Trong khuôn khổ các hoạt động Ngày hội văn hóa các dân tộc Chăm, sáng 27/6, tại phường Đông Hải, tỉnh Khánh Hòa đã diễn ra hội thảo khoa học toàn quốc về “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới”.
Hội thảo có sự tham dự của 250 đại biểu là các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa cùng trên 100 giáo sư, tiến sĩ đầu ngành đến từ các viện, các trường đại học trong nước.
Phát biểu tại lễ khai mạc, ông Nguyễn Long Biên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nêu rõ, Hội thảo là dịp để các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu về văn hóa cùng thảo luận, làm rõ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của văn hóa Chăm nhằm khai thác hiệu quả giá trị văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch trong thời gian tới.
Hội thảo về “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới” không chỉ tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống, mà còn khẳng định giá trị văn hóa của cộng đồng. Việc phát huy giá trị di sản văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch rất cần sự nỗ lực, chung tay góp sức của các chuyên gia nghiên cứu, các nhà khoa học và chính cộng đồng dân tộc Chăm. Qua đó, vun đắp, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Chăm trước những thách thức trong xu thế hội nhập và kinh tế thị trường.
Dân tộc Chăm sinh sống tại các tỉnh, thành phố khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ; trong đó tập trung nhiều ở các tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng, An Giang... Văn hóa Chăm là một nền văn hóa đặc sắc trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Trong di sản văn hóa Việt Nam, dấu ấn văn hóa Chăm thể hiện rõ nét trong kiến trúc, điêu khắc của các đền tháp, phù điêu, tượng thờ, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, tiếng nói, chữ viết, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, hoa văn, làng nghề gốm, dệt thổ cẩm…
Tiến sĩ Phú Văn Hẳn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khao học xã hội vùng Nam Bộ phát biểu tham luận hội thảo. Ảnh: Công Thử/TTXVN
Tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận, nhấn mạnh các giá trị di sản đặc sắc của đồng bào dân tộc Chăm như nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO ghi danh, nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, kho tàng chữ viết Akhar Thrah, âm nhạc với các nhạc cụ truyền thống như trống Ginăng, Paranưng, kèn Saranai cùng hệ thống lễ hội phong phú của các cộng đồng Chăm Bàlamôn, Chăm Bàni, Chăm Islam và Chăm Hroi.
Xoay quanh chủ đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Chăm, hội thảo đã nghe các tham luận chuyên sâu: “Văn hóa Chămpa ở Khánh Hòa trong các không gian và thời gian” của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Kim; “Các đền Tháp Chămpa ở Khánh Hòa: Những giá trị nghệ thuật cần phát huy” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Doanh... Các tham luận tập trung vào việc nhận diện giá trị di sản văn hóa Chăm, giá trị nghệ thuật kiến trúc, lễ hội; đồng thời đưa ra các giải pháp khai thác hiệu quả văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch… nhằm tạo thu nhập bền vững, nâng cao đời sống cho chính người dân.
Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Chăm là chủ đề được thảo luận sâu sắc tại hội thảo. Ảnh: Công Thử/TTXVN
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Khánh Hòa cho rằng, sau khi sáp nhập với tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hòa sở hữu hệ thống di sản văn hóa Chăm phong phú với nhiều di tích cấp quốc gia như Tháp Bà Ponagar, Tháp Pô Klong Garai, Tháp Hòa Lai, Tháp Pô Rômê. Đây là những “di sản sống”, bởi di sản gắn với cộng đồng người Chăm đang duy trì các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và lễ hội truyền thống. Tuy nhiên, một số di tích vẫn chưa được khai thác tương xứng với giá trị vốn có của nó.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh đề xuất nghiên cứu khôi phục lại các hoạt động lễ hội tại một số không gian văn hóa Chăm nhằm tăng tính kết nối giữa di sản, cộng đồng và du lịch. Cụ thể, cần chấn hưng di sản phi vật thể từ việc hoàn thiện chính sách đặc thù cho gốm Bàu Trúc, dệt Mỹ Nghiệp; đồng thời đưa tiếng Chăm vào trường học và số hóa toàn bộ thư tịch cổ. Đối với phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, tỉnh cần thúc đẩy liên kết vùng chiến lược Khánh Hòa – Lâm Đồng – An Giang, áp dụng mạnh mẽ mô hình hợp tác công – tư trong quản lý di sản…
Nhóm chuyên gia Viện Bảo tồn di tích cũng đề xuất ứng dụng công nghệ hóa bảo quản để đảm bảo tính bền vững cho vật liệu đền tháp. Trong khi đó, đại diện Cục Di sản Văn hóa, Thạc sĩ Dương Thị Anh hiến kế bảo vệ, phát huy giá trị nghệ thuật làm gốm của người Chăm sau khi được UNESCO ghi danh.
Nghề làm gốm truyền thống của đồng bào Chăm là chủ đề thảo luận của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa tại hội thảo Ảnh: Công Thử/TTXVN
Đối với giải pháp phát huy giá trị văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch, hội thảo đã tiếp cận từ nhiều góc độ thực tiễn. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Thiệu đề xuất phát huy giá trị truyền thống và kiến tạo bản sắc mới tại làng gốm Bàu Trúc, làng dệt Mỹ Nghiệp. Ở góc độ địa phương, tác giả Phú Văn Hẳn cũng đề xuất định hướng phát triển du lịch bền vững từ văn hóa Chăm tỉnh An Giang...
Dịp này, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Trung tâm Lưu chiểu dữ liệu truyền thông số quốc gia, Trung tâm hỗ trợ chuyển đổi số báo chí (Cục Báo chí) cho ra mắt nền tảng số về di sản văn hóa Chăm tại tỉnh Khánh Hòa, nhằm quảng bá hình ảnh di sản văn hóa Chăm của tỉnh trên nền tảng số./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn