Giữ hồn khèn Mông ở vùng cao Trạm Tấu

Người Mông ở vùng cao Trạm Tấu (Yên Bái) hiện còn giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc của đồng bào. Cây khèn với họ không chỉ là nhạc cụ, mà còn là tiếng nói của núi rừng, tiếng lòng của người Mông và sợi dây kết nối giữa quá khứ, hiện tại với tương lai. Để tiếng khèn trường tồn với thời gian, các thế hệ người Mông huyện Trạm Tấu luôn miệt mài gìn giữ nét văn hóa đặc sắc này.

Nghệ nhân dân gian Hờ A Thào ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu mở lớp dạy khèn Mông cho hàng chục thanh niên trong huyện Trạm Tấu.

Nghệ nhân dân gian Hờ A Thào ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu mở lớp dạy khèn Mông cho hàng chục thanh niên trong huyện Trạm Tấu.

Góp phần gìn giữ văn hóa trường tồn

Tại xã Bản Công, huyện Trạm Tấu vẫn có những người bền bỉ lặng lẽ, âm thầm vun đắp cho tiếng khèn của người Mông mãi trường tồn. Họ là những nghệ nhân, người “giữ hồn” khèn Mông. Bằng tình yêu văn hóa cháy bỏng và trái tim đầy nhiệt huyết, họ nỗ lực truyền lửa cho thế hệ trẻ, để tiếng khèn của người Mông không bao giờ lụi tàn theo dòng chảy thời gian.

Trong không gian văn hóa của người Mông, tiếng khèn mang ý nghĩa thiêng liêng, đặc biệt trong màn độc tấu, tiếng khèn như trở thành tiếng lòng của người đàn ông. Bởi vậy, từ thuở ấu thơ, những cậu bé người Mông ở Trạm Tấu đã được những người lớn tuổi, những bậc thầy khèn trong gia đình, dòng tộc trao truyền bí quyết diễn tấu khèn. Thế nhưng, để tiếng khèn thực sự chạm đến trái tim cộng đồng, được cộng đồng trân trọng lại là một hành trình đòi hỏi sự khổ luyện và đam mê không ngừng.

Ông Hờ A Thào, Nghệ nhân dân gian ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu là người có tình yêu và niềm đam mê với khèn. Tiếng khèn đã thấm sâu vào máu thịt ông ngay từ khi còn là một cậu bé. Giờ đây, dù vui hay buồn, chiếc khèn luôn là người bạn tri kỷ bên cạnh ông. Mỗi khi tiếng khèn của ông cất lên, trong âm thanh ấy, người nghe có thể cảm nhận được vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Trạm Tấu, sự giản dị mà đôn hậu trong cuộc sống của đồng bào nơi đây.

Người dân nơi đây ví tiếng khèn của ông Thào như một bức tranh, một câu chuyện kể về đất và người Trạm Tấu. Bởi tiếng khèn ấy quá đỗi ngọt ngào và lay động, nhiều gia đình người Mông, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, vẫn quyết tâm gửi gắm con em mình cho nghệ nhân Hờ A Thào truyền dạy. Không chỉ trau dồi kỹ năng cho bản thân, những năm gần đây, ông Thào còn mở lớp dạy, tận tâm chỉ bảo cho con em đồng bào Mông trên khắp vùng cao Trạm Tấu.

khen-mong.jpg
Nghệ nhân dân gian Hờ A Thào ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu dạy tiếng Khèn cho các thanh niên người Mông.

Là thầy giáo dạy khèn Mông nhiều năm nay, theo ông Thào, học thổi khèn Mông không khó, nhưng để thấu hiểu được hồn cốt của tiếng khèn, diễn tấu thành thạo ở nhiều thể loại khác nhau thì là một thử thách lớn. Đầu năm 2025, ông vinh dự khi được Nhà nước, tỉnh Yên Bái phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, đây là động lực để ông nỗ lực hơn nữa giúp thế hệ sau có thêm nhiều người giỏi khèn Mông, góp phần gìn giữ văn hóa người Mông được trường tồn mãi mãi.

Anh Thào A Chang, ở xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu tâm sự, trước đây, mỗi khi có lễ hội, anh chỉ dám đứng từ xa ngắm nhìn các bậc cha chú thổi và múa khèn. Giờ đây, được thầy Hờ A Thào tận tình truyền dạy, anh đã học được nhiều điệu, nhiều bài và tự tin thể hiện trong những ngày lễ quan trọng của cộng đồng. Anh rất vui và cảm ơn thầy Thào đã giúp anh biết thổi khèn, góp phần không làm mai một bản sắc của dân tộc.

Chung niềm đam mê với anh Chang, anh Hờ A Tểnh, ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu gắn bó với lớp học của thầy Hờ A Thào gần hai năm. Anh Tểnh và anh Chang là hai trong số hơn 30 học trò mà thầy Thào dìu dắt từ năm 2022. Đến nay, họ đều là những "cánh chim" đầy triển vọng của tiếng khèn Mông Trạm Tấu.

Anh Hờ A Tểnh chia sẻ, nhờ sự động viên, hướng dẫn tận tình của thầy Thào, từ việc làm quen với từng nốt nhạc, đến luyện tập các bài phức tạp, giờ anh có thể làm chủ được cây khèn và tự tin thể hiện nhiều bài khác nhau. Anh sẽ cố gắng học khèn tốt hơn nữa để sau này có thể truyền lại ngọn lửa đam mê này cho con cháu mình.

Khơi dậy niềm tự hào về bản sắc dân tộc

Lớp học khèn Mông của những người "giữ lửa" tiếng khèn trên non cao Trạm Tấu.

