Văn hóa Mường: Phát huy các giá trị truyền thống thành nguồn lực phát triển

Trong dòng chảy hội nhập và không gian phát triển được mở rộng của tỉnh Phú Thọ, văn hóa Mường đứng trước những thay đổi. Yếu tố đời sống hiện đại len lỏi trong cuộc sống hằng ngày đang làm xói mòn những hệ giá trị cũ, mai một bản sắc văn hóa Mường.

Trước thực trạng đó, nếu được nhìn nhận đúng và đầu tư bài bản, di sản có thể trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ cho phát triển bền vững của tỉnh Phú Thọ, nơi văn hóa bản địa được xác định là trụ cột vừa giữ gìn truyền thống, vừa tạo động lực phát triển cho kinh tế - xã hội.

muong-12326-16.jpg
Nghề đan thủ công của người Mường sử dụng tre, nứa, mây để tạo ra các vật dụng, thể hiện sự khéo léo và kinh nghiệm lao động truyền đời.

Thay đổi theo dòng chảy phát triển

Đến nay, trong nhiều bản Mường ở Phú Thọ, nhà sàn truyền thống, biểu tượng của đời sống văn hóa đang giảm dần trước sức ép của đô thị hóa và thay đổi nhu cầu sinh hoạt. Tiếng Mường, vốn gắn chặt với ngôn ngữ diễn xướng Mo, chiêng Mường, câu hát sắc bùa ngày càng ít được sử dụng trong giao tiếp, nhất là trong giới trẻ.

Cụ ông Bùi Xuân Nhứng (xóm Lội Mương, xã Thượng Cốc thuộc vùng đất cổ Mường Vang) chia sẻ: “Trước kia, trong bản ai cũng nói tiếng Mường. Giờ trẻ con đi học nhiều, nói tiếng phổ thông nhiều hơn, trang phục Mường cũng chỉ còn xuất hiện trong những ngày lễ, ngày hội của làng xóm. Những nếp nhà sàn truyền thống giờ cũng dần bị thay thế bởi những ngôi nhà tường xây, bê tông kiên cố hiện đại”.

Sự thay đổi này cũng là lẽ thường theo dòng chảy của phát triển. Tuy nhiên điều này đang tạo ra nguy cơ cấp bách khi giá trị cốt lõi trong văn hóa Mường có thể bị mai một nếu không có những giải pháp căn cơ và linh hoạt. Nhà nghiên cứu Bùi Huy Vọng nhấn mạnh: “Chỉ khi Tiếng Mường được truyền dạy rộng rãi trong cộng đồng, Mo Mường mới được bảo tồn trọn vẹn. Mất tiếng nói là mất ký ức”.

muong-12326-20.jpg
Phụ nữ Mường Bi chơi trò đánh mảng trong ngày vui tết cổ truyền.

Theo ông Dương Hoàng Hương, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ, hiện đã có 39 di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh được công nhận cấp quốc gia; trong đó nhiều di sản liên quan tới cộng đồng người Mường như: Trình diễn nghệ thuật, lễ hội, phong tục tập quán, Mo Mường… góp phần khẳng định chiều sâu, sự đa dạng và giá trị lâu đời của văn hóa dân tộc Mường.

Bên cạnh đó, việc Mo Mường và nhiều biểu tượng văn hóa khác đang được đệ trình lên UNESCO để công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại phản ánh một bước tiến lớn trong công tác bảo tồn và khẳng định giá trị của di sản. Qua đó, nhiều câu lạc bộ văn hóa Mường đã được thành lập trong trường học và cộng đồng để duy trì và truyền dạy chiêng, dân ca, trang phục và chữ Mường. Học sinh được khuyến khích tham gia các hoạt động, tạo môi trường để tiếng Mường, lời Mo tiếp tục tồn tại trong đời sống văn hóa của thế hệ trẻ.

muong-12326-17.jpg
Trẻ em dân tộc Mường chơi những trò chơi truyền thống trong ngày Tết.

Tại xã Kim Bôi, bà Đinh Thị Kiều Dung với hơn 20 năm dạy dân ca Mường cho các thế hệ tâm sự: “Phải làm sao để các cháu hát được, nói được thì văn hóa, tiếng nói Mường mới được gìn giữ và phát triển”.

