Độc đáo bánh chưng đen của đồng bào Thái ở bản Na Ngân

Cứ vào cuối tháng 10 âm lịch hằng năm, khi bắt đầu vụ thu hoạch lúa nương cuối cùng trong năm là lúc phụ nữ trong bản Na Ngân chuẩn bị nguyên liệu làm bánh chưng đen.

banh-17226.jpg
Kiểm tra độ mịn của hỗn hợp làm bánh chưng đen truyền thống của đồng bào Thái. Ảnh: TTXVN phát

Bản Na Ngân (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) có gần 160 hộ với gần 740 nhân khẩu đều là dân tộc Thái. Giữa đại ngàn Pù Huống, bản nằm cách trung tâm xã hơn 20 km bằng con đường đất độc đạo men theo lưng chừng dãy núi Pù Hiêng.

Vượt hàng trăm ki-lô-mét ngược miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An, chúng tôi đến Na Ngân khi thời điểm đón Giao thừa bước sang năm mới Bính Ngọ 2026 chỉ còn non nửa tuần. Đây cũng là lúc dân bản tất bật gói bánh chưng đen. Trên khắp các nẻo đường liên bản, bên hiên nhà, dưới nhà sàn, chúng tôi dễ dàng bắt gặp các mẹ, các chị đang bận rộn giúp nhau đốt những bó rơm khô để lấy tro trộn với gạo nếp, tạo nguyên liệu cho món bánh chưng đen. Ngay từ sáng sớm, tiếng í ới gọi nhau, tiếng nói cười vui vẻ, tiếng chày giã gạo nếp bằng cối hòa lẫn khiến không gian của bản làng rất sôi động.

Chị Lương Thị Hương, bản Na Ngân cho biết, dịp Tết đến, Xuân về, đồng bào Thái trong bản đều chế biến các món ăn truyền thống để bày biện lên mâm cúng và thết đãi khách đến chúc Tết. Đặc biệt, các gia đình không thể thiếu loại bánh chưng đen với nguyên liệu chính là gạo nếp trắng được nhuộm đen bằng tro rơm, gói bằng lá dong cắt hái từ tại các khe Ngân, khe Hưng, khe Đền, khe Bống len lỏi chảy giữa đại ngàn.

Hỗn hợp gạo nếp nương, tro rơm và hạt “nga kiếng” (loại vừng mọc tự nhiên trong rừng) sau khi trộn đều với tỷ lệ hợp lý, hài hòa sẽ được mang đi giã nhỏ để làm nguyên liệu gói bánh chưng đen. Ảnh: TTXVN phát

Hỗn hợp gạo nếp nương, tro rơm và hạt “nga kiếng” (loại vừng mọc tự nhiên trong rừng) sau khi trộn đều với tỷ lệ hợp lý, hài hòa sẽ được mang đi giã nhỏ để làm nguyên liệu gói bánh chưng đen. Ảnh: TTXVN phát

Ông Lương Văn Nhuận, thầy mo của bản Na Ngân cho biết, phong tục làm bánh chưng đen của cộng đồng dân tộc Thái trong bản đã có từ rất lâu, được tiếp nối gìn giữ qua nhiều thế hệ. Trong tâm thức của đồng bào Thái nơi đây, bánh chưng đen là vật phẩm không thể thiếu trên mâm cúng dịp Tết, để thể hiện lòng biết ơn, sự hiếu kính, tri ân của con cháu tới ông bà, tổ tiên, tiền nhân khai phá, tạo lập bản, vừa để cầu mong một năm mới các gia đình và bản làng an lành, yên vui, gặp nhiều may mắn, sức khỏe dồi dào, chăn nuôi, trồng trọt gặp thuận lợi, cá tôm trong ao thêm nhiều, cây trồng trên nương cho nhiều củ, quả. Món bánh chưng này cũng được các gia đình mời khách đến chúc Tết, thể hiện tình cảm gần gũi, hiếu khách.

Cứ vào cuối tháng 10 âm lịch hằng năm, khi bắt đầu vụ thu hoạch lúa nương cuối cùng trong năm là lúc phụ nữ trong bản chuẩn bị nguyên liệu làm bánh chưng đen. Những bông lúa nếp đẹp, trĩu hạt, hạt chắc, mẩy sau thu hoạch được giã thủ công bằng cối đá, chày gỗ để lấy gạo nếp. Những thân rơm to, vàng ươm được lựa chọn, mang đi rửa sạch, phơi khô rồi bó buộc, cất giữ, bảo quản cẩn thận ở những nơi khô ráo, thoáng mát.

Đến ngày gần Tết, người dân sẽ mang rơm ra đốt để lấy tro than. Khi tro than nguội sẽ được đựng trong những dụng cụ dựng để vò kỹ nhằm loại bỏ những mảnh rơm nhỏ chưa cháy hết, sau đó được giã nhỏ bằng nhỏ, sàng lọc lấy phần mịn nhất đem trộn với gạo nếp trắng ngần. Tỷ lệ giữa tro rơm và gạo nếp phải hài hòa để khi chín bánh có màu đen nhẹ, vị bùi, thơm mát. Nếu nhiều tro than quá bánh sẽ có vị đắng. Để tăng mùi vị, hương thơm đặc trưng cho bánh, người dân còn trộn lẫn một lượng hạt “nga chiếng” (loại vừng mọc tự nhiên trong rừng) vào hỗn hợp tro và gạo nếp.

Quá trình chuẩn bị nguyên liệu tốn nhiều thời gian, cần sự tỉ mỉ, chuyên tâm. Cùng đó, công đoạn gói bánh cũng rất quan trọng. Do bánh chưng đen không có khuôn định dạng nên đòi hỏi kinh nghiệm, kỹ năng thuần thục, sự khéo léo của đôi tay và cảm quan thẩm mỹ của người trực tiếp gói bánh. Bánh gói không chuẩn sẽ làm bánh bị lỏng, nhão, chín không đều, không dẻo và hình dạng không đẹp.

Bánh chưng đen của người Thái không có nhân, được phân thành 4 loại có hình dạng, kích thước, tên gọi mà mang ý nghĩa khác nhau, gồm: Bánh sừng trâu, bánh gậy, bánh đôi và bánh vuông nhỏ. Ảnh: TTXVN phát

Bánh chưng đen của người Thái không có nhân, được phân thành 4 loại có hình dạng, kích thước, tên gọi mà mang ý nghĩa khác nhau, gồm: Bánh sừng trâu, bánh gậy, bánh đôi và bánh vuông nhỏ. Ảnh: TTXVN phát

Chị Lương Thị Minh, người dân bản Na Ngân cho biết, bánh chưng đen của người Thái không có nhân, được phân thành 4 loại có hình dạng, kích thước, tên gọi và ý nghĩa khác nhau gồm: Bánh sừng trâu (khâu tôm kháu khoài), bánh gậy (khâu tôm khuản tụ), bánh đôi (khâu tôm cộp) và bánh vuông nhỏ (khâu tôm pom). Trong đó, bánh hình chiếc gậy với ý nghĩa cầu cho người già trong bản được sống lâu, an nhàn bên con cháu. Bánh vuông nhỏ buộc thành chùm với ý nghĩa cầu cho gia đình sung túc, ấm no, đủ đầy, viên mãn. Bánh đôi gồm 2 chiếc bánh có kích thước to cột lại thành một cặp với ý nghĩa mong cầu cuộc sống ấm no, gia đình đầm ấm, hòa thuận, hạnh phúc. Riêng bánh sừng trâu đòi hỏi sự khéo léo, kỹ thuật gói cao nhất, yêu cầu hình dáng bánh có phần gù nhô cao, cân đối.

