Kon Tum vài nét tổng quan

Kon Tum vài nét tổng quan
1. Vị trí địa lý:

Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyên trong toạ độ địa lý từ 107020'15" đến 108032'30" kinh độ đông và từ 13055'10" đến 15027'15" vĩ độ bắc.

Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.676,5 km2, chiếm 3,1% diện tích toàn quốc, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km); phía nam giáp tỉnh Gia Lai (203 km), phía đông giáp Quảng Ngãi (74 km), phía tây giáp hai nước Lào và Campuchia (có chung đường biên giới dài 280,7 km). 

2. Điều kiện tự nhiên:

Địa hình:

Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây. Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đa dạng: đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau. Trong đó: 

1) Địa hình đồi, núi: chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên. Các núi ở Kon Tum do cấu tạo bởi đá biến chất cổ nên có dạng khối như khối Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m) - nơi bắt nguồn của nhiều con sông chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng như sông Thu Bồn và sông Vu Gia; chảy về Quảng Ngãi như sông Trà Khúc. Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sang phía đông tỉnh Kon Tum. Ngoài ra, Kon Tum còn có một số ngọn núi như: ngọn Bon San (1.939 m); ngọn Ngọc Kring (2.066 m). Mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối. Địa hình đồi tập trung chủ yếu ở huyện Sa Thầy có dạng nghiêng về phía tây và thấp dần về phía tây nam, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chưmomray. 

2) Địa hình thung lũng: nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam của tỉnh, có dạng lòng máng thấp dần về phía nam, theo thung lũng có những đồi lượn sóng như Đăk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thành phố Kon Tum. Thung lũng Sa Thầy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài về phía đông chạy dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. 

3) Địa hình cao nguyên: tỉnh Kon Tum có cao nguyên Kon Plông nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1.100 - 1.300 m, đây là cao nguyên nhỏ, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. 

Khí hậu:

Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 230C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 90C. 

Kon Tum có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Hàng năm, lượng mưa trung bình khoảng 2.121 mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8. Mùa khô, gió chủ yếu theo hướng đông bắc; mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng Tây Nam. 

Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78 - 87%. Độ ẩm không khí tháng cao nhất là tháng 8 - 9 (khoảng 90%), tháng thấp nhất là tháng 3 (khoảng 66%). 

Khoáng sản:

Kon Tum nằm trên khối nâng Kon Tum, vì vậy rất đa dạng về cấu trúc địa chất và khoáng sản. Trên địa bàn có 21 phân vị địa tầng và 19 phức hệ mắc ma đã được các nhà địa chất nghiên cứu xác lập, hàng loạt các loại hình khoáng sản như: sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quý, bán quý, kim loại phóng xạ, đất hiếm, nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng,... đã được phát hiện. Nhiều vùng có triển vọng khoáng sản đang được điều tra thành lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000, cùng với những công trình nghiên cứu chuyên đề khác,... sẽ là cơ sở quan trọng trong công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Qua khảo sát của các cơ quan chuyên môn, hiện nay, Kon Tum đang chú trọng đến một số loại khoáng sản sau: 

1) Nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng: nhóm này rất đa dạng, bao gồm: sét (gạch ngói), cát xây dựng, cuội sỏi, đá hoa, đá vôi, đá granít, puzơlan,.... 

2) Nhóm khoáng sản vật liệu cách âm, cách nhiệt và xử lý môi trường, bao gồm diatomit, bentonit, chủ yếu tập trung ở thành phố Kon Tum. 

3) Nhóm khoáng sản vật liệu chịu lửa: gồm có silimanit, dolomit, quazit tập trung chủ yếu ở các huyện Đăk Glei, Đăk Hà, Ngọc Hồi. 

4) Nhóm khoáng sản cháy: gồm có than bùn, tập trung chủ yếu ở thành phố Kon Tum, huyện Đăk Hà, huyện Đăk Tô. 

5) Nhóm khoáng sản kim loại đen, kim loại màu, kim loại hiếm: gồm có măngan ở Đăk Hà; thiếc, molipden, vonfram, uran, thori, tập trung chủ yếu ở Đăk Tô, Đăk Glei, Ngọc Hồi, Konplong; bauxit tập trung chủ yếu ở Kon Plông. 

6) Nhóm khoáng sản đá quý: gồm có rubi, saphia, opalcalcedon tập trung ở Đăk Tô, Konplong. 