Ở xã Thanh Sơn, các câu lạc bộ văn hóa dân tộc Mường đã thu hút hơn 200 thành viên hoạt động tích cực trong việc giữ gìn bản sắc; đồng thời tạo thành hạt nhân lan tỏa giá trị văn hóa trong cộng đồng. Song song với đó, việc duy trì các loại nghề truyền thống cũng được địa phương duy trì. Nghề dệt thổ cẩm Mường - biểu tượng của sự khéo léo và tính thẩm mỹ trong văn hóa Mường từng có thời điểm tưởng chừng bị mai một nhưng nay đã được phục hồi mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của nhiều phụ nữ và thanh niên. Từ đó, mở ra cơ hội sinh kế mới gắn với du lịch cộng đồng thông qua các tổ hợp tác, hợp tác xã hay làng nghề như: Hợp tác xã Nông nghiệp và Dệt thổ cẩm Lục Nghiệp Thành vùng đất Mường Vang (huyện Lạc Sơn cũ), Hợp tác xã thổ cẩm Đông Lai vùng Mường Bi (huyện Tân Lạc cũ)...

Theo bà Bùi Thị Lan, Hợp tác xã Nông nghiệp và Dệt thổ cẩm Lục Nghiệp Thành: "Nghề dệt thổ cẩm là nghề truyền thống của người Mường. Khi thành lập Hợp tác xã, chúng tôi đã tạo ra nhiều mẫu mã đa dạng, mô hình, đón nhiều đoàn khách đến tham quan và rất ưa chuộng sản phẩm thổ cẩm thêu tay của hợp tác xã".

Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ Bùi Xuân Trường nêu rõ, các địa phương của các vùng Mường từ nhiều năm qua đã phục hồi và tổ chức các lễ hội truyền thống gắn với sản xuất nông nghiệp và tín ngưỡng. Một số lễ hội như: Lễ hội Khai hạ, Lễ hội đình Khênh, đình Cổi... không chỉ được tổ chức trong nội bộ bản Mường mà còn được đưa vào chương trình du lịch trải nghiệm, giúp lan tỏa giá trị văn hóa ra cộng đồng. Đồng thời, địa phương chú trọng phát huy các giá trị văn hóa Mường thành nguồn lực phát triển du lịch bằng cách phục hồi lễ hội, trò chơi dân gian và đưa vào các loại hình dịch vụ đặc trưng trong các tour du lịch về các xã miền núi.

Văn hóa không chỉ là ký ức mà còn là tài sản

muong-12326-18.jpg
Hát Bộ Mẹng của Mường là hình thức dân ca truyền thống, thể hiện tình cảm, tâm tư và đời sống cộng đồng.

Để hỗ trợ cộng đồng người Mường trong bối cảnh hội nhập, tỉnh Phú Thọ đã xây dựng Đề án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Mường giai đoạn 2023 - 2030. Đề án đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể như: Số hóa tư liệu Mo, chiêng và các nghi lễ truyền thống, tạo lập kho dữ liệu di sản văn hóa bản địa; hỗ trợ nghệ nhân, tạo điều kiện để họ truyền nghề cho thế hệ kế cận; xây dựng không gian văn hóa Mường tại các điểm sinh thái, du lịch cộng đồng; kết nối các giá trị văn hóa với sản phẩm du lịch, OCOP, trải nghiệm homestay, workshop nghề truyền thống…

Những chiến lược này nhấn mạnh quan điểm “văn hóa không chỉ là di sản tinh thần, mà còn là nguồn lực phát triển”, nhằm tạo ra sự hài hòa giữa bảo tồn và khai thác bền vững - một yêu cầu thiết yếu trong dòng chảy phát triển toàn cầu.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Phùng Thị Kim Nga nhấn mạnh, văn hóa không chỉ là ký ức mà còn là tài sản. Khi được bảo tồn đúng cách và khai thác hợp lý, văn hóa Mường sẽ góp phần tạo nên bản sắc riêng trong bức tranh văn hóa đa màu sắc của tỉnh Phú Thọ trong không gian phát triển mới, kỷ nguyên hội nhập, vươn mình của dân tộc.

muong-12326-19.jpg
Khai Hạ Mường Bi là lễ hội lớn nhất của dân tộc Mường.

