Xã Trà Linh là xã miền núi xa nhất của thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm thành phố hơn 200 km về phía Tây Nam. Tuy còn nhiều khó khăn, địa hình hiểm trở, nhưng công tác chuẩn bị cho Ngày hội bầu cử đã được triển khai sẵn sàng, chu đáo. Hàng nghìn bà con nhân dân xã đang háo hức chờ đến ngày được bỏ phiếu cho những ứng cử viên Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Người dân náo nức chờ đón
Tuyến đường vào trung tâm xã Trà Linh có khung cảnh rực rỡ với cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm vàng tung bay trong nắng; nhiều băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền bầu cử đã được dựng sẵn. Tại các nhà văn hóa, điểm bầu cử thôn cũng được trang trí rực rỡ với tông màu chủ đạo đỏ - vàng. Người dân náo nức đi xem bảng danh sách cử tri, tìm hiểu về tiểu sử những người ứng cử…
Năm nay đã ngoài 80 tuổi, với hơn nửa tuổi đời là tuổi Đảng, ông Hồ Văn Khoang (người dân tộc Xơ Đăng, thôn 3, xã Trà Linh) đã dành nhiều ngày để tìm hiểu các ứng cử viên, tiểu sử tóm tắt của các ứng cử viên để bầu ra những người có tài, có đức, làm việc tốt, giúp bà con nhân dân xã no ấm. "Tôi kỳ vọng các đại biểu sẽ đại diện tiếng nói của bà con xã Trà Linh, có nhiều đề xuất, kiến nghị để Đảng, Nhà nước có thêm các chính sách phù hợp, quan tâm, phát triển các vùng sâu, vùng xa...”, ông Hồ Văn Khoang chia sẻ.
Là một Bí thư Chi đoàn thôn năng nổ, nhiệt huyết, em Hồ Thị Giới (dân tộc Xơ Đăng, xã Trà Linh) đã nhiệt tình tham gia vào công tác trang trí, tuyên truyền cổ động trực quan tại các điểm bầu cử của xã, của thôn trước Ngày hội bầu cử. Em mong muốn những ứng viên trúng cử sẽ luôn hỗ trợ, lắng nghe bà con nhiều hơn để đề ra các chính sách, cách làm thiết thực, hiệu quả, giúp bà con Xơ Đăng giảm nghèo bền vững.
Em Hồ Thị Giới cho biết hiện tại xã Trà Linh đang có cây sâm Ngọc Linh là loài cây dược liệu chủ lực về kinh tế, nên các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã cần đề ra chiến lược phát triển sâm Ngọc Linh hiệu quả, giúp bà con nắm bắt được kỹ thuật trồng cây, ươm cây giống, phòng chống sâu bệnh, chuột phá hoại… Những năm tới, em mong muốn các cấp chính quyền sẽ đầu tư hoàn thiện hơn về đường sá, giao thông trên địa bàn xã Trà Linh để các em học sinh có thể đến trường an toàn; bà con đi lại mua bán sâm Ngọc Linh dễ dàng hơn. Hiện tại, giao thông của xã còn khó khăn, mỗi năm mùa mưa tới thì nhiều tuyến đường bị ngập lụt, sạt lở, chia cắt, rất nguy hiểm.
Nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026
Theo bà Hồ Thị Minh Thuận, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Trà Linh, ngay từ đầu năm, xã đã xác định công tác bầu cử là nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026. Từ khi có văn bản chỉ đạo của cấp trên, xã đã tiến hành thành lập các Tổ, Ban chỉ đạo công tác bầu cử, Ủy ban bầu cử… Trên cơ sở đó, các bộ phận cũng xây dựng các kế hoạch, triển khai theo đúng lộ trình, văn bản hướng dẫn của cấp trên; đến nay các bước được tiến hành đảm bảo.
Hiện nay, danh sách cử tri cũng như các ứng cử viên đã được niêm yết tại các trụ sở, các thôn, các điểm bầu cử cho bà con nhân dân dễ theo dõi. Công tác tuyên truyền trực quan đã được triển khai hoàn thiện, đảm bảo thẩm mỹ, tiết kiệm, đúng theo hướng dẫn. Xã đang tiến hành công tác vận động bầu cử. Một số Tổ bầu cử đã hoàn tất công tác này.
Cử tri đồng bào dân tộc thiểu số Xê Đăng, xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng đến điểm bầu cử tìm hiểu tiểu sử các ứng cử viên Quốc hội và HĐND. Ảnh: Trần Tĩnh/TTXVN
Cũng theo Bí thư Đảng ủy xã Trà Linh, địa phương có thuận lợi là bà con nhân dân các dân tộc thiểu số luôn một lòng theo Đảng, Nhà nước, có niềm tin rất tốt đối với sự điều hành của chính quyền địa phương. Hiện toàn xã có hơn 1.000 hộ với hơn 7.000 dân. Trong các cuộc vận động, bà con luôn tuân thủ, hưởng ứng tích cực với tinh thần hứng khởi. Tuy nhiên, xã vẫn còn những khó khăn trong công tác chuẩn bị bầu cử như dân cư bố trí rất thưa thớt, các điểm thôn cách xa hàng chục cây số. Đa số người dân làm canh tác nương rẫy, trồng cây dược liệu trên rừng nên thường xuyên vắng nhà dài ngày. Vì vậy, việc vận động bà con đến bầu cử cho đủ số lượng cũng không dễ. Các cấp chính quyền phải chủ động nhiều phương án tuyên truyền, vận động đến từng hộ, từng bà con để tham gia bầu cử đông đủ trong Ngày hội toàn dân…
Bà Hồ Thị Minh Thuận cho rằng tiêu chuẩn để trở thành ứng cử viên, đại diện cho tâm tư, nguyện vọng của nhân dân rất rõ ràng, phải là người có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, đủ đức, đủ tài và có tinh thần trách nhiệm cao. Bà mong muốn các đại biểu trúng cử sẽ thực sự có tâm huyết, là người đại diện cho tâm tư, nguyện vọng của người dân; đưa ra những ý kiến, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn…/.
Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.
Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.
Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.
Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.
Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.
Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.
Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.
Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.
Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.
Ở: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.
Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.
Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.
Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.
Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.
Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.
Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.
Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...
Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.
Theo cema.gov.vn