Tài nguyên đất:

Tài nguyên đất của tỉnh Kon Tum được chia thành 5 nhóm với 17 loại đất chính: 

1) Nhóm đất phù sa: gồm ba loại đất chính là đất phù sa được bồi, đất phù sa loang lổ, đất phù sa ngoài suối. 

2) Nhóm đất xám: gồm hai loại đất chính là đất xám trên mácma axít và đất xám trên phù sa cổ. 

3) Nhóm đất vàng: gồm 6 loại chính là đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên mácma axít, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất nâu đỏ trên đá bazan phong hoá, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu tím trên đá bazan. 

4) Nhóm đất mùn vàng trên núi: gồm 5 loại đất chính là đất mùn vàng nhạt có nơi Potzon hoá, đất mùn vàng nhạt trên đá sét và biến chất, đất mùn nâu đỏ trên mácma bazơ và trung tính, đất mùn vàng đỏ trên mácma axít. 

5) Nhóm đất thung lũng: chỉ có một loại đất chính là đất thung lũng có sản phẩm dốc tụ. 

Tài nguyên nước: 

1) Nguồn nước mặt: chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía bắc và đông bắc của tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết, bao gồm: 

- Sông Sê San: do 2 nhánh chính là Pô Kô và Đăkbla hợp thành. Nhánh Pô Kô dài 121 km, bắt nguồn từ phía nam của khối núi Ngọc Linh, chảy theo hướng bắc - nam. Nhánh này được cung cấp từ suối ĐăkPsy dài 73 km, bắt nguồn phía nam núi Ngọc Linh từ các xã Ngọc Lây, Măng Ri, huyện Đăk Tô. Nhánh Đăkbla dài 144 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Krinh. 

- Các sông, suối khác: phía đông bắc tỉnh là đầu nguồn của sông Trà Khúc đổ về Quảng Ngãi và phía bắc của tỉnh là đầu nguồn của 2 con sông Thu Bồn và Vu Gia chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng. Ngoài ra còn có sông Sa Thầy bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc Rinh Rua, chảy theo hướng bắc - nam, gần như song song với biên giới Campuchia, đổ vào dòng Sê San. 

Nhìn chung, chất lượng nước, thế năng,... của nguồn nước mặt thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi. 

2) Nguồn nước ngầm: nguồn nước ngầm ở tỉnh Kon Tum có tiềm năng và trữ lượng công nghiệp cấp C2: 100 nghìn m3/ngày, đặc biệt ở độ sâu 60 - 300 m có trữ lượng tương đối lớn. Ngoài ra, huyện Đăk Tô, Konplong còn có 9 điểm có nước khoáng nóng, có khả năng khai thác, sử dụng làm nước giải khát và chữa bệnh. 

Tài nguyên rừng: 

Đến năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp của Kon Tum là 660.341 ha, chiếm 68,14% diện tích tự nhiên. Kon Tum có các kiểu rừng chính sau: 

- Rừng kín nhiệt đới hỗn hợp cây và lá rộng: đây là kiểu rừng điển hình của rừng tỉnh Kon Tum, phân bố chủ yếu trên độ cao 500 m, có ở hầu hết huyện, thị trong tỉnh. 

- Rừng lá ẩm nhiệt đới: có hầu hết trong tỉnh và thường phân bố ở ven sông. 

- Rừng kín á nhiệt đới: phân bố ở vùng núi cao. 

- Rừng thưa khô cây họ dầu (rừng khộp): phân bố chủ yếu ở huyện Ngọc Hồi, huyện Đăk Glei (dọc theo biên giới Việt Nam, Lào, Campuchia). 

- Thực vật: Theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300 loài, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa. Cây hạt trần có 12 loài, 5 chi, 4 họ; cây hạt kín có 305 loài, 175 chi, 71 họ; cây một lá mầm có 20 loài, 19 chi, 6 họ; cây 2 lá có mầm 285 loài, 156 chi, 65 họ. Trong đó, các họ nhiều nhất là họ đậu, họ dầu, họ long não, họ thầu dầu, họ trinh nữ, họ đào lộn hột, họ xoan và họ trám. Nhìn chung, thảm thực vật ở Kon Tum đa dạng, thể hiện nhiều loại rừng khác nhau trong nền cảnh chung của đới rừng nhiệt đới gió mùa, có 3 đai cao, thấp khác nhau: 600 m trở xuống, 600 - 1.600 m và trên 1.600 m. Hiện nay, nổi trội nhất vẫn là rừng rậm, trong rừng rậm có quần hợp chủ đạo là thông hai lá, dẻ, re, pơmu, đỗ quyên, chua,... ở độ cao 1.500 - 1.800 m chủ yếu là thông ba lá, chua, dẻ, re, kháo, chẹc,... Nhắc đến nguồn lợi rừng ở Kon Tum phải kể đến vùng núi Ngọc Linh với những cây dược liệu quý như sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, hà thủ ô và quế. Trong những năm gần đây, diện tích rừng của Kon Tum bị thu hẹp do chiến tranh, khai thác gỗ lậu và các sản phẩm khác của rừng. Nhưng nhìn chung, Kon Tum vẫn là tỉnh có nhiều rừng gỗ quý và có giá trị kinh tế cao.

- Động vật: rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim; thú có 88 loài, 26 họ, 10 bộ, chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên. Đáng chú ý nhất là động vật ăn cỏ như: voi, bò rừng, bò tót, trâu rừng, nai, hoẵng,... Trong đó, voi có nhiều ở vùng tây nam Kon Tum (huyện Sa Thầy). Bò rừng có: bò tót (hay con min) tên khoa học Bosgaurus thường xuất hiện ở các khu rừng thuộc huyện Sa Thầy và Đăk Tô; bò Đen Teng tên khoa học Bosjavanicus. Trong những năm gần đây, ở Sa Thầy, Đăk Tô, Kon Plông đã xuất hiện hổ, đây là dấu hiệu đáng mừng về sự tồn tại của loài thú quý này. Ngoài ra, rừng Kon Tum còn có gấu chó, gấu ngựa, chó sói. 

Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn. Trong điều kiện rừng bị xâm hại, việc săn bắt trái phép ngày một gia tăng, môi sinh luôn biến động đã ảnh hưởng đến sự sinh tồn của các loài động vật, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm. Tỉnh Kon Tum đã quy hoạch xây dựng các khu rừng nguyên sinh và đưa vào xếp hạng quốc gia để có kế hoạch khai thác, nghiên cứu và bảo vệ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ động, thực vật nói riêng, môi trường sinh thái nói chung.

3. Lịch sử hình thành và phát triển

Từ một làng nhỏ của người Bana cạnh dòng sông Đăk Bla, đồng bào các dân tộc Xơ Đăng, Bana, Gia Rai, Giẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm,... đến tụ cư, sinh sống, cho đến vị thế quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của mảnh đất Tây Nguyên bao la, hùng vĩ,... mảnh đất Kon Tum đã trải qua biết bao biến động và thăng trầm với nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính. Ngược dòng thời gian, tìm hiểu về những giai đoạn lịch sử mà Kon Tum đã đi qua, càng thấy trân trọng hơn ý chí, nghị lực, lòng quả cảm và sức mạnh nội lực của đất và người nơi đây trong hành trình vươn lên cùng đất nước.  

Kon Tum là tỉnh có dân số trẻ. Đến năm 2009, dân số toàn tỉnh là 432.865 người (Niên giám thống kê 2009) Kon Tum có 25 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 53%, có 6 dân tộc ít người sinh sống lâu đời bao gồm: Xơ Đăng, Bana, Giẻ-Triêng, Gia Rai, Brâu và Rơ Măm,... Sau ngày thống nhất đất nước (năm 1975) một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác đến sinh sống, làm cho thành phần dân tộc trong tỉnh ngày càng đa dạng.

Tên gọi Kon Tum

Theo truyền thuyết của dân tộc Bana, Kon Tum ban đầu chỉ là một làng của người Bana. Thuở ấy, vùng đồng bào dân tộc Bana (nay thuộc thành phố Kon Tum) có làng người địa phương ở gần bên dòng sông Đăkbla với tên gọi Kon Trang - OR. Lúc ấy, làng Kon Trang - OR rất thịnh vượng với dân số khá đông. Bấy giờ, giữa các làng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ. Hai con trai của Ja Xi - một trong số những người đứng đầu làng Kon Trang - OR tên là Jơ Rông và Uông không thích cảnh chiến tranh đã làm nhà ở riêng gần chỗ có hồ nước, cạnh dòng Đăkbla. Vùng đất này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư, nên dần dần có nhiều người đến ở, mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum. Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập của người Bana, cạnh dòng Đăkbla, nơi có nhiều hồ nước trũng. Theo tiếng Kinh, Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước,...).

