trì nghề làm miến với nhiều công đoạn thủ công, kết hợp sử dụng máy nghiền và máy cán sợi.
ban-xeo-5592.jpg
Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.
ban-xeo-4879.jpg
Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.
ban-xeo-7739.jpg
Sản xuất bánh miến tại Hợp tác xã miến dong Hưng Hiền, xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai).
Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.

Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.

Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.

Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.

ban-xeo-2369.jpg
Hợp tác xã miến dong Hưng Hiền tại xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) được địa phương hỗ trợ tập huấn kỹ năng quảng bá và bán hàng trực tuyến để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Phạm Tuấn Anh/TTXVN
Dân tộc Giáy

Tên tự gọi: Giáy

Tên gọi khác: Nhắng, Giẳng

Dân số: 58.617 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Giáy thuộc ngữ hệ Thái - Ka Ðai.

Lịch sử: Người Giáy từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Giáy có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên những triền ruộng bậc thang. Bên cạnh đó họ còn làm thêm nương rẫy trồng ngô, lúa, các loại cây có củ và rau xanh. Chăn nuôi theo lối thả rông. Có một số nghề thủ công nhưng chưa phát triển.

Ăn: Ăn cơm tẻ. Gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ đồ lên như đồ xôi. Nước luộc gạo dùng làm đồ uống. Cách chế biến món ăn, nhất là ăn trong ngày lễ, ngày tết chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Hán.

Mặc: Trước kia phụ nữ mặc váy xoè giống như váy của người Mông. Ngày nay họ mặc quần màu chàm đen có dải vải đỏ đắp trên phần cạp, áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải, hò áo và cổ tay áo viền những dải vải khác màu. Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc. Vai khoác túi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc. Nam giới mặc quần lá toạ, áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực.

Ở: Người Giáy cư trú ở các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương (Lào Cai), Yên Minh, Ðồng Văn (Hà Giang), Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu). Nhà sàn là nhà ở truyền thống. Hiện nay, kiểu nhà sàn vẫn phổ biến trong bộ phận người Giáy ở Hà Giang, còn bộ phận ở Lào Cai và Lai Châu ở nhà đất nhưng phía trước nhà vẫn là sàn phơi. Nhà thường có 3 gian, bàn thờ đặt ở gian giữa.

Phương tiện vận chuyển: Họ gánh bằng dậu, dùng ngựa thồ, trâu kéo.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Giáy có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Tầng lớp trên là những chức dịch trong bộ máy chính quyền ở xã, thôn bản, nhiều người được hưởng ruộng công do dân cày cấy, có rừng thảo quả do dân trồng, có lính phục dịch, có người lo việc tang, việc cưới, đôi khi có cả đội xoè. Nông dân, ngoài đóng thuế còn phải làm lao dịch và cống nạp cho các chức dịch.

Cưới xin: Gồm nhiều nghi lễ: dạm hỏi, thả mối, ăn hỏi, cưới và lại mặt. Trong lễ ăn hỏi nhà trai đưa cho nhà gái một vòng cổ và một vòng tay để "đánh dấu". Trong lễ cưới ngoài chi phí cho ăn uống, nhà trai còn phải mang cho nhà gái một số thực phẩm và tiền để làm quà tặng họ hàng gần; mỗi người một con gà, một con vịt và một đồng bạc trắng. ở người Giáy cũng có tục kéo vợ như người Mông.

Sinh đẻ: Khi có thai phụ nữ phải kiêng nhiều thứ: không đun củi từ ngọn lên gốc (sợ đẻ ngược), không đến đám tang hay nơi thờ cúng (sợ mất vía). Gần đến ngày đẻ, họ phải cúng mụ. Trẻ đầy tháng cúng báo tổ tiên, đặt tên và lập lá số cho trẻ để sau này đem so tuổi khi lấy vợ, lấy chồng và chọn giờ nhập quan, hạ huyệt khi chết đi.

Ma chay: Người Giáy cho rằng khi người ta chết, nếu ma chay chu đáo thì sẽ được lên trời sống sung sướng cùng với tổ tiên, nếu không sẽ bị đưa xuống âm ti hoặc biến thành con vật. Vì thế, ở những gia đình khá giả đám tang có thể kéo dài tới 5-7 ngày và có thêm một số nghi lễ như thả đèn trôi sông, rước hồn đi dạo... Con cái để tang bố mẹ một năm. Lễ đoạn tang thường được tổ chức vào dịp cuối năm.