Gần đây, Festival Văn hóa Mường được tổ chức tại Làng Văn hóa Du lịch các dân tộc Việt Nam đã tạo ra một không gian giới thiệu rộng khắp các giá trị tinh hoa của văn hóa Mường, từ chiêng, Mo, múa dân gian đến nghệ thuật trang phục truyền thống… Hoạt động này góp phần củng cố nhận thức về bản sắc dân tộc trong cộng đồng người Việt và du khách quốc tế.

Ngoài ra, các mô hình du lịch tại Phú Thọ như: Mừng retreat (xã Cao Phong), Sánh Thuần homestay, Hữu Thảo homestay, Mơ Village (Đà Bắc), bản du lịch Đá Bia (Tiền Phong)… đã khiến các bản Mường thành điểm đến hấp dẫn - nơi du khách vừa trải nghiệm đời sống bản địa, vừa tham gia vào các hoạt động văn hóa, sinh thái; đồng thời tạo ra thu nhập ổn định cho người dân, từ dịch vụ homestay, biểu diễn văn hóa đến sản phẩm thủ công truyền thống.

Trong không gian Phú Thọ mới, hồn Mường không chỉ là một mảng ký ức, mà trở thành nguồn mạch nuôi dưỡng những khát vọng nâng tầm về những giá trị văn hóa đã được gìn giữ qua hàng nghìn năm. Giữ được hồn Mường hôm nay chính là trao cho mai sau những giá trị văn hóa mang bản sắc riêng biệt mà vững bền. Bởi con người và vùng đất Mường cổ như: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thang, Mường Động… vẫn còn đó một tiếng nói riêng, trầm sâu và bền bỉ như tiếng chiêng vang vọng giữa đại ngàn Tây Bắc./.

Bài và ảnh: Lưu Trọng Đạt/TTXVN
Dân tộc Mường

Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).

Nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi.

Dân số: 1.268.963 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...

Hoạt động sản xuất: Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.

Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).

Ăn: Họ thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.

Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.


Mặc: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.

Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.

Ở: Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.

Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.

Phương tiện vận chuyển: Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.

Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.

Quan hệ xã hội: Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình 2-3 thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.

Cưới xin: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.

Sinh đẻ: Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.

Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được 3-7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.

Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.

Ma chay: Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gia thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.

Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt. Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn bình thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma.

Lịch: Lịch cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.

Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.

Văn nghệ: Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.

Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.

Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.

Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mường

Có thể bạn quan tâm

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Sáng 22/10, Lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường năm 2026 với chủ đề “Đền Đôi Cô Cam Đường - Kết nối cội nguồn, dựng xây quê hương” do phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai tổ chức đã chính thức được khai hội thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái. Lễ hội là sự kiện văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy giá trị di tích, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và quảng bá hình ảnh phường Cam Đường đến với du khách trong và ngoài tỉnh.

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gắn với lao động sản xuất, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, nghệ thuật múa dân gian của người Cống ở Điện Biên vừa lưu giữ những giá trị văn hóa đặc trưng, vừa phản ánh đời sống của một dân tộc rất ít người. Việc nghệ thuật múa của người Cống được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể mở thêm cơ hội bảo tồn, trao truyền các điệu múa truyền thống, nhất là cho thế hệ trẻ.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Hằng năm, vào ngày Mão tháng Chín âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai tổ chức Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông nhằm tổng kết một năm lao động, sản xuất, bày tỏ lòng tri ân với Mẫu Thượng Ngàn, các đấng thần linh và tổ tiên đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Năm 2026, ngày Đinh Mão (11/9 âm lịch), tức ngày 20/10 dương lịch là ngày chính lễ với nhiều nghi thức truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của người Tày Khao.

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Lự năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Lự”, UBND xã Khun Há (Lai Châu) tổ chức tái hiện lễ hội Sú Khon Khoài, với điểm nhấn là nghi thức cúng hồn trâu.

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Tối 16/10, tại tỉnh Lào Cai, Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 với chủ đề “Tinh hoa Xòe Thái - Sắc màu Tây Bắc” được khai mạc, với điểm nhấn là màn biểu diễn đại Xòe có sự góp mặt của 2.026 người.

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Nằm ở thôn Phú Hạnh, xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, đồi Cổ Thạch thu hút du khách bởi cảnh quan núi biển giao hòa, con đường đá được người dân truyền lại là có từ hàng trăm năm trước cùng rừng duối lâu năm.

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.