Do vị trí đặc biệt, Kon Tum là vùng đất bằng, được dòng Đăkbla uốn quanh bồi đắp phù sa màu mỡ. Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, vùng đất này có nhiều biến đổi, đồng bào các dân tộc tụ hội về đây ngày một đông. Người Kinh khi đến Tây Nguyên cũng chọn vùng đất Kon Tum làm nơi định cư. Từ đó, Kon Tum trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc.

Phát huy những thuận lợi về điều kiện tự nhiên với sự cần cù lao động của con người, vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng, không chỉ một làng mà nhiều làng, bao quát cả vùng đất đai rộng lớn. Vùng đất này khi thành lập thị xã cũng mang tên gọi chính thức là Kon Tum. Khi đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập, Kon Tum vẫn chính thức được dùng làm tên gọi của tỉnh. Đây là vùng địa lý hành chính được hình thành sớm nhất ở Tây Nguyên.

Địa giới Kon Tum qua các thời kỳ lịch sử

Kon Tum thuở xưa còn rất hoang vắng, người thưa, đất rộng. Các dân tộc bản địa gồm Xơ Đăng, Bana, Gia Rai, Giẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm. Mỗi dân tộc gắn với một vùng cư trú khác nhau. Nét đặc biệt trong thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc ở tỉnh Kon Tum là tổ chức xã hội duy nhất chỉ có làng. Làng được xem như đơn vị hành chính mang tính bao quát và cụ thể, chi phối mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Mỗi làng mang tính độc lập riêng biệt, do một chủ làng là người có uy tín nhất trong làng đứng đầu.

Trong giai đoạn khởi nghĩa Tây Sơn (1771 - 1786), ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã xây dựng mối quan hệ đoàn kết với các dân tộc vùng này.

Năm 1840, dưới thời vua Thiệu Trị, triều đình Huế lập Bok Seam - một người Bana làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên, đồng thời cho phép người Kinh và người các dân tộc được phép tự do quan hệ mua bán, trao đổi. Từ đây, những lái buôn người Kinh bắt đầu đến với Tây Nguyên để mua bán, trao đổi hàng hóa.

Trong thời gian này, người Pháp cũng tìm đường đến Kon Tum để truyền đạo. Trong giai đoạn 1841 - 1850, thực dân Pháp đã đặt được cơ sở Thiên chúa giáo đầu tiên ở Kon Tum.

Năm 1867, thực dân Pháp bắt đầu tấn công xâm lược Kon Tum - Tây Nguyên. Bằng những thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ các dân tộc trong vùng, thực dân Pháp đã thôn tính Kon Tum và Tây Nguyên.

Năm 1892, thực dân Pháp đặt tại Kon Tum một tòa đại lý hành chính đầu tiên do một cố đạo người Pháp là Vialleton, còn gọi là cha Truyền cai quản.

Ngày 4-7-1904, thực dân Pháp thành lập tỉnh Plei Ku Der, bao gồm hai tòa đại lý hành chính: một tòa ở Kon Tum (trước đó thuộc tỉnh Bình Định) và một tòa ở Cheo Reo (trước đó thuộc tỉnh Phú Yên).

Ngày 25-4-1907, thực dân Pháp chính thức bãi bỏ tỉnh Plei Ku Der. Toàn bộ đất đai của tỉnh Plei Ku Der gồm hai tòa đại lý hành chính Kon Tum và Cheo Reo được sáp nhập trở lại hai tỉnh Bình Định và Phú Yên như trước đó.

Ngày 9-2-1913, thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Kon Tum, bao gồm đại lý hành chính Kon Tum tách ra từ Bình Định, đại lý hành chính Cheo Reo tách ra từ Phú Yên, đại lý hành chính Buôn Ma Thuột (Buôn Ma Thuột trước đó là một tỉnh riêng, nhưng đến năm 1913 giảm từ tỉnh xuống thành đại lý hành chính, sáp nhập vào tỉnh Kon Tum).

Năm 1917, thực dân Pháp thành lập tòa đại lý hành chính An Khê, gồm huyện Tân An và khu vực người dân tộc thiểu số đặt dưới quyền cai trị của công sứ tỉnh Kon Tum.

Ngày 2-7-1923, đại lý Buôn Ma Thuột được tách khỏi tỉnh Kon Tum để thành lập tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 3-12-1929, thành lập thành phố Kon Tum (thực tế lúc đó chỉ là thị trấn, gồm tổng Tân Hương và một số làng dân tộc thiểu số phụ cận).

Ngày 25-5-1932, tách đại lý Pleiku ra khỏi tỉnh Kon Tum, thành lập tỉnh Pleiku (nay thuộc tỉnh Gia Lai). Đến ngày 9-8-1943, đại lý hành chính An Khê được tách khỏi tỉnh Kon Tum, sáp nhập vào tỉnh Pleiku. Tỉnh Kon Tum lúc bấy giờ chỉ còn lại tổng Tân Hương và toàn bộ đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tổng Tân Hương là tên gọi tiền thân của thành phố Kon Tum hiện nay. Tổng Tân Hương là nơi hội tụ của các làng người Kinh lên lập nghiệp tại Kon Tum. Theo thứ tự, các làng của tổng Tân Hương được thành lập theo thời gian và tên gọi như sau: Tân Hương (năm 1874); Phương Nghĩa (năm 1882); Phương Quý (năm 1887); Phương Hòa (năm 1892); Trung Lương (năm 1914); Phụng Sơn (năm 1924); Ngô Thạnh (năm 1925); Ngô Trang (năm 1925); Phước Cần (năm 1927); Lương Khế (năm1927).

Ngày 3-2-1929, theo nghị định của Khâm sứ Trung Kỳ, tổng Tân Hương được lập thành thị trấn Kon Tum, từ đó thị trấn Kon Tum trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum. Theo thời gian, mảnh đất nơi đây không ngừng được mở rộng và phát triển. Ngoài các làng của người Kinh lập nên, về sau có thêm nhiều làng của người dân tộc thiểu số vùng ven như các làng Kon Rbàng, KonM'nai, ChưHreng, cũng nằm trong phạm vi quản lý hành chính của thị trấn Kon Tum.

Tháng 8-1945, cùng với cả nước, ngày 25-8-1945, nhân dân Kon Tum đã nổi dậy giành chính quyền. Chính quyền cách mạng tổ chức lại tỉnh Kon Tum thành 4 đơn vị hành chính gồm các huyện Đăk Glei, Đăk Tô, Konplong và thành phố Kon Tum. Chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Kon Tum được thành lập đóng trụ sở tại thành phố Kon Tum để lãnh đạo nhân dân bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới.

Ngày 26-6-1946, thực dân Pháp tấn công và chiếm lại Kon Tum, thiết lập trở lại bộ máy cai trị vùng này. So với trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bộ máy thống trị và chính sách cai trị của Pháp từ tỉnh tới làng không mấy thay đổi. Đứng đầu bộ máy hành chính cấp tỉnh là một công sứ người Pháp, bên dưới có các huyện thường do tên đồn trưởng người Pháp nắm giữ rồi đến làng. Thực dân Pháp đã tập hợp bọn tay sai người địa phương, đặc biệt là dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo các chủ làng để nắm giữ bộ máy quyền lực ở cơ sở.

Về phía cách mạng, sau khi thực dân Pháp tái chiếm Kon Tum, chính quyền cách mạng lâm thời tan rã, tổ chức Đảng bị phân tán, thất lạc. Trong thời gian này, tỉnh Kon Tum chịu sự quản lý chỉ đạo về hành chính của xứ ủy Trung Kỳ và Phân ban vận động quốc dân thiểu số Nam Trung Bộ.

Tháng 1-1947, thành lập Phân khu 15, trong đó nòng cốt là tỉnh Kon Tum và các huyện miền Tây của hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Trên thực tế, tổ chức hành chính của Kon Tum vẫn giữ nguyên, nhưng chịu sự quản lý và chi phối của Phân khu 15 về hoạt động quân sự. Tháng 8-1947, Khu 15 Tây Nguyên được thành lập, tỉnh Kon Tum là một trong những đơn vị hành chính trực thuộc Khu 15. Tháng 3-1950, theo chủ trương của Liên Khu ủy V, tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai được sáp nhập thành tỉnh Gia - Kon. Ban cán sự Gia - Kon ra quyết định thành lập 7 khu (huyện). Địa bàn tỉnh Kon Tum tổ chức thành 3 khu: khu 1 (Đăk Glei); khu 2 (Đăk Tô); khu 3 (Konplong).

Tháng 10-1951, theo quyết định của Liên Khu uỷ V, tỉnh Kon Tum và các huyện phía tây Quảng Ngãi hợp nhất thành Mặt trận miền Tây.

Tháng 2-1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng. Một thời gian sau, Mặt trận miền Tây cũng được giải thể. Theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ ký ngày 20-7-1954, tỉnh Kon Tum bước vào thời kỳ lịch sử mới.

Về phía địch, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ - ngụy tiếp quản Kon Tum. Năm 1958, chúng chia bộ máy hành chính tỉnh Kon Tum thành tòa hành chính Kon Tum - bộ máy hành chính cấp tỉnh, bên dưới gồm các quận Kon Tum, Đăk Tô, Konplong và Đăk Sút.

Năm 1958, nguỵ quyền thành lập quận Toumơrông. Năm 1959, nguỵ quyền thành lập thêm quận Chương Nghĩa. Năm 1960, quận Konplong bị xóa bỏ. Như vậy, thực tế quận Toumơrông và quận Chương Nghĩa chiếm gần trọn diện tích của quận Konplong trước đó. Một phần đất còn lại của quận Konplong không thuộc phạm vi của hai quận mới này được sáp nhập về quận Kon Tum.

Năm 1961, quận Chương Nghĩa bao gồm phần đất phía đông sông Đăk Nghé, giáp với Ba Tơ (Quảng Ngãi) được cắt về tỉnh Quảng Ngãi. Tỉnh Kon Tum còn lại 4 đơn vị hành chính cấp quận: Kon Tum, Đăk Tô, Đăk Sút, Toumơrông.

Sau năm 1965, phân cấp hành chính của Nguỵ quyền Sài Gòn tại Kon Tum có sự thay đổi. Đối với khu vực thị xã, thị trấn đông dân, chúng vẫn giữ nguyên cấp quận; những nơi xa xôi, ít dân cư hơn, chúng giảm quận đặt thành phái viên hành chính.

Năm 1970, bộ máy hành chính của địch ngoài tòa hành chính và các ty, sở ở tỉnh, bên dưới có các cấp sau: quận Kon Tum, quận Đăk Tô, phái viên hành chính Đăk Sút, phái viên hành chính Măng Buk, phái viên hành chính Chương Nghĩa (quận Chương Nghĩa chuyển về Quảng Ngãi một thời gian sau đó được nhập trở lại tỉnh Kon Tum).

Năm 1972, nguỵ quyền cải danh chi khu Đăk Pét thành quận Đăk Sút để mở rộng chức năng về hành chính.

Sau chiến dịch xuân - hè năm 1972, quân cách mạng giải phóng Đăk Tô - Tân Cảnh và đại bộ phận các vùng nông thôn, vùng kiểm soát của địch bị thu hẹp đáng kể; quận lỵ Đăk Tô của địch phải lưu vong về đèo Sao Mai (đông nam thành phố Kon Tum); các chi khu Đăk Pét, Măng Đen, Măng Buk bị cô lập giữa vùng giải phóng của ta. Địch chỉ còn co cụm phần lớn tại khu vực thành phố Kon Tum.

Năm 1974, quân ta tấn công tiêu diệt hoàn toàn các chi khu Đăk Pét, Măng Đen, Măng Buk. Tận dụng thời cơ thắng lớn ở Buôn Ma Thuột, ngày 17-3-1975, quân và dân trong tỉnh đã nổi dậy tấn công vào đầu não của địch ở nội thị, giải phóng thành phố và toàn tỉnh Kon Tum.

Về phía ta, đầu năm 1955, toàn tỉnh đuợc chia thành 6 khu nông thôn (tương đương huyện) và một thành phố.

Khu 1: lúc đầu là vùng đông và bắc thành phố Kon Tum, từ bờ sông Pô Kô (phía tây) đến bờ sông Đăk Nghé (phía đông).

Khu 2: bao gồm toàn huyện Konplong ngày nay.

Khu 3: gồm một số vùng thuộc huyện Đăk Glei và một số vùng của Đăk Tô (nay thuộc huyện Đăk Hà) giáp với khu 6 và giáp với huyện Konplong ngày nay.

Khu 4: vùng tây huyện Đăk Glei từ giáp Quảng Nam đến Đăk Nây Pui, phía tây giáp biên giới Lào.

Khu 5: được hình thành và giải thể trước khi có hiệp định Giơnevơ nên không còn. Một phần khu 5 nhập vào khu 4, phần còn lại nhập vào khu 6.

Khu 6: từ Vơmơna, phía đông giáp Măng Buk đến vùng Kayong giáp biên giới Lào, phía bắc giáp vùng Đăk Hà, phía nam đến Konplong.

Khu 7: thuộc huyện Sa Thầy ngày nay.

Cuối năm 1956, đầu năm 1957, các khu vực được sắp xếp lại và chuyển đổi thành huyện: cắt một phần khu 3 giáp khu 6 thành khu 8; cắt một phần nam khu 2 thành khu 9; giải thể khu 6. Hình thành nên các huyện: khu 1 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H16; khu 2 và khu 9 sáp nhập thành huyện H29; khu 3 chuyển thành huyện H30; khu 8 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H80; khu 4 thành huyện H40; khu 7 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H67.

Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, các huyện trong tỉnh Kon Tum đều được gọi theo tên mật danh như: H16, H29, H30, H40, H67, H80. Riêng thành phố Kon Tum lúc đó mang mật danh là H5. Vùng KonHring (nay thuộc huyện Đăk Hà) mang mật danh H9.

ứng với mỗi mật danh có tên gọi cụ thể là: H16 (Konpraih); H29 (Konplong); H80 (Đăk Tô); H5 (thành phố Kon Tum); H30 (phía đông Đăk Glei); H40 (phía tây Đăk Glei); H67 (Sa Thầy); H9 (Kon Hring).

Sau khi tỉnh Kon Tum được giải phóng (17-3-1975), toàn tỉnh có thành phố Kon Tum và 6 huyện là H30, H40, H16, H29, H80, H67.

Tháng 10-1975, tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnh Gia Lai - Kon Tum, trên địa bàn tỉnh có các huyện: huyện Konplong (H16 + H29), huyện Đăk Glei (H30 + H40), thành phố Kon Tum (H5 + H9), huyện Đăk Tô (H80). Năm 1979, thành lập huyện Sa Thầy trên cơ sở phần đất của H67 cũ.

Tháng 10-1991, tỉnh Kon Tum được tái lập trên cơ sở chia tách tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Theo đó, một số huyện mới được thành lập như Ngọc Hồi (năm 1992); Đăk Hà (năm 1994), huyện Kon Rẫy (năm 2002), huyện Tu Mơ Rông (năm 2005).

Đến năm 2005, tỉnh Kon Tum có 01 thành phố và 8 huyện. Trong đó, thành phố Kon Tum là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh.
Theo kontum.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Cuộc sống mới của đồng bào vùng bị mưa lũ Sơn La

Cuộc sống mới của đồng bào vùng bị mưa lũ Sơn La

Cuối tháng 7, đầu tháng 8/2025, tỉnh Sơn La xảy ra các đợt mưa lũ khiến hơn 2.600 nhà ở bị thiệt hại, ảnh hưởng; trong đó 52 nhà bị đổ sập, cuốn trôi hoàn toàn, 279 nhà di dời khẩn cấp, 90 nhà hư hỏng. Mưa lũ đi qua để lại những hậu quả vô cùng nặng nề. 

Xuân ấm tình quân dân vùng biên giới biển Quảng Ngãi

Xuân ấm tình quân dân vùng biên giới biển Quảng Ngãi

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ngoài nhiệm vụ quản lý địa bàn, giữ vững chủ quyền vùng biển, các cán bộ chiến sĩ Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ngãi tổ chức nhiều hoạt động vui Xuân, chăm lo Tết cho gia đình chính sách, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tạo không khí vui tươi, ấm tình quân dân khu vực biên giới biển những ngày giáp Tết cổ truyền.

Hỗ trợ hơn 600 tỷ đồng để khôi phục thiệt hại do bão số 13 và mưa lũ ở Đắk Lắk

Hỗ trợ hơn 600 tỷ đồng để khôi phục thiệt hại do bão số 13 và mưa lũ ở Đắk Lắk

Ngày 12/2, Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk khóa X, nhiệm kỳ 2021-2026 tổ chức kỳ họp chuyên đề thứ lần thứ năm để xem xét, quyết định một số nội dung theo thẩm quyền. Trong đó, hai nội dung trọng tâm là thông qua nghị quyết hỗ trợ cho người dân bị thiệt hại do thiên tai và bầu bổ sung chức danh Phó Chủ tịch HĐND tỉnh.

'Đi từng ngõ, gõ từng nhà' nắm bắt số lượng cử tri

'Đi từng ngõ, gõ từng nhà' nắm bắt số lượng cử tri

Những ngày này, cùng với không khí lao động, sản xuất đầu năm, công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đang được tỉnh Tuyên Quang triển khai đồng bộ, khẩn trương, bảo đảm đúng quy định và tiến độ đề ra.

