Trà Vinh bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào Khmer Nam Bộ

Tỉnh Trà Vinh có tổng dân số trên 1 triệu người; trong đó, đồng bào Khmer chiếm gần 32% dân số. Địa phương luôn chú trọng công tác bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào Khmer Nam Bộ. Trong tỉnh, nhiều trường học và chùa Phật giáo Nam tông Khmer dạy tiếng nói, chữ viết cho đồng bào.

Hành trình gieo tiếng “mẹ đẻ”

Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh) được Chính phủ giao thực hiện nhiệm vụ trọng điểm quốc gia đào tạo nhân lực về Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ.

vna_potal_“gieo”_tieng_me_de_cho_dong_bao_khmer_7251386.jpg
Tiến sĩ Tăng Văn Thòn (đứng), Giảng viên Trường Ngôn ngữ- Văn hóa- Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn trong một buổi dạy ngôn ngữ Khmer tại trường. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN

Tiến sĩ Tăng Văn Thòn là giảng viên Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh). Sinh năm 1982, thầy giáo Thòn xuất thân trong một gia đình trung nông ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh - địa phương có đồng bào Khmer chiếm trên 60% dân số huyện. Cha mẹ cùng là người Khmer, từ nhỏ, thầy thường xuyên được nghe tiếng nói của dân tộc mình.

Niềm đam mê với ngôn ngữ này chính thức bắt đầu khi cậu bé Tăng Văn Thòn học hết Trung học Cơ sở, vào chùa Mé Láng, thị trấn Định An (huyện Trà Cú) để tu học theo phong tục của đồng bào Khmer. Tại đây, được các vị sư trong chùa truyền dạy học tiếng nói, chữ viết Khmer, Tăng Văn Thòn dần say mê rồi ấp ủ ước mơ trở thành thầy giáo để “gieo” tiếng mẹ đẻ cho thế hệ sau và bắt đầu hành trình đi tìm tri thức.

Sau khi hoàn thành Chương trình Trung cấp Pali Khmer (thuộc hệ thống Giáo dục của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Trà Vinh), ông xuất tu và học tiếp Trung học Phổ thông, Cao đẳng, Đại học. Năm 2013, với thành tích học tập tốt, sau khi tốt nghiệp Đại học ngành Văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Trường Đại học Trà Vinh, ông được nhà trường giữ lại làm chuyên viên Ban Giới và Dân tộc. Chính môi trường này giúp cậu thiếu niên Khmer ngày nào có cơ hội học tiếp và cập bến bờ tri thức, hiện thực hóa ước mơ sau hành trình dài kiên trì, bền bỉ đi tìm con chữ.

vna_potal_“gieo”_tieng_me_de_cho_dong_bao_khmer_7251385.jpg
Tiến sĩ Tăng Văn Thòn (bên trái), Giảng viên Trường Ngôn ngữ- Văn hóa- Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn trong một buổi dạy ngôn ngữ Khmer tại trường. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN

Đến tháng 7/2023, ông Thòn đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Vương quốc Campuchia theo chương trình học bổng diện Hiệp định giữa hai quốc gia Việt Nam và Campuchia, hoàn thành trước 4 tháng so với kế hoạch và trở về trường tiếp tục sự nghiệp gieo niềm đam mê ngôn ngữ Khmer.

Tiến sĩ Tăng Văn Thòn chia sẻ, tính đến nay, ông đã tham gia 9 khóa đào tạo bộ môn ngôn ngữ Khmer, với khoảng 200 sinh viên chính quy và 300 sinh viên vừa học vừa làm. Nhiều em đã tốt nghiệp và công tác tại cơ quan các tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều em đã tiếp nối hành trình gieo chữ "mẹ đẻ" cho thế hệ sau, có em trở thành phiên dịch viên cho các Công ty ở nước ngoài… Từ năm 2020, Tiến sĩ Tăng Văn Thòn đảm nhiệm thêm chức danh Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc gia thẩm định sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số - tiếng Khmer.

Tích cực bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào Khmer

Tại Trà Vinh hiện nay, việc dạy ngôn ngữ mẹ đẻ cho đồng bào Khmer rất phổ biến. Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Trà Vinh Nguyễn Thị Bạch Vân cho biết, ngành Giáo dục và Đào tạo địa phương đã đưa chương trình dạy chữ Khmer vào các cơ sở giáo dục trên địa bàn. Bình quân mỗi năm học, toàn tỉnh có trên 100 cơ sở giáo dục phổ thông tổ chức dạy chữ Khmer với hơn 800 lớp và 19.000 học sinh học. Riêng năm học 2023 - 2024, tỉnh có 125 trường học dạy tiếng Khmer cho gần 36.000 học sinh; trong đó, cấp Tiểu học có 80 trường, Trung học cơ sở 41 trường và Trung học phổ thông 4 trường.

vna_potal_“gieo”_tieng_me_de_cho_dong_bao_khmer_7251381.jpg
Tiến sĩ Tăng Văn Thòn (bên phải), Giảng viên Trường Ngôn ngữ- Văn hóa- Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn trong một buổi dạy ngôn ngữ Khmer tại trường. Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Bên cạnh đó, địa phương còn tổ chức các lớp bổ túc văn hóa tiếng Khmer tại các điểm chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Các lớp học này do các vị sư và Achar (người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số) thông thạo tiếng Khmer đảm nhiệm công tác giảng dạy. Hơn 10 năm nay, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho trên 2.000 vị Sư và Achar để phục vụ tốt công tác giảng dạy. Những người dạy học tiếng Khmer tại các điểm chùa Phật giáo Nam tông Khmer trong tỉnh được hỗ trợ 35.000 đồng/tiết học.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh Lê Thanh Bình cho biết, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; trong đó có ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Là địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer, Trà Vinh luôn chú trọng vấn đề này. Tỉnh thường xuyên đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với việc dạy học tiếng Khmer; quyền lợi và trách nhiệm giữ gìn, phát huy giá trị tiếng nói, chữ viết của dân tộc Khmer.

Cùng với đó, UBND tỉnh chỉ đạo ngành Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy tiếng Khmer; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tiếng Khmer.

Tỉnh Trà Vinh hiện có 160 trường Tiểu học, 101 trường Trung học cơ sở, 35 trường Trung học phổ thông, 9 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, 1 trường Trung cấp Pali Khmer, 1 trường Thực hành sư phạm (trực thuộc Trường Đại học Trà Vinh). Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2025, 100% cơ sở giáo dục phổ thông cấp tiểu học đủ điều kiện tổ chức dạy tiếng Khmer; 45% giáo viên dạy tiếng Khmer đạt chuẩn đào tạo theo quy định. Đến năm 2030, tổ chức dạy học tiếng Khmer tại 100% cơ sở, giáo dục phổ thông cấp trung học cơ sở đủ điều kiện; 100% giáo viên dạy tiếng Khmer đạt chuẩn đào tạo theo quy định.

Không chỉ góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, việc bảo tồn, gìn giữ những giá trị ngôn ngữ dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh còn giúp tình đoàn kết của hai dân tộc Kinh - Khmer ngày càng được thắt chặt, là tiền đề để địa phương phát huy sức mạnh nội lực xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng giàu đẹp.

Thanh Hòa

(TTXVN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Đánh thức vùng chè Shan tuyết cổ thụ Hồ Thầu

Đánh thức vùng chè Shan tuyết cổ thụ Hồ Thầu

Cây chè Shan Tuyết ở xã Hồ Thầu, tỉnh Tuyên Quang được đánh giá cao nhờ điều kiện tự nhiên đặc biệt: khí hậu mát mẻ, độ cao lý tưởng và hệ sinh thái rừng nguyên sinh, tạo nên hương vị riêng biệt, khó trộn lẫn. Chính quyền và người dân địa phương đang từng bước xây dựng chuỗi liên kết, gắn với chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch trải nghiệm.

Tuyên Quang có khả năng cao xảy ra mưa đá và gió giật mạnh

Tuyên Quang có khả năng cao xảy ra mưa đá và gió giật mạnh

Ngày 3/5, nhiều khu vực của tỉnh Tuyên Quang như: Xuân Giang, Tân Trịnh, Bằng Lang, Yên Thành, Minh Xuân, Hồng Sơn, Đông Thọ, Trường Sinh, Phú Lương, Bình Ca, Bình Thuận, Minh Quang, Hồng Thái, Yên Lập... đã xuất hiện mưa rào và dông do ảnh hưởng của các vùng mây đối lưu phát triển mạnh.