Bánh chưng sau khi gói xong được mang đi luộc nhiều giờ đồng hồ bằng nồi to. Khi bánh chín thì treo lên gác bếp bằng dây lạt cho ráo nước mới bày biện lên mâm cúng.

Theo thầy mo Lương Văn Nhuận, bản Na Ngân, lúc bánh chín có độ rẻo, rền; màu đen của tro rơm, màu xanh của lá dong rừng, màu trắng ngần của gạo nếp nương hòa quyện cho ra màu đen mướt nhẹ, thể hiện được sự hòa hợp của đất, của trời, của lòng người, năm mới mùa màng sẽ bội thu, cuộc sống bản làng thêm no ấm. Không riêng gì cộng đồng người Thái bản Na Ngân (xã Nga My), mà cộng đồng dân tộc Thái ở các bản Canh, Na Kho, Xốp Kho (xã Nga My) nằm trong vùng đệm đại ngàn Pù Huống cũng có truyền thống gói bánh chưng đen vào dịp Tết.

Màu đen của tro rơm, màu xanh của lá dong rừng, màu trắng ngần của gạo nếp nương hòa quyện làm một cho ra màu đen mướt nhẹ khi bánh chín; thể hiện sự hòa hợp của đất, trời và lòng người, cho mùa màng bội thu, cuộc sống no ấm. Ảnh: TTXVN phát

Màu đen của tro rơm, màu xanh của lá dong rừng, màu trắng ngần của gạo nếp nương hòa quyện làm một cho ra màu đen mướt nhẹ khi bánh chín; thể hiện sự hòa hợp của đất, trời và lòng người, cho mùa màng bội thu, cuộc sống no ấm. Ảnh: TTXVN phát

Bánh chưng đen gói lá dong rừng cũng hiện diện trong các gia đình tại các tiểu vùng văn hóa Thái dọc thượng nguồn sông Lam, sông Hiếu, sông Giăng, sông Nậm Nơn. Dù ở đâu, bánh chưng đen cũng thực hiện vai trò, chức năng là món ăn, đồng thời là phẩm vật dâng cúng để tỏ lòng tri ân, biết ơn ông bà, tổ tiên, các vị thần trong đời sống tâm linh như "thần rừng, thần sấm, thần lúa". Đồng thời, bánh chưng đen cũng phản ánh nền kinh tế, tập quán sản xuất gắn liền với rừng núi, cây lúa trên ruộng, nương rẫy của đồng bào dân tộc Thái.

Đến với dân tộc Thái miền núi Nghệ An vào dịp Tết, trong không khí sum vầy và gần gũi, du khách sẽ cảm nhận được sự trọng tình, mến khách của mọi người, mọi nhà; được thưởng thức những món ăn truyền thống, đặc trưng của đồng bào như cơm lam, canh bon, cá suối nướng, cá suối gác bếp, thịt trâu gác bếp, lạp (nộm), các món mọc, chẻo (món chấm), canh ột, nộm rau rừng, uống rượu siêu ủ men lá... Đây là những món ăn có sự kết hợp hài hòa giữa các nguyên liệu và gia vị tự nhiên, rất hấp dẫn bởi màu sắc, hương vị, cách chế biến tinh tế. Đặc biệt, du khách sẽ được “mục sở thị” bánh chưng đen thơm bùi hương vị của gạo nếp mới./.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

'Đảo hoa' khoe sắc giữa thiên nhiên di sản

'Đảo hoa' khoe sắc giữa thiên nhiên di sản

Giữa khung cảnh hùng vĩ của núi non và sông nước của Khu du lịch sinh thái Thung Nham, phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, “Đảo hoa bốn mùa” như một bức tranh rực rỡ sắc màu, nơi các loài hoa khoe sắc, tỏa hương giữa thiên nhiên di sản. Không chỉ tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên, “đảo hoa” còn góp phần lan tỏa tinh thần du lịch có trách nhiệm, nơi con người vừa tận hưởng cảnh quan, vừa chung tay gìn giữ và phát triển bền vững các giá trị di sản.