Lớp học khèn Mông của những người "giữ lửa" tiếng khèn trên non cao Trạm Tấu.

Khèn Mông thường được biểu diễn dưới nhiều hình thức độc tấu da diết, hòa tấu nhịp nhàng hay tập thể hùng tráng. Cái khó không chỉ nằm ở việc, người thổi phải thổi lên những giai điệu, mà còn ở sự kết hợp uyển chuyển giữa tiếng khèn và những điệu múa độc đáo, đòi hỏi kỹ thuật cao, mang đậm tính nghệ thuật. Những động tác múa khèn như nhảy đưa chân mạnh mẽ, quay tại chỗ điêu luyện, lăn nghiêng táo bạo đều tạo nên một màn trình diễn vừa nghe say đắm lòng người, vừa mãn nhãn người xem.

Tuy nhiên, hiện nay trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, số lượng người trẻ đam mê và theo học khèn Mông ngày càng ít, nguy cơ mai một di sản văn hóa quý giá này là điều không thể tránh khỏi. Với mong muốn bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị của cây khèn truyền thống, ông Giàng A Su, nguyên Bí thư Huyện ủy Trạm Tấu luôn cố gắng hết mình để dạy cho thế hệ trẻ từng nốt nhạc, kỹ thuật lấy hơi.

Ông Giàng A Su cho biết, khi ông 15 tuổi đã rất đam mê khèn Mông, đến nay dù đã cao tuổi nhưng niềm đam mê khèn Mông trong trái tim ông chưa bao giờ tắt. Theo ông Su để thổi được khèn thành một bài hoàn chỉnh, có hồn, có điệu, đòi hỏi người học phải có sự kiên trì. Vì vậy, không chỉ cố gắng truyền dậy kỹ năng cho các bạn trẻ, ông còn khơi gợi niềm yêu thích, đam mê trong mỗi người. Có như vậy các cháu mới tiến bộ nhanh chóng, ông Su chia sẻ.

Theo ông Su, độ tuổi phù hợp để học khèn Mông tốt nhất là khoảng 10 tuổi. Nếu cố gắng học chăm chỉ, người học sẽ mất khoảng 2 năm là có thể thổi được một số bài khèn cơ bản. Khi giỏi rồi gặp bài khèn khó đến mấy chỉ cần nghe qua là cũng có thể diễn tấu được.

Nhiều thanh niên người Mông thông qua lớp học thấy yêu thích tiếng khèn của đồng bào.

Nhiều thanh niên người Mông thông qua lớp học thấy yêu thích tiếng khèn của đồng bào.

Để giữ gìn khèn Mông, việc chế tác cũng rất quan trọng. Gắn bó gần 35 năm với nghề chế tác khèn, ông Cứ A Sang, ở xã Trạm Tấu, huyện Trạm Tấu là một nghệ nhân chế tác khèn tài ba.

Ông Cứ A Sang bộc bạch, với người Mông, cây khèn giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh nên rất cần được các cấp quan tâm, mở lớp để truyền dạy làm khèn cho các thanh niên trẻ. Để nghề làm khèn không bị mất đi, ông mong muốn các gia đình cho con, cháu học nghề, đưa con cháu đến ông dạy làm khèn.

Khèn Mông không chỉ là một nhạc cụ, mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Mông; thể hiện rõ nét những giá trị tâm linh, tín ngưỡng và truyền thống sâu sắc. Những lớp học của những người “giữ hồn” khèn Mông đã góp phần lan tỏa tình yêu văn hóa, khơi dậy niềm tự hào về bản sắc dân tộc nơi non cao Trạm Tấu./.

Bài và ảnh: Tuấn Anh/TTXVN
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Sáng 22/10, Lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường năm 2026 với chủ đề “Đền Đôi Cô Cam Đường - Kết nối cội nguồn, dựng xây quê hương” do phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai tổ chức đã chính thức được khai hội thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái. Lễ hội là sự kiện văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy giá trị di tích, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và quảng bá hình ảnh phường Cam Đường đến với du khách trong và ngoài tỉnh.

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gắn với lao động sản xuất, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, nghệ thuật múa dân gian của người Cống ở Điện Biên vừa lưu giữ những giá trị văn hóa đặc trưng, vừa phản ánh đời sống của một dân tộc rất ít người. Việc nghệ thuật múa của người Cống được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể mở thêm cơ hội bảo tồn, trao truyền các điệu múa truyền thống, nhất là cho thế hệ trẻ.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Hằng năm, vào ngày Mão tháng Chín âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai tổ chức Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông nhằm tổng kết một năm lao động, sản xuất, bày tỏ lòng tri ân với Mẫu Thượng Ngàn, các đấng thần linh và tổ tiên đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Năm 2026, ngày Đinh Mão (11/9 âm lịch), tức ngày 20/10 dương lịch là ngày chính lễ với nhiều nghi thức truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của người Tày Khao.

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Lự năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Lự”, UBND xã Khun Há (Lai Châu) tổ chức tái hiện lễ hội Sú Khon Khoài, với điểm nhấn là nghi thức cúng hồn trâu.

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Tối 16/10, tại tỉnh Lào Cai, Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 với chủ đề “Tinh hoa Xòe Thái - Sắc màu Tây Bắc” được khai mạc, với điểm nhấn là màn biểu diễn đại Xòe có sự góp mặt của 2.026 người.

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Nằm ở thôn Phú Hạnh, xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, đồi Cổ Thạch thu hút du khách bởi cảnh quan núi biển giao hòa, con đường đá được người dân truyền lại là có từ hàng trăm năm trước cùng rừng duối lâu năm.

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.