Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Ngày 28/12/2025, xã Sam Mứn (tỉnh Điện Biên) tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc xã Sam Mứn lần thứ I, năm 2025, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa truyền thống, quảng bá hình ảnh quê hương, con người Sam Mứn; đồng thời tạo không gian giao lưu, gặp gỡ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

anh6-2812.jpg
Trình diễn trang phục dân tộc tại Ngày hội.
anh12-2812.jpg
Chương trình nghệ thuật khai mạc Ngày hội Văn hóa các dân tộc xã Sam Mứn.
anh7-2812.jpg
Ban Tổ chức trao cờ lưu niệm cho các đơn vị tham dự Ngày hội.
anh5-2812.jpg
Trình diễn nghi thức cúng Tết Nào Pê Chầu của đồng bào dân tộc Mông tại Ngày hội.
anh4-2812.jpg
Trình diễn nghi thức cúng Tết Nào Pê Chầu của đồng bào dân tộc Mông tại Ngày hội.
anh8-2812.jpg
Không gian sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộc Mông tại Ngày hội.
anh3-2812.jpg
Thi chọi bò tại Ngày hội.
anh2-2812.jpg
Thi giã bánh giầy tại Ngày hội.
anh10-2812.jpg
Phụ nữ dân tộc Thái quấn khăn Piêu cho các thiếu nữ.
anh11-2812.jpg
Các thiếu nữ dân tộc Mông chơi ném pa pao tại Ngày hội.
anh13-2812.jpg
Phụ nữ dân tộc Mông ném pa pao tại Ngày hội.
anh9-2812.jpg
Phụ nữ dân tộc Thái trình diễn các điệu xòe tại Ngày hội.
anh14-2812.jpg
Phụ nữ dân tộc Thái trình diễn các điệu xòe tại Ngày hội.
anh1-2812.jpg
Không gian sinh hoạt văn hóa của phụ nữ dân tộc Thái tại Ngày hội.
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Cảnh sắc hồ Lắk (Đắk Lắk)

Cảnh sắc hồ Lắk (Đắk Lắk)

Hồ Lắk tại xã Liên Sơn Lắk (Đắk Lắk) là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất và đẹp nhất Tây Nguyên. Hồ Lắk còn gắn với những sử thi của cư dân người M'Nông bản địa với câu chuyện về chàng trai mồ côi Lak Liêng và lươn thần - biểu tượng mang đến nguồn nước và sự sống cho buôn làng.

Những bước chân nhỏ đến lớp giữa mây núi Tà Xùa (Sơn La)

Những bước chân nhỏ đến lớp giữa mây núi Tà Xùa (Sơn La)

Điểm trường Làng Sáng của trường Tiểu học và THCS Háng Đồng (xã Tà Xùa, tỉnh Sơn La) nằm xa điểm trường chính, đường sá đi lại đặc biệt khó khăn. Điểm trường có 2 lớp học với 54 học sinh của lớp 1 và lớp 2 do 3 giáo viên phụ trách giảng dạy; 3 lớp mầm non do 4 giáo viên phụ trách.

Công an cơ sở giúp nhân dân thu hoạch lúa mùa và nông sản

Công an cơ sở giúp nhân dân thu hoạch lúa mùa và nông sản

Những ngày qua, cán bộ, chiến sĩ Công an các xã: Xín Mần, Lâm Bình, Đồng Tâm… trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã xuống đồng hỗ trợ người dân thu hoạch gừng, gặt lúa, vận chuyển nông sản; ưu tiên hỗ trợ các hộ nghèo, gia đình chính sách, neo đơn và thiếu nhân lực lao động. Những việc làm thiết thực, nghĩa tình góp phần lan tỏa hình ảnh đẹp người chiến sĩ Công an gần dân, vì Nhân dân phục vụ.