Đặc sắc lễ hội rước Mẫu ở Tuyên Quang

Đặc sắc lễ hội rước Mẫu ở Tuyên Quang

Sáng 30/3, tại khu di tích đền Hạ, UBND phường Minh Xuân (Tuyên Quang) tổ chức khai mạc lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La năm 2026, thu hút hàng vạn du khách trong và ngoài tỉnh tham dự.

Để tiếng cồng, chiêng mãi ngân vang giữa đại ngàn

Để tiếng cồng, chiêng mãi ngân vang giữa đại ngàn

Trong bối cảnh thời đại công nghệ số, giới trẻ ít mặn mà với các giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, tại Quảng Ngãi, một số trường học đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo, chủ động trong việc đưa văn hóa cồng chiêng, múa xoang vào trường học, giúp tất cả học sinh không chỉ các em đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ hơn về những nét văn hóa độc đáo của dân tộc.

Triển lãm ảnh nghệ thuật 'Sắc màu các dân tộc Việt Nam'

Triển lãm ảnh nghệ thuật 'Sắc màu các dân tộc Việt Nam'

Ngày 26/3, tại Quảng trường 10/3 (phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk), Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk tổ chức khai mạc Triển lãm ảnh nghệ thuật “Sắc màu các dân tộc Việt Nam”.

Phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống Lễ hội Phá Bàu

Phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống Lễ hội Phá Bàu

Ngày 22/3, tại Bàu K Poch (ấp Sóc Lớn, xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai) diễn Lễ hội Dua Tpeng hay còn gọi là lễ hội Phá Bàu. Sự kiện thu hút đông đảo người dân địa phương, các vùng lân cận cùng tạo nên không khí lễ hội sôi nổi và thắm tình đoàn kết.

Sôi động Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến

Sôi động Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến

Trong khuôn khổ Ngày hội hoa sơn tra xã Ngọc Chiến (Sơn La) năm 2026, sáng 21/3/2026 diễn ra các hoạt động trưng bày gian hàng giới thiệu sản phẩm nông sản đặc trưng; trình diễn các tiết mục văn hóa, văn nghệ sôi nổi thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã và du khách tham dự.

Nét riêng độc đáo của đua ngựa vùng cao thu hút du khách

Nét riêng độc đáo của đua ngựa vùng cao thu hút du khách

Sau những năm gián đoạn do COVID-19, Giải đua ngựa xã Phù Lưu (tỉnh Tuyên Quang) đã chính thức được tổ chức trở lại trong hai ngày 19 - 20/3, mang theo không khí rộn ràng của lễ hội truyền thống và thu hút hàng vạn người dân, du khách thập phương.

Tặng hơn 1.000 bộ áo dài cho phụ nữ vùng biên

Tặng hơn 1.000 bộ áo dài cho phụ nữ vùng biên

Với tinh thần sẻ chia, Câu lạc bộ Di sản áo dài Việt Nam - Bình Thuận (tỉnh Lâm Đồng) đã tổ chức vận động, quyên góp chương trình trao tặng “Áo dài yêu thương”, góp phần mang đến niềm vui cho phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Tạo sân chơi thể thao lành mạnh, bổ ích cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Tạo sân chơi thể thao lành mạnh, bổ ích cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Sáng 17/3, tại sân vận động Binh đoàn 15 (phường Thống Nhất), Ban Truyền hình Tiếng dân tộc - Đài Truyền hình Việt Nam (VTV5) phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai và Binh đoàn 15 tổ chức khai mạc Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai mở rộng năm 2026 - Cúp VTV5.