Bộ đội Biên phòng Quảng Trị kịp thời xử lý hiệu quả nhiều tình huống trong ngày nghỉ lễ

Bộ đội Biên phòng Quảng Trị kịp thời xử lý hiệu quả nhiều tình huống trong ngày nghỉ lễ

Trong những ngày nghỉ lễ 30/4 và 1/5, cùng với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị đã chủ động bám địa bàn, kịp thời hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, tham gia chữa cháy rừng và cứu nạn, cứu hộ, góp phần bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, giữ bình yên địa bàn tuyến biên giới.

Điểm tựa lòng dân nơi vùng cao, biên giới Sơn La

Điểm tựa lòng dân nơi vùng cao, biên giới Sơn La

Bên cạnh nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự, lực lượng Công an tỉnh Sơn La còn trực tiếp tham gia hỗ trợ người dân tại các địa bàn vùng cao, biên giới khi xảy ra sự cố, thiên tai. Trong điều kiện địa hình phức tạp, đi lại khó khăn, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã tham gia đưa người bị nạn đi cấp cứu, hỗ trợ khắc phục hậu quả, góp phần ổn định đời sống người dân, trở thành điểm tựa vững chắc tại cơ sở.

Bữa cơm bán trú tiếp sức học sinh vùng cao đến trường

Bữa cơm bán trú tiếp sức học sinh vùng cao đến trường

Sự thay đổi từ những bữa ăn trưa tại trường đã tác động rõ nét đến đời sống của học sinh vùng cao Nghệ An. Đối với nhiều em, đó không chỉ là một bữa ăn đơn thuần mà còn là bước ngoặt trong sinh hoạt hằng ngày.

Khi doanh nghiệp ‘bắt tay’ nông dân

Khi doanh nghiệp ‘bắt tay’ nông dân

Không chỉ bao tiêu sản phẩm, nhiều doanh nghiệp đang tham gia sâu vào sản xuất, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, tổ chức chuỗi liên kết, giúp nông dân ổn định sinh kế và phát triển bền vững. Việc tham gia sâu vào chuỗi sản xuất không chỉ giúp cả doanh nghiệp và nông dân giảm bớt rủi ro mà còn nâng sức cạnh tranh cho nông sản Việt.

Lào Cai xuất hiện mưa đá, nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở

Lào Cai xuất hiện mưa đá, nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở

Chiều 2/5, tại các xã Minh Lương, Nậm Xé (tỉnh Lào Cai) đã xảy ra mưa đá, gây ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân. Chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đang khẩn trương hỗ trợ bà con khắc phục hậu quả, nhanh chóng ổn định cuộc sống và giảm thiểu thiệt hại.

Không gian văn hóa đa sắc tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Không gian văn hóa đa sắc tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Hoà trong chuỗi hoạt động mừng Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5, chương trình dân ca, dân vũ “Xúng xính chợ phiên” tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam tái hiện sinh động không gian chợ vùng cao qua các tiết mục đan xen và hoạt động giao lưu, trải nghiệm cùng du khách.

Đổi thay trong vùng 'Căn cứ Bắc' ở Nam Tây Nguyên

Đổi thay trong vùng 'Căn cứ Bắc' ở Nam Tây Nguyên

Từng là nơi đón tiếp cán bộ, xây dựng căn cứ chiến lược cho thời kỳ kháng chiến, đến nay vùng "Căn cứ Bắc" (xã Lộc Bắc cũ, nay là xã Bảo Lâm 5, Lâm Đồng) đã vươn mình, thay da đổi thịt đem đến cuộc sống ấm no cho đồng bào các dân tộc nơi đây.

Giữ vững thế trận Biên phòng nơi tuyến đầu, bảo vệ vững chắc 'phên giậu' của Tổ quốc

Giữ vững thế trận Biên phòng nơi tuyến đầu, bảo vệ vững chắc 'phên giậu' của Tổ quốc

Trong tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp là bước đi tất yếu nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhất là ở khu vực biên giới của Tổ quốc. 