Lai Châu mùa nước đổ

Lai Châu mùa nước đổ

Lai Châu đang bước vào mùa mưa. Nước từ những khe núi đổ xuống, lấp đầy các thửa ruộng bậc thang như những chiếc gương khổng lồ phản chiếu mây trời kỳ vĩ, tạo lên bức tranh thủy mặc khổng lồ giữa đại ngàn. Mùa nước đổ cũng là thời điểm người dân các dân tộc nô nức ra đồng bắt đầu một mùa vụ mới. Tiếng nước đổ hòa cùng tiếng máy nông cụ, tiếng cười nói tạo nên một bản nhạc đồng quê tràn đầy sức sống.

Bình yên mùa vàng nơi lòng chảo Mường Thanh, Điện Biên

Bình yên mùa vàng nơi lòng chảo Mường Thanh, Điện Biên

Tháng 5, lòng chảo Điện Biên bước vào mùa lúa chín. Trên cánh đồng Mường Thanh rộng lớn, những thửa ruộng vàng óng nối tiếp nhau trải dài dưới nắng, xen giữa bản làng và núi non trùng điệp, tạo nên bức tranh mùa vàng bình yên, thơ mộng của vùng Tây Bắc. Mùa thu hoạch không chỉ mang vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là niềm vui no ấm của người dân nơi cánh đồng lớn nhất vùng Tây Bắc.

Bờ kè suối sạt lở, người dân Lào Cai nơm nớp lo sợ

Bờ kè suối sạt lở, người dân Lào Cai nơm nớp lo sợ

Thời gian qua, gần 30 hộ dân ở thôn Làng Chạng, xã Phong Dụ Thượng, tỉnh Lào Cai luôn nơm nớp lo sợ khi sống giáp bên bờ suối Ngòi Hút bị sạt lở nghiêm trọng. Mùa mưa lũ đang đến gần, nhiều vị trí sạt lở đã ăn sâu vào khu dân cư khiến nỗi lo của người dân ngày một lớn và không thể an cư.

Hoa cà phê nở rộ tạo khung cảnh lãng mạn khắp triền đồi Sơn La

Hoa cà phê nở rộ tạo khung cảnh lãng mạn khắp triền đồi Sơn La

Cuối tháng 4, đầu tháng 5/2026, tỉnh Sơn La khoác lên mình sắc trắng tinh khôi của hoa cà phê. Những chùm hoa bung nở trắng xóa trên các nương đồi, làm bừng sáng khắp không gian núi rừng, tạo khung cảnh nên thơ, lãng mạn, thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham quan, chụp ảnh, trải nghiệm, nhất là các bạn trẻ.

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Giữa núi non trùng điệp của Tuyên Quang, những phiên chợ vùng cao hiện lên như bức tranh sống động, đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc.

Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, chợ còn là không gian gặp gỡ, giao lưu, nơi lưu giữ những phong tục, tập quán và nét sinh hoạt mộc mạc, chân tình của đồng bào, tạo nên sức hút riêng cho du lịch vùng cao.

Gieo mầm tình yêu Tổ quốc cho thế hệ măng non

Gieo mầm tình yêu Tổ quốc cho thế hệ măng non

Hướng tới 51 năm Ngày Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), ngành Giáo dục tỉnh Tuyên Quang triển khai triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa cho học sinh, trong đó trẻ mầm non đặc biệt háo hức khi được tham gia tạo hình lá cờ đỏ sao vàng.

Gieo mầm yêu nước cho thế hệ măng non từ cội nguồn dân tộc

Gieo mầm yêu nước cho thế hệ măng non từ cội nguồn dân tộc

Nhiều trường Mầm non đã đưa những câu chuyện về các Vua Hùng, sự tích bánh chưng – bánh giầy cùng các hoạt động trải nghiệm đậm sắc màu truyền thống, góp phần khơi dậy tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc trong trẻ nhỏ. Từ đó, những “hạt mầm yêu nước” được gieo từ cội nguồn, âm thầm nuôi dưỡng nhận thức và ý thức trách nhiệm cho thế hệ tương lai.

Chè Suối Giàng - từ di sản vùng cao đến thương hiệu Việt

Chè Suối Giàng - từ di sản vùng cao đến thương hiệu Việt

Thực hiện các chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng thương hiệu quốc gia, tỉnh Lào Cai đã đẩy mạnh khai thác giá trị các sản phẩm đặc sản địa phương, trong đó chè Shan tuyết Suối Giàng (thôn Suối Giàng, xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai) là một điển hình.

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thời gian qua, những người lính Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ chắc tay súng bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà còn đang miệt mài mang “ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc tại các bản qua mô hình đầy nhân văn: “Thầy giáo quân hàm xanh, đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Nghị quyết 57 đi vào cuộc sống: Vượt khó để chuyển đổi số lan tỏa từ cơ sở vùng cao

Nghị quyết 57 đi vào cuộc sống: Vượt khó để chuyển đổi số lan tỏa từ cơ sở vùng cao

Từ chủ trương lớn của Đảng về đẩy mạnh chuyển đổi số, Nghị quyết 57 đang từng bước hiện hữu bằng những đổi thay cụ thể trong đời sống người dân vùng cao Tuyên Quang. Chuyển đổi số nay đã len lỏi đến từng thôn bản, giúp người dân tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn, giảm bớt gánh nặng đi lại, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả giải quyết công việc.

Đặc sắc Lễ hội Đền Mẫu Cấm Sơn Linh Từ

Đặc sắc Lễ hội Đền Mẫu Cấm Sơn Linh Từ

Sáng 5/4/2026, tại phường Hà Giang 1 (Tuyên Quang), trong không khí linh thiêng và rộn ràng của Lễ hội Đền Mẫu Cấm Sơn Linh Từ năm 2026, hàng loạt hoạt động văn hóa, tâm linh đặc sắc tổ chức, thu hút hàng nghìn người dân và du khách thập phương.

Bảo đảm nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô

Bảo đảm nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô

Trước diễn biến nắng nóng kéo dài, nguy cơ hạn hán gia tăng trong mùa khô 2026, thành phố Cần Thơ chủ động triển khai các giải pháp thích ứng theo hướng dài hạn, kết hợp giữa đầu tư hạ tầng, điều hành linh hoạt và chuẩn bị nguồn lực dự phòng nhằm đảm bảo nguồn nước ngọt ổn định sản xuất nông nghiệp, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận Sơn La rất phấn khởi

Mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận Sơn La rất phấn khởi

Xã Phiêng Khoài (Sơn La), hiện có hơn 2.600 ha trồng cây mận, trong đó, diện tích mận trái vụ chiếm trên 20%. Việc áp dụng kỹ thật canh tác trái vụ, rải vụ, chín sớm, đã và đang mở ra hướng đi hiệu quả, giúp nông dân nâng cao giá trị sản phẩm, giảm áp lực tiêu thụ tập trung cùng một thời điểm, dẫn đến giá thành giảm, cạnh tranh cao. Niên vụ 2026, mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận rất phấn khởi. 

Khám phá vẻ đẹp du lịch vùng cao Tân Sơn (Bắc Ninh)

Khám phá vẻ đẹp du lịch vùng cao Tân Sơn (Bắc Ninh)

Thôn Bắc Hoa, xã Tân Sơn là một điểm đến mới của tỉnh Bắc Ninh. Những nếp nhà trình tường mái ngói âm dương nhuốm màu thời gian, điệu hát soong hao mang đậm nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc Nùng... tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách.

Nhộn nhịp phiên chợ đậm đà hồn quê

Nhộn nhịp phiên chợ đậm đà hồn quê

Đến hẹn lại lên, cứ vào chủ nhật hàng tuần, khi sương núi còn bảng lảng trên những triền đá, chợ phiên Phương Độ (Hà Giang 1, Tuyên Quang) đã bừng thức trong nhịp bước rộn ràng của đồng bào người Tày, Dao… ở các bản làng xa gần về họp chợ. 

Sôi động Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến

Sôi động Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến

Trong khuôn khổ Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến (Sơn La) năm 2026, sáng 21/3/2026 diễn ra các hoạt động trưng bày gian hàng giới thiệu sản phẩm nông sản đặc trưng; trình diễn các tiết mục văn hóa, văn nghệ sôi nổi thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã và du khách tham dự.