Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo
Nhiều năm qua, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo nhiều chuyển biến mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
Tại xã Song Lộc, nhiều phụ nữ Khmer đã có điều kiện vươn lên từ chính những khoản vay ưu đãi. Trước đây, gia đình chị Thạch Thị Chane Tha thuộc diện hộ nghèo, không có đất sản xuất, thu nhập chủ yếu dựa vào làm thuê theo thời vụ. Khi được Hội Liên hiệp Phụ nữ xã tạo điều kiện tiếp cận khoản vay 35 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội, chị đầu tư cải tạo đất, trồng rau màu ngắn ngày, lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm nước và từng bước mở rộng sản xuất.
Nhờ sử dụng vốn đúng mục đích, áp dụng kỹ thuật canh tác phù hợp, mô hình sản xuất mang lại hiệu quả ngày càng cao, giúp gia đình chị thoát nghèo và ổn định cuộc sống.
Cũng từ nguồn vốn tín dụng ưu đãi, gia đình bà Thạch Thị Oanh đã đầu tư chăn nuôi bò sinh sản. Từ 5 con bò ban đầu, đến nay đàn bò phát triển lên 26 con. Mỗi năm, gia đình bán khoảng 10 bê con, thu về khoảng 180 triệu đồng. Có nguồn thu ổn định, bà tiếp tục cải tạo vườn tạp, mở rộng diện tích sản xuất và đa dạng hóa sinh kế.
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thoảng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Song Lộc, xã hiện có hơn 5.200 hội viên phụ nữ; trong đó, phụ nữ dân tộc Khmer chiếm trên 50%. Thời gian qua, Hội tập trung hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế gia đình, đặc biệt tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc Khmer tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đầu tư trồng trọt, chăn nuôi, cải thiện sinh kế.
Theo tỉnh ủy Vĩnh Long, trong những năm qua, các cấp ủy, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trên địa bàn tỉnh đã quyết tâm thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia đạt nhiều kết quả tích cực, nhận thức về xây dựng nông thôn mới nâng lên rõ rệt; vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới được phát huy; kinh tế - xã hội khu vực nông thôn phát triển, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị ngày càng được thu hẹp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung đầu tư; hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn; quốc phòng - an ninh được bảo đảm.
Giai đoạn 2021 - 2025, toàn tỉnh Vĩnh Long đã huy động, lồng ghép từ nhiều nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp cho việc xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên 29.381 tỷ đồng. Nguồn vốn này được ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học, cơ sở y tế, các công trình dân sinh, đồng thời hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân.
Nhờ đó, đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 0,88%, hộ cận nghèo còn 1,94%. Đối với đồng bào Khmer, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,6%, hộ cận nghèo còn 3,2%.
Đến cuối năm 2025, tỉnh còn 8.737 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,88%; 19.246 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 1,94% so tổng hộ dân, trong đó, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer giảm còn 1,6% và hộ cận nghèo giảm còn 3,2% so với hộ dân tộc Khmer, hộ nghèo dân tộc Hoa giảm còn 9 hộ và hộ cận nghèo còn 31 hộ... Đây là những con số cho thấy hiệu quả của việc kết hợp đầu tư hạ tầng với các chính sách hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm và phát triển sản xuất.
Tín dụng chính sách - điểm sáng trong công tác giảm nghèo
Một trong những điểm sáng của công tác giảm nghèo của tỉnh Vĩnh Long là việc phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội thông qua hình thức ủy thác với các tổ chức đoàn thể, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận vốn, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn.
Theo Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Châu Thành, đơn vị hiện triển khai 14 chương trình tín dụng ưu đãi dành cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, giải quyết việc làm và nhiều đối tượng chính sách khác.
Đến nay, tổng dư nợ tại 6 xã, phường trên địa bàn đạt hơn 708 tỷ đồng, với hơn 23.000 khoản vay, phục vụ gần 19.000 hộ dân. Trong đó, dư nợ ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội chiếm trên 99%, cho thấy vai trò rất lớn của các hội, đoàn thể trong việc đưa nguồn vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng.
Riêng Hội Liên hiệp Phụ nữ đang quản lý dư nợ hơn 367 tỷ đồng với trên 12.000 khoản vay. Không chỉ giúp hội viên tiếp cận vốn, các cấp Hội còn hướng dẫn xây dựng mô hình sản xuất phù hợp, tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị.
Hiện toàn tỉnh Vĩnh Long có 75 hợp tác xã và 701 tổ hợp tác với hàng chục nghìn hội viên phụ nữ tham gia. Đây là nền tảng quan trọng để nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả, nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững.
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, Vĩnh Long xác định xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả hệ thống chính trị.
Theo kế hoạch của UBND tỉnh Vĩnh Long, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có ít nhất 11 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; không còn xã, ấp đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn phấn đấu tăng ít nhất 2,5 lần so với năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm theo chuẩn nghèo đa chiều; đồng thời kiểm soát hiệu quả nguy cơ tái nghèo.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, tỉnh Vĩnh Long dự kiến bố trí khoảng 16.590 tỷ đồng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2026 - 2030. Nguồn lực sẽ được ưu tiên cho các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, kết hợp đầu tư hạ tầng với phát triển sinh kế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đáng chú ý, tỉnh Vĩnh Long sẽ tiếp tục cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; phát triển các sản phẩm OCOP, du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng; nghiên cứu thành lập quỹ phát triển xanh, quỹ khởi nghiệp cho thanh niên dân tộc thiểu số; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế nông thôn.
Song song đó, tỉnh tiếp tục mở rộng tín dụng chính sách, phấn đấu 100% đối tượng đủ điều kiện và có nhu cầu đều được tiếp cận vốn vay để phát triển sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập.
Với vai trò kiến tạo, Tỉnh ủy Vĩnh Long cho rằng, quan điểm xuyên suốt trong giai đoạn mới là phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, gắn xây dựng nông thôn mới với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; lấy người dân làm chủ thể, doanh nghiệp và hợp tác xã là động lực, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và hỗ trợ.
Để thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2035, tỉnh ủy Vĩnh Long tiếp tục huy động tối đa các nguồn lực xã hội, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn