Mỗi dịp hè, cứ đúng 19 giờ hàng ngày, khuôn viên của chùa Pothiwong (phường Bảy Hiền, TP Hồ Chí Minh) lại vọng lên âm thanh đánh vần tiếng Khmer của các em nhỏ. Nhiều năm qua, chùa Pothiwong trở thành “ngôi nhà chung” của hàng trăm trẻ em Khmer trong hành trình gìn giữ, bảo tồn tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình.
Thế hệ trẻ biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ
Gần 15 năm qua, cứ đều đặn hàng năm vào dịp hè, lớp học chữ Khmer miễn phí tại chùa Pothiwong (phường Bảy Hiền, TP Hồ Chí Minh) lại nhộn nhịp với việc duy trì học chữ Khmer dành cho các trẻ em là con em của đồng bào Khmer đang sinh sống và làm việc tại TP Hồ Chí Minh.
Theo các vị sư đang tu tập tại chùa Pothiwong, lớp dạy chữ Khmer được lập ra để giúp thế hệ trẻ Khmer biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ, góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vun đắp tình yêu với ngôn ngữ truyền thống Khmer.
Năm 2026, lớp học chữ Khmer ở chùa Pothiwong bắt đầu từ tháng 6 và kéo dài đến cuối tháng 8. Trẻ em theo học có độ tuổi từ 7 - 17 tuổi, mỗi lớp học duy trì khoảng từ 10 - 20 em.
Cứ đúng 19 giờ hằng ngày, tại không gian lớp học chừng 40 m2 nằm trong khuôn viên của chùa Pothiwong lại nhộn nhịp với sự hướng dẫn tận tình của các vị sư và sự tham gia nhiệt tình của các em nhỏ người Khmer qua từng nét chữ và âm thanh đánh vần. Mỗi tuần tại đây sẽ diễn ra 6 buổi học vào tối thứ Hai đến thứ Bảy, mỗi buổi học sẽ kéo dài trong vòng 1,5 giờ đồng hồ, bắt đầu từ 19 giờ đến 20 giờ 30 phút.
Dù việc học chữ Khmer không hề dễ dàng, nhưng nhiều em nhỏ vẫn kiên trì theo đuổi với mong muốn hiểu hơn về cội nguồn của mình. Em Lâm Trí Dũng (12 tuổi), cho biết bản thân đã được học chữ Khmer được 3 năm và biết được 24 phụ âm, 33 chữ số cùng nhiều câu giao tiếp thông dụng.
“Các sư, các thầy dạy con rất nhiều chữ và nhiều câu. Con thấy học chữ Khmer khó nhất là chính tả, vì vậy con thường xuyên ôn tập ở nhà để khắc phục. Khi con lớn lên con ước mơ sẽ trở thành chú công an giúp đỡ mọi người”, Dũng chia sẻ.
Riêng đối với em Danh Trần Phương Thanh, học sinh lớp 11, việc học chữ Khmer còn mang ý nghĩa kết nối với gia đình và gìn giữ truyền thống dân tộc. “Con là người Khmer nên con muốn hiểu rõ hơn về văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình. Khi biết tiếng Khmer, con có thể giao tiếp dễ dàng hơn với ông bà, cha mẹ. Con thấy học chữ Khmer khá khó, nhất là cách đọc và phát âm nên con phải luyện tập thường xuyên mới có thể đọc đúng”, Phương Thanh nói.
Không chỉ mong muốn sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, Phương Thanh còn ấp ủ dự định sau này sẽ mở lớp dạy chữ Khmer miễn phí để truyền lại kiến thức cho các em nhỏ trong cộng đồng.
Trong khi đó, em Danh Huỳnh Ni, học sinh lớp 4, mới tham gia lớp học khoảng hai tuần nhưng đã rất yêu thích môi trường học tập tại đây. “Con thích học ở chùa vì được gặp nhiều bạn mới, học giỏi còn được tặng quà. Các sư dạy con nhiều từ mới và các câu giao tiếp rất hay”, Huỳnh Ni cười nói.
Giữ "hồn dân tộc" qua ngôn ngữ
Theo sư Danh Sok Wan, để có thể đọc, viết thành thạo chữ Khmer cần quá trình học tập lâu dài và rèn luyện thường xuyên. “Ngay bản thân tôi cũng phải mất nhiều năm mới có thể đọc và viết thành thạo. Khi giảng dạy cho các em, tôi thường viết chữ Khmer rồi ghi phiên âm tiếng Việt bên cạnh để các em dễ hình dung, dễ ghi nhớ và tiếp thu hơn”, sư Danh Sok Wan cho biết.
Muốn học tốt tiếng Khmer, trước hết người học phải nắm chắc bảng chữ cái, nguyên âm, phụ âm và các dấu câu, sau đó mới bắt đầu ghép chữ và học từ vựng. Đây là nền tảng quan trọng để có thể đọc hiểu và giao tiếp bằng tiếng Khmer tốt được - sư Danh Sok Wan chia sẻ.
Sư Danh Lây, Thư ký chùa Pothiwong, cho biết lớp học chữ Khmer này đã được duy trì từ năm 2013 với mong muốn bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào Khmer; đồng thời tạo điều kiện cho những người yêu mến ngôn ngữ Khmer có cơ hội tìm hiểu, học tập tại chùa.
“Lớp học được duy trì và truyền dạy hoàn toàn miễn phí. Ban đầu, mọi công việc từ tổ chức giảng dạy, hỗ trợ kinh phí đều do các chư tăng của chùa đảm nhận. Những năm gần đây, chính quyền địa phương cũng quan tâm, hỗ trợ một phần tập vở và tạo điều kiện để nhà chùa tiếp tục duy trì việc truyền dạy chữ Khmer cho thế hệ trẻ”, sư Danh Lây chia sẻ.
Theo sư Danh Lây, việc duy trì lớp học không đơn thuần là dạy chữ mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn đất nước đang vươn mình phát triển.
“Để lớp học này được duy trì bền vững, chúng tôi rất cần thêm sự đồng hành từ các cấp chính quyền, cộng đồng xã hội trong việc hỗ trợ cơ sở vật chất, tài liệu giảng dạy, học bổng động viên, khuyến khích các em học sinh tiếp tục gìn giữ tiếng mẹ đẻ của dân tộc mình; qua đó góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của đồng bào Khmer tại TP Hồ Chí Minh", sư Danh Lây bày tỏ.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn