Kon Tum vài nét tổng quan

Kon Tum vài nét tổng quan
1. Vị trí địa lý:

Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyên trong toạ độ địa lý từ 107020'15" đến 108032'30" kinh độ đông và từ 13055'10" đến 15027'15" vĩ độ bắc.

Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.676,5 km2, chiếm 3,1% diện tích toàn quốc, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km); phía nam giáp tỉnh Gia Lai (203 km), phía đông giáp Quảng Ngãi (74 km), phía tây giáp hai nước Lào và Campuchia (có chung đường biên giới dài 280,7 km). 

2. Điều kiện tự nhiên:

Địa hình:

Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây. Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đa dạng: đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau. Trong đó: 

1) Địa hình đồi, núi: chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên. Các núi ở Kon Tum do cấu tạo bởi đá biến chất cổ nên có dạng khối như khối Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m) - nơi bắt nguồn của nhiều con sông chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng như sông Thu Bồn và sông Vu Gia; chảy về Quảng Ngãi như sông Trà Khúc. Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sang phía đông tỉnh Kon Tum. Ngoài ra, Kon Tum còn có một số ngọn núi như: ngọn Bon San (1.939 m); ngọn Ngọc Kring (2.066 m). Mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối. Địa hình đồi tập trung chủ yếu ở huyện Sa Thầy có dạng nghiêng về phía tây và thấp dần về phía tây nam, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chưmomray. 

2) Địa hình thung lũng: nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam của tỉnh, có dạng lòng máng thấp dần về phía nam, theo thung lũng có những đồi lượn sóng như Đăk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thành phố Kon Tum. Thung lũng Sa Thầy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài về phía đông chạy dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. 

3) Địa hình cao nguyên: tỉnh Kon Tum có cao nguyên Kon Plông nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1.100 - 1.300 m, đây là cao nguyên nhỏ, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. 

Khí hậu:

Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 230C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 90C. 

Kon Tum có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Hàng năm, lượng mưa trung bình khoảng 2.121 mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8. Mùa khô, gió chủ yếu theo hướng đông bắc; mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng Tây Nam. 

Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78 - 87%. Độ ẩm không khí tháng cao nhất là tháng 8 - 9 (khoảng 90%), tháng thấp nhất là tháng 3 (khoảng 66%). 

Khoáng sản:

Kon Tum nằm trên khối nâng Kon Tum, vì vậy rất đa dạng về cấu trúc địa chất và khoáng sản. Trên địa bàn có 21 phân vị địa tầng và 19 phức hệ mắc ma đã được các nhà địa chất nghiên cứu xác lập, hàng loạt các loại hình khoáng sản như: sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quý, bán quý, kim loại phóng xạ, đất hiếm, nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng,... đã được phát hiện. Nhiều vùng có triển vọng khoáng sản đang được điều tra thành lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000, cùng với những công trình nghiên cứu chuyên đề khác,... sẽ là cơ sở quan trọng trong công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Qua khảo sát của các cơ quan chuyên môn, hiện nay, Kon Tum đang chú trọng đến một số loại khoáng sản sau: 

1) Nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng: nhóm này rất đa dạng, bao gồm: sét (gạch ngói), cát xây dựng, cuội sỏi, đá hoa, đá vôi, đá granít, puzơlan,.... 

2) Nhóm khoáng sản vật liệu cách âm, cách nhiệt và xử lý môi trường, bao gồm diatomit, bentonit, chủ yếu tập trung ở thành phố Kon Tum. 

3) Nhóm khoáng sản vật liệu chịu lửa: gồm có silimanit, dolomit, quazit tập trung chủ yếu ở các huyện Đăk Glei, Đăk Hà, Ngọc Hồi. 

4) Nhóm khoáng sản cháy: gồm có than bùn, tập trung chủ yếu ở thành phố Kon Tum, huyện Đăk Hà, huyện Đăk Tô. 

5) Nhóm khoáng sản kim loại đen, kim loại màu, kim loại hiếm: gồm có măngan ở Đăk Hà; thiếc, molipden, vonfram, uran, thori, tập trung chủ yếu ở Đăk Tô, Đăk Glei, Ngọc Hồi, Konplong; bauxit tập trung chủ yếu ở Kon Plông. 

6) Nhóm khoáng sản đá quý: gồm có rubi, saphia, opalcalcedon tập trung ở Đăk Tô, Konplong. 

Tài nguyên đất:

Tài nguyên đất của tỉnh Kon Tum được chia thành 5 nhóm với 17 loại đất chính: 

1) Nhóm đất phù sa: gồm ba loại đất chính là đất phù sa được bồi, đất phù sa loang lổ, đất phù sa ngoài suối. 

2) Nhóm đất xám: gồm hai loại đất chính là đất xám trên mácma axít và đất xám trên phù sa cổ. 

3) Nhóm đất vàng: gồm 6 loại chính là đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên mácma axít, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất nâu đỏ trên đá bazan phong hoá, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu tím trên đá bazan. 

4) Nhóm đất mùn vàng trên núi: gồm 5 loại đất chính là đất mùn vàng nhạt có nơi Potzon hoá, đất mùn vàng nhạt trên đá sét và biến chất, đất mùn nâu đỏ trên mácma bazơ và trung tính, đất mùn vàng đỏ trên mácma axít. 

5) Nhóm đất thung lũng: chỉ có một loại đất chính là đất thung lũng có sản phẩm dốc tụ. 

Tài nguyên nước: 

1) Nguồn nước mặt: chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía bắc và đông bắc của tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết, bao gồm: 

- Sông Sê San: do 2 nhánh chính là Pô Kô và Đăkbla hợp thành. Nhánh Pô Kô dài 121 km, bắt nguồn từ phía nam của khối núi Ngọc Linh, chảy theo hướng bắc - nam. Nhánh này được cung cấp từ suối ĐăkPsy dài 73 km, bắt nguồn phía nam núi Ngọc Linh từ các xã Ngọc Lây, Măng Ri, huyện Đăk Tô. Nhánh Đăkbla dài 144 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Krinh. 

- Các sông, suối khác: phía đông bắc tỉnh là đầu nguồn của sông Trà Khúc đổ về Quảng Ngãi và phía bắc của tỉnh là đầu nguồn của 2 con sông Thu Bồn và Vu Gia chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng. Ngoài ra còn có sông Sa Thầy bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc Rinh Rua, chảy theo hướng bắc - nam, gần như song song với biên giới Campuchia, đổ vào dòng Sê San. 

Nhìn chung, chất lượng nước, thế năng,... của nguồn nước mặt thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi. 

2) Nguồn nước ngầm: nguồn nước ngầm ở tỉnh Kon Tum có tiềm năng và trữ lượng công nghiệp cấp C2: 100 nghìn m3/ngày, đặc biệt ở độ sâu 60 - 300 m có trữ lượng tương đối lớn. Ngoài ra, huyện Đăk Tô, Konplong còn có 9 điểm có nước khoáng nóng, có khả năng khai thác, sử dụng làm nước giải khát và chữa bệnh. 

Tài nguyên rừng: 

Đến năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp của Kon Tum là 660.341 ha, chiếm 68,14% diện tích tự nhiên. Kon Tum có các kiểu rừng chính sau: 

- Rừng kín nhiệt đới hỗn hợp cây và lá rộng: đây là kiểu rừng điển hình của rừng tỉnh Kon Tum, phân bố chủ yếu trên độ cao 500 m, có ở hầu hết huyện, thị trong tỉnh. 

- Rừng lá ẩm nhiệt đới: có hầu hết trong tỉnh và thường phân bố ở ven sông. 

- Rừng kín á nhiệt đới: phân bố ở vùng núi cao. 

- Rừng thưa khô cây họ dầu (rừng khộp): phân bố chủ yếu ở huyện Ngọc Hồi, huyện Đăk Glei (dọc theo biên giới Việt Nam, Lào, Campuchia). 

- Thực vật: Theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300 loài, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa. Cây hạt trần có 12 loài, 5 chi, 4 họ; cây hạt kín có 305 loài, 175 chi, 71 họ; cây một lá mầm có 20 loài, 19 chi, 6 họ; cây 2 lá có mầm 285 loài, 156 chi, 65 họ. Trong đó, các họ nhiều nhất là họ đậu, họ dầu, họ long não, họ thầu dầu, họ trinh nữ, họ đào lộn hột, họ xoan và họ trám. Nhìn chung, thảm thực vật ở Kon Tum đa dạng, thể hiện nhiều loại rừng khác nhau trong nền cảnh chung của đới rừng nhiệt đới gió mùa, có 3 đai cao, thấp khác nhau: 600 m trở xuống, 600 - 1.600 m và trên 1.600 m. Hiện nay, nổi trội nhất vẫn là rừng rậm, trong rừng rậm có quần hợp chủ đạo là thông hai lá, dẻ, re, pơmu, đỗ quyên, chua,... ở độ cao 1.500 - 1.800 m chủ yếu là thông ba lá, chua, dẻ, re, kháo, chẹc,... Nhắc đến nguồn lợi rừng ở Kon Tum phải kể đến vùng núi Ngọc Linh với những cây dược liệu quý như sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, hà thủ ô và quế. Trong những năm gần đây, diện tích rừng của Kon Tum bị thu hẹp do chiến tranh, khai thác gỗ lậu và các sản phẩm khác của rừng. Nhưng nhìn chung, Kon Tum vẫn là tỉnh có nhiều rừng gỗ quý và có giá trị kinh tế cao.

- Động vật: rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim; thú có 88 loài, 26 họ, 10 bộ, chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên. Đáng chú ý nhất là động vật ăn cỏ như: voi, bò rừng, bò tót, trâu rừng, nai, hoẵng,... Trong đó, voi có nhiều ở vùng tây nam Kon Tum (huyện Sa Thầy). Bò rừng có: bò tót (hay con min) tên khoa học Bosgaurus thường xuất hiện ở các khu rừng thuộc huyện Sa Thầy và Đăk Tô; bò Đen Teng tên khoa học Bosjavanicus. Trong những năm gần đây, ở Sa Thầy, Đăk Tô, Kon Plông đã xuất hiện hổ, đây là dấu hiệu đáng mừng về sự tồn tại của loài thú quý này. Ngoài ra, rừng Kon Tum còn có gấu chó, gấu ngựa, chó sói. 

Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn. Trong điều kiện rừng bị xâm hại, việc săn bắt trái phép ngày một gia tăng, môi sinh luôn biến động đã ảnh hưởng đến sự sinh tồn của các loài động vật, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm. Tỉnh Kon Tum đã quy hoạch xây dựng các khu rừng nguyên sinh và đưa vào xếp hạng quốc gia để có kế hoạch khai thác, nghiên cứu và bảo vệ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ động, thực vật nói riêng, môi trường sinh thái nói chung.

3. Lịch sử hình thành và phát triển

Từ một làng nhỏ của người Bana cạnh dòng sông Đăk Bla, đồng bào các dân tộc Xơ Đăng, Bana, Gia Rai, Giẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm,... đến tụ cư, sinh sống, cho đến vị thế quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của mảnh đất Tây Nguyên bao la, hùng vĩ,... mảnh đất Kon Tum đã trải qua biết bao biến động và thăng trầm với nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính. Ngược dòng thời gian, tìm hiểu về những giai đoạn lịch sử mà Kon Tum đã đi qua, càng thấy trân trọng hơn ý chí, nghị lực, lòng quả cảm và sức mạnh nội lực của đất và người nơi đây trong hành trình vươn lên cùng đất nước.  

Kon Tum là tỉnh có dân số trẻ. Đến năm 2009, dân số toàn tỉnh là 432.865 người (Niên giám thống kê 2009) Kon Tum có 25 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 53%, có 6 dân tộc ít người sinh sống lâu đời bao gồm: Xơ Đăng, Bana, Giẻ-Triêng, Gia Rai, Brâu và Rơ Măm,... Sau ngày thống nhất đất nước (năm 1975) một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác đến sinh sống, làm cho thành phần dân tộc trong tỉnh ngày càng đa dạng.

Tên gọi Kon Tum

Theo truyền thuyết của dân tộc Bana, Kon Tum ban đầu chỉ là một làng của người Bana. Thuở ấy, vùng đồng bào dân tộc Bana (nay thuộc thành phố Kon Tum) có làng người địa phương ở gần bên dòng sông Đăkbla với tên gọi Kon Trang - OR. Lúc ấy, làng Kon Trang - OR rất thịnh vượng với dân số khá đông. Bấy giờ, giữa các làng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ. Hai con trai của Ja Xi - một trong số những người đứng đầu làng Kon Trang - OR tên là Jơ Rông và Uông không thích cảnh chiến tranh đã làm nhà ở riêng gần chỗ có hồ nước, cạnh dòng Đăkbla. Vùng đất này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư, nên dần dần có nhiều người đến ở, mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum. Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập của người Bana, cạnh dòng Đăkbla, nơi có nhiều hồ nước trũng. Theo tiếng Kinh, Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước,...).

Do vị trí đặc biệt, Kon Tum là vùng đất bằng, được dòng Đăkbla uốn quanh bồi đắp phù sa màu mỡ. Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, vùng đất này có nhiều biến đổi, đồng bào các dân tộc tụ hội về đây ngày một đông. Người Kinh khi đến Tây Nguyên cũng chọn vùng đất Kon Tum làm nơi định cư. Từ đó, Kon Tum trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc.

Phát huy những thuận lợi về điều kiện tự nhiên với sự cần cù lao động của con người, vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng, không chỉ một làng mà nhiều làng, bao quát cả vùng đất đai rộng lớn. Vùng đất này khi thành lập thị xã cũng mang tên gọi chính thức là Kon Tum. Khi đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập, Kon Tum vẫn chính thức được dùng làm tên gọi của tỉnh. Đây là vùng địa lý hành chính được hình thành sớm nhất ở Tây Nguyên.

Địa giới Kon Tum qua các thời kỳ lịch sử

Kon Tum thuở xưa còn rất hoang vắng, người thưa, đất rộng. Các dân tộc bản địa gồm Xơ Đăng, Bana, Gia Rai, Giẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm. Mỗi dân tộc gắn với một vùng cư trú khác nhau. Nét đặc biệt trong thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc ở tỉnh Kon Tum là tổ chức xã hội duy nhất chỉ có làng. Làng được xem như đơn vị hành chính mang tính bao quát và cụ thể, chi phối mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Mỗi làng mang tính độc lập riêng biệt, do một chủ làng là người có uy tín nhất trong làng đứng đầu.

Trong giai đoạn khởi nghĩa Tây Sơn (1771 - 1786), ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã xây dựng mối quan hệ đoàn kết với các dân tộc vùng này.

Năm 1840, dưới thời vua Thiệu Trị, triều đình Huế lập Bok Seam - một người Bana làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên, đồng thời cho phép người Kinh và người các dân tộc được phép tự do quan hệ mua bán, trao đổi. Từ đây, những lái buôn người Kinh bắt đầu đến với Tây Nguyên để mua bán, trao đổi hàng hóa.

Trong thời gian này, người Pháp cũng tìm đường đến Kon Tum để truyền đạo. Trong giai đoạn 1841 - 1850, thực dân Pháp đã đặt được cơ sở Thiên chúa giáo đầu tiên ở Kon Tum.

Năm 1867, thực dân Pháp bắt đầu tấn công xâm lược Kon Tum - Tây Nguyên. Bằng những thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ các dân tộc trong vùng, thực dân Pháp đã thôn tính Kon Tum và Tây Nguyên.

Năm 1892, thực dân Pháp đặt tại Kon Tum một tòa đại lý hành chính đầu tiên do một cố đạo người Pháp là Vialleton, còn gọi là cha Truyền cai quản.

Ngày 4-7-1904, thực dân Pháp thành lập tỉnh Plei Ku Der, bao gồm hai tòa đại lý hành chính: một tòa ở Kon Tum (trước đó thuộc tỉnh Bình Định) và một tòa ở Cheo Reo (trước đó thuộc tỉnh Phú Yên).

Ngày 25-4-1907, thực dân Pháp chính thức bãi bỏ tỉnh Plei Ku Der. Toàn bộ đất đai của tỉnh Plei Ku Der gồm hai tòa đại lý hành chính Kon Tum và Cheo Reo được sáp nhập trở lại hai tỉnh Bình Định và Phú Yên như trước đó.

Ngày 9-2-1913, thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Kon Tum, bao gồm đại lý hành chính Kon Tum tách ra từ Bình Định, đại lý hành chính Cheo Reo tách ra từ Phú Yên, đại lý hành chính Buôn Ma Thuột (Buôn Ma Thuột trước đó là một tỉnh riêng, nhưng đến năm 1913 giảm từ tỉnh xuống thành đại lý hành chính, sáp nhập vào tỉnh Kon Tum).

Năm 1917, thực dân Pháp thành lập tòa đại lý hành chính An Khê, gồm huyện Tân An và khu vực người dân tộc thiểu số đặt dưới quyền cai trị của công sứ tỉnh Kon Tum.

Ngày 2-7-1923, đại lý Buôn Ma Thuột được tách khỏi tỉnh Kon Tum để thành lập tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 3-12-1929, thành lập thành phố Kon Tum (thực tế lúc đó chỉ là thị trấn, gồm tổng Tân Hương và một số làng dân tộc thiểu số phụ cận).

Ngày 25-5-1932, tách đại lý Pleiku ra khỏi tỉnh Kon Tum, thành lập tỉnh Pleiku (nay thuộc tỉnh Gia Lai). Đến ngày 9-8-1943, đại lý hành chính An Khê được tách khỏi tỉnh Kon Tum, sáp nhập vào tỉnh Pleiku. Tỉnh Kon Tum lúc bấy giờ chỉ còn lại tổng Tân Hương và toàn bộ đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tổng Tân Hương là tên gọi tiền thân của thành phố Kon Tum hiện nay. Tổng Tân Hương là nơi hội tụ của các làng người Kinh lên lập nghiệp tại Kon Tum. Theo thứ tự, các làng của tổng Tân Hương được thành lập theo thời gian và tên gọi như sau: Tân Hương (năm 1874); Phương Nghĩa (năm 1882); Phương Quý (năm 1887); Phương Hòa (năm 1892); Trung Lương (năm 1914); Phụng Sơn (năm 1924); Ngô Thạnh (năm 1925); Ngô Trang (năm 1925); Phước Cần (năm 1927); Lương Khế (năm1927).

Ngày 3-2-1929, theo nghị định của Khâm sứ Trung Kỳ, tổng Tân Hương được lập thành thị trấn Kon Tum, từ đó thị trấn Kon Tum trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum. Theo thời gian, mảnh đất nơi đây không ngừng được mở rộng và phát triển. Ngoài các làng của người Kinh lập nên, về sau có thêm nhiều làng của người dân tộc thiểu số vùng ven như các làng Kon Rbàng, KonM'nai, ChưHreng, cũng nằm trong phạm vi quản lý hành chính của thị trấn Kon Tum.

Tháng 8-1945, cùng với cả nước, ngày 25-8-1945, nhân dân Kon Tum đã nổi dậy giành chính quyền. Chính quyền cách mạng tổ chức lại tỉnh Kon Tum thành 4 đơn vị hành chính gồm các huyện Đăk Glei, Đăk Tô, Konplong và thành phố Kon Tum. Chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Kon Tum được thành lập đóng trụ sở tại thành phố Kon Tum để lãnh đạo nhân dân bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới.

Ngày 26-6-1946, thực dân Pháp tấn công và chiếm lại Kon Tum, thiết lập trở lại bộ máy cai trị vùng này. So với trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bộ máy thống trị và chính sách cai trị của Pháp từ tỉnh tới làng không mấy thay đổi. Đứng đầu bộ máy hành chính cấp tỉnh là một công sứ người Pháp, bên dưới có các huyện thường do tên đồn trưởng người Pháp nắm giữ rồi đến làng. Thực dân Pháp đã tập hợp bọn tay sai người địa phương, đặc biệt là dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo các chủ làng để nắm giữ bộ máy quyền lực ở cơ sở.

Về phía cách mạng, sau khi thực dân Pháp tái chiếm Kon Tum, chính quyền cách mạng lâm thời tan rã, tổ chức Đảng bị phân tán, thất lạc. Trong thời gian này, tỉnh Kon Tum chịu sự quản lý chỉ đạo về hành chính của xứ ủy Trung Kỳ và Phân ban vận động quốc dân thiểu số Nam Trung Bộ.

Tháng 1-1947, thành lập Phân khu 15, trong đó nòng cốt là tỉnh Kon Tum và các huyện miền Tây của hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Trên thực tế, tổ chức hành chính của Kon Tum vẫn giữ nguyên, nhưng chịu sự quản lý và chi phối của Phân khu 15 về hoạt động quân sự. Tháng 8-1947, Khu 15 Tây Nguyên được thành lập, tỉnh Kon Tum là một trong những đơn vị hành chính trực thuộc Khu 15. Tháng 3-1950, theo chủ trương của Liên Khu ủy V, tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai được sáp nhập thành tỉnh Gia - Kon. Ban cán sự Gia - Kon ra quyết định thành lập 7 khu (huyện). Địa bàn tỉnh Kon Tum tổ chức thành 3 khu: khu 1 (Đăk Glei); khu 2 (Đăk Tô); khu 3 (Konplong).

Tháng 10-1951, theo quyết định của Liên Khu uỷ V, tỉnh Kon Tum và các huyện phía tây Quảng Ngãi hợp nhất thành Mặt trận miền Tây.

Tháng 2-1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng. Một thời gian sau, Mặt trận miền Tây cũng được giải thể. Theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ ký ngày 20-7-1954, tỉnh Kon Tum bước vào thời kỳ lịch sử mới.

Về phía địch, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ - ngụy tiếp quản Kon Tum. Năm 1958, chúng chia bộ máy hành chính tỉnh Kon Tum thành tòa hành chính Kon Tum - bộ máy hành chính cấp tỉnh, bên dưới gồm các quận Kon Tum, Đăk Tô, Konplong và Đăk Sút.

Năm 1958, nguỵ quyền thành lập quận Toumơrông. Năm 1959, nguỵ quyền thành lập thêm quận Chương Nghĩa. Năm 1960, quận Konplong bị xóa bỏ. Như vậy, thực tế quận Toumơrông và quận Chương Nghĩa chiếm gần trọn diện tích của quận Konplong trước đó. Một phần đất còn lại của quận Konplong không thuộc phạm vi của hai quận mới này được sáp nhập về quận Kon Tum.

Năm 1961, quận Chương Nghĩa bao gồm phần đất phía đông sông Đăk Nghé, giáp với Ba Tơ (Quảng Ngãi) được cắt về tỉnh Quảng Ngãi. Tỉnh Kon Tum còn lại 4 đơn vị hành chính cấp quận: Kon Tum, Đăk Tô, Đăk Sút, Toumơrông.

Sau năm 1965, phân cấp hành chính của Nguỵ quyền Sài Gòn tại Kon Tum có sự thay đổi. Đối với khu vực thị xã, thị trấn đông dân, chúng vẫn giữ nguyên cấp quận; những nơi xa xôi, ít dân cư hơn, chúng giảm quận đặt thành phái viên hành chính.

Năm 1970, bộ máy hành chính của địch ngoài tòa hành chính và các ty, sở ở tỉnh, bên dưới có các cấp sau: quận Kon Tum, quận Đăk Tô, phái viên hành chính Đăk Sút, phái viên hành chính Măng Buk, phái viên hành chính Chương Nghĩa (quận Chương Nghĩa chuyển về Quảng Ngãi một thời gian sau đó được nhập trở lại tỉnh Kon Tum).

Năm 1972, nguỵ quyền cải danh chi khu Đăk Pét thành quận Đăk Sút để mở rộng chức năng về hành chính.

Sau chiến dịch xuân - hè năm 1972, quân cách mạng giải phóng Đăk Tô - Tân Cảnh và đại bộ phận các vùng nông thôn, vùng kiểm soát của địch bị thu hẹp đáng kể; quận lỵ Đăk Tô của địch phải lưu vong về đèo Sao Mai (đông nam thành phố Kon Tum); các chi khu Đăk Pét, Măng Đen, Măng Buk bị cô lập giữa vùng giải phóng của ta. Địch chỉ còn co cụm phần lớn tại khu vực thành phố Kon Tum.

Năm 1974, quân ta tấn công tiêu diệt hoàn toàn các chi khu Đăk Pét, Măng Đen, Măng Buk. Tận dụng thời cơ thắng lớn ở Buôn Ma Thuột, ngày 17-3-1975, quân và dân trong tỉnh đã nổi dậy tấn công vào đầu não của địch ở nội thị, giải phóng thành phố và toàn tỉnh Kon Tum.

Về phía ta, đầu năm 1955, toàn tỉnh đuợc chia thành 6 khu nông thôn (tương đương huyện) và một thành phố.

Khu 1: lúc đầu là vùng đông và bắc thành phố Kon Tum, từ bờ sông Pô Kô (phía tây) đến bờ sông Đăk Nghé (phía đông).

Khu 2: bao gồm toàn huyện Konplong ngày nay.

Khu 3: gồm một số vùng thuộc huyện Đăk Glei và một số vùng của Đăk Tô (nay thuộc huyện Đăk Hà) giáp với khu 6 và giáp với huyện Konplong ngày nay.

Khu 4: vùng tây huyện Đăk Glei từ giáp Quảng Nam đến Đăk Nây Pui, phía tây giáp biên giới Lào.

Khu 5: được hình thành và giải thể trước khi có hiệp định Giơnevơ nên không còn. Một phần khu 5 nhập vào khu 4, phần còn lại nhập vào khu 6.

Khu 6: từ Vơmơna, phía đông giáp Măng Buk đến vùng Kayong giáp biên giới Lào, phía bắc giáp vùng Đăk Hà, phía nam đến Konplong.

Khu 7: thuộc huyện Sa Thầy ngày nay.

Cuối năm 1956, đầu năm 1957, các khu vực được sắp xếp lại và chuyển đổi thành huyện: cắt một phần khu 3 giáp khu 6 thành khu 8; cắt một phần nam khu 2 thành khu 9; giải thể khu 6. Hình thành nên các huyện: khu 1 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H16; khu 2 và khu 9 sáp nhập thành huyện H29; khu 3 chuyển thành huyện H30; khu 8 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H80; khu 4 thành huyện H40; khu 7 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H67.

Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, các huyện trong tỉnh Kon Tum đều được gọi theo tên mật danh như: H16, H29, H30, H40, H67, H80. Riêng thành phố Kon Tum lúc đó mang mật danh là H5. Vùng KonHring (nay thuộc huyện Đăk Hà) mang mật danh H9.

ứng với mỗi mật danh có tên gọi cụ thể là: H16 (Konpraih); H29 (Konplong); H80 (Đăk Tô); H5 (thành phố Kon Tum); H30 (phía đông Đăk Glei); H40 (phía tây Đăk Glei); H67 (Sa Thầy); H9 (Kon Hring).

Sau khi tỉnh Kon Tum được giải phóng (17-3-1975), toàn tỉnh có thành phố Kon Tum và 6 huyện là H30, H40, H16, H29, H80, H67.

Tháng 10-1975, tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnh Gia Lai - Kon Tum, trên địa bàn tỉnh có các huyện: huyện Konplong (H16 + H29), huyện Đăk Glei (H30 + H40), thành phố Kon Tum (H5 + H9), huyện Đăk Tô (H80). Năm 1979, thành lập huyện Sa Thầy trên cơ sở phần đất của H67 cũ.

Tháng 10-1991, tỉnh Kon Tum được tái lập trên cơ sở chia tách tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Theo đó, một số huyện mới được thành lập như Ngọc Hồi (năm 1992); Đăk Hà (năm 1994), huyện Kon Rẫy (năm 2002), huyện Tu Mơ Rông (năm 2005).

Đến năm 2005, tỉnh Kon Tum có 01 thành phố và 8 huyện. Trong đó, thành phố Kon Tum là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh.
Theo kontum.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Giúp học dân sinh vùng dân tộc tự tin bước vào năm học mới

Giúp học dân sinh vùng dân tộc tự tin bước vào năm học mới

Tại các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Khánh Hòa, thời gian này có rất đông trẻ đến trường để làm quen và học sớm tiếng phổ thông (tiếng Việt) đầu cấp tiểu học. Đây là hoạt động thiết thực, giúp các em khỏi bỡ ngỡ, mạnh dạn giao tiếp, sớm thành thạo kỹ năng nghe, nói tiếng phổ thông trước khi bước vào năm học mới.

Lào Cai tập trung khắc phục thiệt hại do mưa lớn

Lào Cai tập trung khắc phục thiệt hại do mưa lớn

Do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài từ chiều tối 27 đến ngày 28/7, tỉnh Lào Cai xuất hiện nhiều điểm sạt lở và cuốn trôi hoa màu của nhân dân. Các địa phương tập trung huy động lực lượng khắc phục hậu quả thiên tai gây ra.

Từ mô hình chính quyền địa phương hai cấp đến những đổi thay ở vùng biên

Từ mô hình chính quyền địa phương hai cấp đến những đổi thay ở vùng biên

Một năm sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các xã biên giới của tỉnh Tuyên Quang đang ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Từ những địa bàn xa xôi, giao thông cách trở, địa giới hành chính mở rộng sau sáp nhập, nhiều địa phương đã từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu để xây dựng bộ máy hoạt động thông suốt, gần dân hơn. Không chỉ nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, mô hình mới còn tạo động lực khai thác tiềm năng, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững quốc phòng, an ninh vùng biên.

Gỡ bài toán nhân lực y tế cơ sở sau sắp xếp

Gỡ bài toán nhân lực y tế cơ sở sau sắp xếp

Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, số trạm y tế của tỉnh Gia Lai giảm từ 373 xuống còn 135, trong khi quy mô dân số phục vụ của mỗi trạm tăng gần gấp ba lần. Địa bàn quản lý rộng hơn, khối lượng công việc lớn hơn nhưng toàn tỉnh vẫn thiếu gần 500 nhân lực y tế, tạo áp lực lớn đối với hoạt động của hệ thống y tế cơ sở, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Con đường mới nối lại nhịp sống vùng sạt lở

Con đường mới nối lại nhịp sống vùng sạt lở

Cuối tháng 10/2025, do ảnh hưởng của mưa lũ kéo dài, một vụ sạt lở đất nghiêm trọng cuốn theo con đường độc đạo, khiến hàng trăm hộ dân thuộc 4 thôn là Ngọc Nang, Xa Úa, Ngọc Lâng, Tu Răng, xã Ngọc Linh, tỉnh Quảng Ngãi bị cô lập. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp tại hiện trường của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, xã Ngọc Linh được hỗ trợ hơn 20 tỷ đồng; trong đó có hơn 6 tỷ đồng để khắc phục, làm mới con đường dẫn vào các thôn bị cô lập. Đến nay, tuyến đường đã được hoàn thành, giúp bà con yên tâm đi lại trước mùa mưa bão năm 2026.

Lâm Đồng: Mưa lớn kéo dài khiến nhiều khu vực ở Bảo Lộc ngập sâu

Lâm Đồng: Mưa lớn kéo dài khiến nhiều khu vực ở Bảo Lộc ngập sâu

Sáng 28/7, mưa lớn kéo dài từ đêm trước đã khiến nhiều khu vực trũng thấp tại phường 3 Bảo Lộc và phường B’Lao (tỉnh Lâm Đồng) bị ngập sâu. Lực lượng chức năng địa phương đang khẩn trương triển khai các biện pháp hỗ trợ người dân, ứng phó với diễn biến phức tạp của tình hình ngập lụt.

Bộ Xây dựng công bố tình huống khẩn cấp khắc phục hạ tầng giao thông ở Lào Cai, Lai Châu

Bộ Xây dựng công bố tình huống khẩn cấp khắc phục hạ tầng giao thông ở Lào Cai, Lai Châu

Bộ Xây dựng vừa ban hành Quyết định công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai để khắc phục hư hỏng kết cấu hạ tầng giao thông nhiều điểm, đoạn trên Quốc lộ 279 qua tỉnh Lào Cai; Quốc lộ 279 và Quốc lộ 32 qua tỉnh Lai Châu do ảnh hưởng của đợt mưa, lũ gây ra từ ngày 15/7/2026 đến ngày 17/7/2026.

Cao Bằng: Tập trung xử lý dứt điểm dịch tả lợn châu Phi

Cao Bằng: Tập trung xử lý dứt điểm dịch tả lợn châu Phi

Từ đầu năm đến nay, bệnh Dịch tả lợn châu Phi đã xuất hiện tại 27 xã, phường trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, làm hơn 1.000 con lợn mắc bệnh, chết và buộc phải tiêu hủy với tổng khối lượng hơn 49 tấn. Hiện vẫn còn 20 xóm thuộc 10 xã chưa qua 21 ngày kể từ khi phát hiện đang có dịch tả lợn châu Phi.

Quyết liệt phòng, chống dịch cúm gia cầm A/H5N1

Quyết liệt phòng, chống dịch cúm gia cầm A/H5N1

Chiều 26/7, UBND tỉnh Tuyên Quang thông tin đã ban hành văn bản yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương khẩn trương triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm A/H5N1 nhằm nhanh chóng khống chế, dập tắt các ổ dịch, không để dịch bệnh phát sinh và lây lan trên diện rộng.

50 căn nhà phao giúp người dân chủ động ứng phó mưa lũ

50 căn nhà phao giúp người dân chủ động ứng phó mưa lũ

Chiều 26/7, tại Nhà văn hóa thôn Tân Bình (xã Đồng Xuân, tỉnh Đắk Lắk), UBND tỉnh phối hợp với Báo Dân trí (Bộ Nội vụ) tổ chức khánh thành 50 căn nhà phao chống lũ tặng cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn tại xã Đồng Xuân và xã Tuy An Bắc (tỉnh Đắk Lắk).

Nối dài đạo lý 'Uống nước nhớ nguồn'

Nối dài đạo lý 'Uống nước nhớ nguồn'

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), trên quê hương cách mạng Cao Bằng, những hoạt động tri ân người có công được triển khai sâu rộng. Tỉnh đã thành lập các đoàn đến thăm hỏi, chăm sóc thương binh, bệnh binh. Mỗi việc làm đều góp phần nối dài đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tri ân những người đã hiến dâng tuổi xuân và cuộc đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Khánh thành công trình sửa chữa, nâng cấp Khu tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Thọ

Khánh thành công trình sửa chữa, nâng cấp Khu tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Thọ

Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), sáng 26/7, tại xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phối hợp với Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Điện Biên tổ chức khánh thành công trình sửa chữa, nâng cấp Khu tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Thọ.

Điện Biên đưa trường liên cấp thứ 2 ở vùng biên về đích

Điện Biên đưa trường liên cấp thứ 2 ở vùng biên về đích

Sau hơn 8 tháng thi công, Trường Phổ thông dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã Thanh Nưa đang bước vào giai đoạn hoàn thiện cuối cùng. Dự kiến hoàn thành trong tháng 7, đây sẽ là trường nội trú liên cấp thứ hai của tỉnh Điện Biên được hoàn thành theo chủ trương xây dựng hệ thống trường nội trú tại các xã biên giới.

Kiểm tra thực tế, nỗ lực khắc phục hậu quả thiên tai tại xã Mường Than

Kiểm tra thực tế, nỗ lực khắc phục hậu quả thiên tai tại xã Mường Than

Sáng 26/7, Thường trực Tỉnh ủy Lai Châu kiểm tra thực tế, làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Mường Than về tình hình khắc phục hậu quả thiên tai và việc thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Trung ương. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lai Châu Lê Minh Ngân chủ trì buổi làm việc.

Xoa dịu nỗi đau chiến tranh

Xoa dịu nỗi đau chiến tranh

Lào Cai đang bước vào dịp cao điểm tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), trong đó có “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”; triển khai hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; thăm hỏi, động viên và tặng quà các gia đình chính sách, người có công tiêu biểu tại các địa phương...

Độc đáo nghề ‘nài bò’ ở vùng Bảy Núi An Giang

Độc đáo nghề ‘nài bò’ ở vùng Bảy Núi An Giang

Đam mê, bản lĩnh và sự gắn bó với những đôi bò đua đã tạo nên nghề “nài bò” - một nghề đặc biệt chỉ có ở vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang. Không chỉ điều khiển đôi bò lao vun vút trên đường đua, các “nài bò” còn là những người gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ, góp phần làm nên sức sống bền bỉ của Hội đua bò Bảy Núi - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Đắk Lắk lần đầu đấu giá sầu riêng tại vườn

Đắk Lắk lần đầu đấu giá sầu riêng tại vườn

Trong khuôn khổ Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026, ngày 25/7, UBND xã Krông Pắc tổ chức Phiên đấu giá giao dịch sản phẩm sầu riêng tại vườn lần thứ nhất. Đây là một trong những hoạt động chính, hoạt động đầu tiên của Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm nay.

Những người thầm lặng sau tuyến đầu

Những người thầm lặng sau tuyến đầu

Giữa những ngày Mường Than (tỉnh Lai Châu) oằn mình khắc phục hậu quả lũ quét. Bên cạnh các lực lượng tuyến đầu là bộ đội, công an trực tiếp có mặt tại hiện trường khắc phục thiên tai, còn có những người thầm lặng, âm thầm cống hiến bằng tất cả trách nhiệm và tấm lòng của mình.

Thay đổi tư duy sản xuất, mở hướng thoát nghèo bền vững cho đồng bào vùng cao

Thay đổi tư duy sản xuất, mở hướng thoát nghèo bền vững cho đồng bào vùng cao

Sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, các địa phương phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, tiếp tục triển khai cuộc vận động "Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số, làm cho đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo bền vững” với nhiều cách làm phù hợp, góp phần từng bước thay đổi nhận thức, phương thức sản xuất của người dân vùng sâu, vùng xa.

Từ lửa đạn đến thủ lĩnh kinh tế thời bình

Từ lửa đạn đến thủ lĩnh kinh tế thời bình

Từng xông pha trong lửa đạn, cống hiến tuổi trẻ, xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc, khi trở về với cuộc sống đời thường, nhiều thương binh, bệnh binh tỉnh Lào Cai lại tiếp tục nỗ lực trên “mặt trận” làm kinh tế. Họ không chỉ làm giàu cho gia đình, góp sức xây dựng quê hương, những thương binh, bệnh binh còn khẳng định ý chí, quyết tâm “tàn nhưng không phế”.

Gấp rút hoàn thiện các trường nội trú liên cấp vùng biên trước thềm năm học mới

Gấp rút hoàn thiện các trường nội trú liên cấp vùng biên trước thềm năm học mới

Để kịp phục vụ cho năm học mới 2026-2027, các công trường xây dựng 7 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới của tỉnh Gia Lai đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thi công. Cùng với thi công, ngành Giáo dục và các địa phương cũng thông báo tuyển sinh, chuẩn bị nhân sự và trang thiết bị để các trường có thể hoạt động ngay khi bàn giao.

Đổi thay trên quê hương chiến khu cách mạng Mường Thàng

Đổi thay trên quê hương chiến khu cách mạng Mường Thàng

Từng là vùng chiến khu cách mạng ghi dấu những năm tháng đấu tranh gian khổ, xã Mường Thàng hôm nay đang khoác lên mình diện mạo mới. Những con đường mới, công trình hạ tầng được đầu tư và đời sống người dân ngày càng khởi sắc đang mở ra một hành trình phát triển mới cho vùng đất giàu truyền thống cách mạng.

Ấm áp nghĩa tình nơi tâm lũ Mường Than

Ấm áp nghĩa tình nơi tâm lũ Mường Than

Trận lũ lịch sử ngày 17/7 vừa qua tại xã Mường Than (tỉnh Lai Châu), lực lượng vũ trang tuyến đầu như bộ đội, công an đã nhanh chóng có mặt tại tâm lũ triển khai lực lượng, tận tâm, tận lực cứu giúp nhân dân vùng lũ.

Nêu gương bằng kết quả công việc

Nêu gương bằng kết quả công việc

Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên ngày càng được cụ thể hóa bằng tiến độ, chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Tại Tuyên Quang, việc đánh giá cán bộ đang chuyển mạnh từ nhận xét chung sang xem xét sản phẩm cụ thể, lấy kết quả giải quyết những vấn đề khó, sự chuyển biến của địa phương, cơ quan, đơn vị và mức độ hài lòng của người dân làm thước đo.