Những người không ngủ nơi phên dậu Tổ quốc

Những người không ngủ nơi phên dậu Tổ quốc

Trong những ngày nghỉ lễ dịp 30/4-1/5, trên tuyến biên giới miền Tây Nghệ An, cán bộ, chiến sĩ các đồn biên phòng bước vào cao điểm trực sẵn sàng chiến đấu. Quân số được duy trì nghiêm túc 24/24 giờ, các tổ, chốt được tăng cường, sẵn sàng xử lý mọi tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ.

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Giữa núi non trùng điệp của Tuyên Quang, những phiên chợ vùng cao hiện lên như bức tranh sống động, đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc.

Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, chợ còn là không gian gặp gỡ, giao lưu, nơi lưu giữ những phong tục, tập quán và nét sinh hoạt mộc mạc, chân tình của đồng bào, tạo nên sức hút riêng cho du lịch vùng cao.

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Nằm ở cửa ngõ Tây Nam đất nước, An Giang không chỉ gánh vác sứ mệnh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng mà còn là “cầu nối” chiến lược trong dòng chảy hội nhập quốc tế. Với đường biên giới dài gần 150km, tỉnh vừa giữ vững từng tấc đất biên cương, vừa phát triển kinh tế biên mậu, nâng cao đời sống người dân vùng biên, xây dựng vùng biên giới thành “phên giậu” vững chắc của Tổ quốc.

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), ngày 30/4, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) đã tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và phối hợp với nhóm thiện nguyện “Vì nụ cười trẻ thơ” thành phố Hải Phòng bàn giao 5 công trình giếng khoan phục vụ dân sinh cho người dân trên địa bàn xã Hướng Phùng.

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết trong mùa khô, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, bảo vệ rừng đang trở thành giải pháp quan trọng. Tại Hạt kiểm lâm Sìn Hồ, Chi cục Kiểm lâm Lai Châu, hệ thống quan trắc, cảnh báo cháy rừng sớm đã phát huy hiệu quả, giúp lực lượng kiểm lâm chủ động hơn trong phát hiện và xử lý các điểm cháy.

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Nằm giữa lòng vùng Bảy Núi huyền thoại, xã Ô Lâm (tỉnh An Giang) hôm nay không chỉ là bản hùng ca bất tử về tinh thần “kiên cường bám trụ, giữ vững núi Tô”, mà còn là minh chứng sống động cho sự hồi sinh kỳ diệu từ tro tàn chiến tranh. Tựa lưng vào những địa danh lịch sử lừng lẫy, vùng đất căn cứ cách mạng năm xưa đang chuyển mình mạnh mẽ trong vận hội mới, viết tiếp chương sử ấm no trên hành trình xây dựng nông thôn mới trù phú, an lành.

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Mô hình liên kết sản xuất lúa gạo sạch tại xã Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã chứng minh một điều, khi nông dân, doanh nghiệp và địa phương cùng tham gia, hạt lúa có thêm cơ hội nâng cao giá trị. Quy trình canh tác an toàn, đầu ra ổn định, lợi nhuận tăng là những yếu tố triển vọng để nhân rộng trong thời gian tới.

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

Mùa khô ở Tây Nguyên, giữa nắng như thiêu như đốt trong rừng khộp Buôn Đôn, nài voi của của Trung tâm Bảo tồn voi, cứu hộ động vật và quản lý bảo vệ rừng tỉnh Đắk Lắk vẫn rong ruổi cùng những chú voi đi tìm kiếm nguồn nước, thức ăn và chăm sóc sức khỏe cho voi.

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

Chăn nuôi ngựa, nhất là ngựa bạch những năm gần đây đang phát triển mạnh ở các địa phương tại tỉnh Lạng Sơn. Vật nuôi này mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp đồng bào các dân tộc xứ Lạng ổn định cuộc sống, nhiều hộ vươn lên làm giàu...

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Không còn bó hẹp trong những chiếc bảng đen, phấn trắng truyền thống, những tiết học tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Trung Chải (xã Pa Tần, tỉnh Lai Châu) giờ đây trở lên sinh động từ những màn hình tương tác thông minh.

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.