Đặc sắc chương trình nghệ thuật 'Đắk Lắk - Chung một niềm tin'

Đặc sắc chương trình nghệ thuật 'Đắk Lắk - Chung một niềm tin'

Chào mừng thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, tối 16/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức chương trình nghệ thuật “Đắk Lắk - Chung một niềm tin”. Chương trình diễn ra tại hai địa điểm: Trung tâm Văn hóa - Du lịch tỉnh, phường Buôn Ma Thuột (khu vực phía Tây tỉnh) và Quảng trường Phú Yên, phường Tuy Hòa (khu vực phía Đông tỉnh).

Võ sáo – nét văn hóa đặc sắc của vùng đất khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Ninh)

Võ sáo – nét văn hóa đặc sắc của vùng đất khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Ninh)

Võ sáo còn được ví là “Thiết địch thần phong”, gắn với bài sáo “Bóng trăng Phồn Xương” huyền thoại – là nét văn hóa đặc sắc của vùng đất Yên Thế. Cây sáo sắt xưa vừa là tín lệnh, vũ khí của nghĩa quân, vừa là nhạc cụ thể hiện nghệ thuật, biểu trưng cho tinh thần thượng võ và khí phách quật cường của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Bắc Ninh đang nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị độc đáo của bộ môn võ thuật – nghệ thuật này, hướng tới xây dựng thành di sản văn hóa.

Hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc xứ Lạng

Hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc xứ Lạng

Ngày 10/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức Chương trình giao lưu và Hội hát then, sli, lượn dân tộc Nùng, Tày... tỉnh Lạng Sơn. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc xứ Lạng gắn với phát triển du lịch, nâng cao đời sống nhân dân...

Trao giải biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk

Trao giải biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk

Ngày 10/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức Lễ trao giải cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk và Chương trình nghệ thuật chủ đề “Buôn Ma Thuột - Khúc tráng ca tự hào” nhân kỷ niệm 51 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột (10/3/1975 - 10/3/2026), chào mừng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống trò chơi dân gian pháo đất

Gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống trò chơi dân gian pháo đất

Ngày 7/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng tổ chức Liên hoan pháo đất thành phố lần thứ nhất năm 2026. Liên hoan quy tụ trên 200 pháo thủ đến từ 7 xã gồm: Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo, Vĩnh Thịnh, Tân Kỳ, Tân An và Trường Tân - những địa phương có truyền thống chơi pháo đất lâu đời của Hải Phòng.

Quảng Trị: Độc đáo lễ hội đập trống người Ma Coong

Quảng Trị: Độc đáo lễ hội đập trống người Ma Coong

Tối 4/3 (tức ngày 16 tháng Giêng âm lịch), tại bản Cà Roòng (xã Thượng Trạch, Quảng Trị) đã rộn ràng diễn ra lễ hội đập trống của người Ma Coong nhằm cầu mưa thuận gió hòa, bản làng ấm no, lễ hội độc đáo này đã thu hút đông đảo bà con địa phương và du khách gần xa.

Sôi nổi Hội Xuân Liêng Nung - Âm vang đại ngàn tại Lâm Đồng

Sôi nổi Hội Xuân Liêng Nung - Âm vang đại ngàn tại Lâm Đồng

Trong 2 ngày 26 - 27/2, tại Nhà Triển lãm Nhạc cụ truyền thống, Tổ dân phố N’Jriêng, phường Đông Gia Nghĩa (tỉnh Lâm Đồng), UBND phường Đông Gia Nghĩa phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức Hội Xuân Liêng Nung 2026 với chủ đề “Âm vang đại ngàn”. Đây là hội xuân truyền thống được tổ chức hằng năm của các dân tộc thiểu số bản địa phía Tây tỉnh Lâm Đồng (trước đây là tỉnh Đắk Nông cũ).

Đắk Lắk - Vượt sóng ra khơi, vươn tầm cao mới

Đắk Lắk - Vượt sóng ra khơi, vươn tầm cao mới

Ngày 27/2, tại Di tích lịch sử quốc gia đình Lạc Giao (tỉnh Đắk Lắk), Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc Ngày Thơ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk lần thứ 47.