Thờ cúng: Bàn thờ đặt ở gian giữa, thường có ba bát hương theo thứ tự từ trái sang phải thờ táo quân, trời đất và tổ tiên. Trong trường hợp chủ nhà là con nuôi hay con rể thừa tự muốn thờ họ bố mẹ đẻ thì đặt thêm một bát hương ở bên trái. Những gia đình không thờ bà mụ trong buồng thì đặt thêm một bát hương ở bên phải. Ở một số gia đình ngoài bàn thờ lớn còn đặt một bàn thờ nhỏ để thờ bố mẹ vợ. Phía dưới bàn thờ lớn ngay trên mặt đất đặt một bát hương cúng thổ địa, ở hai bên cửa chính có hai bát hương thờ thần giữ cửa.

Lễ tết: Người Giáy ăn Tết như các dân tộc ở vùng Ðông Bắc: Tết Nguyên đán, Thanh minh, Ðoan ngọ....

Lịch: Người Giáy theo âm lịch.

Học: Người Giáy chưa có văn tự, chỉ có một số rất ít người biết chữ Hán.

Văn nghệ: Trong kho tàng văn nghệ của người Giáy có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, đồng dao, phong dao... Ở người Giáy có ba kiểu hát mà họ gọi là "vươn" hay "phướn" hát bên mâm rượu, hát đêm và hát tiễn dặn...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Giáy

Có thể bạn quan tâm

Người có uy tín vận động đồng bào phát triển kinh tế, chấp hành quy định pháp luật

Người có uy tín vận động đồng bào phát triển kinh tế, chấp hành quy định pháp luật

Ông Y Hồng, người có uy tín tại Suối Sim (Khánh Hòa) đang đồng hành cùng bà con Ê Đê trồng cây dược liệu, tạo thêm hướng phát triển kinh tế. Từ việc làm gương, hướng dẫn sản xuất đến vận động chấp hành pháp luật, ông góp phần giúp người dân từng bước thay đổi cách nghĩ, cách làm.

Tuyên Quang chú trọng đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng

Tuyên Quang chú trọng đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng

Nhằm tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng không gian phát triển đến năm 2030, tỉnh Tuyên Quang đang tập trung đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng, tạo sức lan tỏa và dẫn dắt phát triển gắn với quy hoạch tỉnh và điều chỉnh quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thái Nguyên đưa tuyến xe buýt điện đầu tiên vào hoạt động

Thái Nguyên đưa tuyến xe buýt điện đầu tiên vào hoạt động

Nhân kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh Thái Nguyên và Festival trà quốc tế - Thái Nguyên 2026, sáng 30/10, Công ty Cổ phần thương mại và du lịch Hà Lan đã tổ chức khai trương tuyến xe buýt điện số 01, kết nối Tân Long (Thái Nguyên) - Đa Phúc (Hà Nội).

Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Giữa đại ngàn Ngọc Linh, xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng, học sinh dân tộc Xơ Đăng đang từng bước tiếp cận máy tính, internet và những bài học trực quan.

Cây hồi mở hướng phát triển kinh tế vùng biên xứ Lạng

Cây hồi mở hướng phát triển kinh tế vùng biên xứ Lạng

Từ lâu, cây hồi đã gắn bó với người dân xứ Lạng. Mùa thu hoạch chính từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm. Đây là cây trồng chủ lực phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Lạng Sơn, cây hồi không chỉ phủ xanh đất mà còn đem lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương.

Thay đổi cách làm để giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Thay đổi cách làm để giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Từ những mô hình hỗ trợ sinh kế thiết thực, nhiều hộ nghèo, cận nghèo tại các xã vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk đã từng bước cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống. Qua đó, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, tạo nền tảng để địa phương thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đưa các xã, thôn, buôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vào năm 2030.

Nông dân tự tin chuẩn hóa thương hiệu cho nông sản

Nông dân tự tin chuẩn hóa thương hiệu cho nông sản

Thay vì chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm tương tác hay những đơn hàng nhỏ lẻ trên không gian mạng, nhiều nông dân tại Quảng Ninh đang tận dụng lợi thế từ các nền tảng số để từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu bài bản.