Ấm áp nghĩa tình nơi biên giới những ngày giáp Tết

Ấm áp nghĩa tình nơi biên giới những ngày giáp Tết

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, trên khắp các vùng quê biên giới Tây Ninh, không khí Xuân về không chỉ rộn ràng cờ hoa, quà Tết, mà còn lan tỏa bởi nghĩa tình ấm áp. Những phần quà cùng lời thăm hỏi chân thành đã mang đến niềm vui, tiếp thêm động lực, sưởi ấm lòng người dân nơi tuyến đầu biên cương, để bà con vững tin đón một mùa xuân trọn vẹn.

Các địa phương gấp rút hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm

Các địa phương gấp rút hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm

Dự án “Cải tạo, nâng cấp đường Hòa Bình - Toàn Sơn” (đoạn nối phường Tân Hòa với xã Đà Bắc), tỉnh Phú Thọ theo kế hoạch sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng tháng 12/2025, nhưng đến nay mới đạt khoảng 80% khối lượng thi công do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng. Qua đó, phường Tân Hòa đang gấp rút thực hiện triển khai giải quyết dứt điểm hoàn tất công việc còn lại để thông tuyến trong thời gian sớm nhất.

Làng hoa lay ơn lớn nhất Lâm Đồng bội thu vụ Tết

Làng hoa lay ơn lớn nhất Lâm Đồng bội thu vụ Tết

Những ngày này, nông dân khắp các thôn ở làng hoa lay ơn Hiệp An (xã Hiệp Thạnh, Lâm Đồng) tất bật thu hoạch vụ hoa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Nhờ hoa được giá, người dân nơi đây rất phấn khởi nhận thành quả sau thời gian phục hồi ruộng vườn do mưa lũ cuối năm 2025 vừa qua.

Tết ấm áp ở vùng sạt lở núi

Tết ấm áp ở vùng sạt lở núi

Dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Đà Nẵng có gần 13 nghìn hộ đồng bào đón Tết trong những ngôi nhà mới. Hiện tại, chính quyền các địa phương thành phố Đà Nẵng, nhất là các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sạt lở núi đang triển khai nhiều việc làm thiết thực, hiệu quả để mỗi người dân đều có điều kiện đón Xuân, vui Tết, không ai bị bỏ lại phía sau.

Đảm bảo quyền lợi bảo hiểm y tế cho người dân xã an toàn khu, vùng dân tộc thiểu số

Đảm bảo quyền lợi bảo hiểm y tế cho người dân xã an toàn khu, vùng dân tộc thiểu số

Thực hiện các quyết định của tỉnh Cao Bằng về các xã an toàn khu và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, Bảo hiểm xã hội tỉnh Cao Bằng đã nỗ lực đưa chính sách bảo hiểm y tế đến người dân, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững.

Vùng lũ Làng Chút thay áo mới, đón Xuân sang

Vùng lũ Làng Chút thay áo mới, đón Xuân sang

Những ngày cuối năm Ất Tỵ, trở lại Làng Chút, xã Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, nhiều người gần như không nhận ra đây chính là nơi hoang tàn đổ nát sau trận lũ lịch sử do ảnh hưởng từ hoàn lưu bão số 10 vào tháng 10/2025.

Xuân về trên vùng lũ biên giới Thanh Hóa

Xuân về trên vùng lũ biên giới Thanh Hóa

Tại xã biên giới Bát Mọt và xã Yên Nhân, tỉnh Thanh Hóa, cách đây vài tháng nơi đây đã xảy ra các trận lũ quét, sạt lở đất, gây thiệt hại nặng nề, nhiều ngôi nhà bị sập hoàn toàn, nhiều diện tích cây trồng của người dân bị lũ cuốn trôi, các thôn bản rơi vào cảnh cô lập, chia cắt. Nhờ sự hỗ trợ của chính quyền các địa phương, người dân nơi đây đang tích cực dựng lại nhà cửa, tập trung sản xuất để chuẩn bị tết Nguyên đán 2026.

Từ 'Chiến dịch Quang Trung' đến mùa Xuân no ấm

Từ 'Chiến dịch Quang Trung' đến mùa Xuân no ấm

Sau những ngày mưa lũ lịch sử cuối năm 2025, mùa Xuân đã "khởi sắc" trở lại trên vùng đất Khánh Hòa. Từ "Chiến dịch Quang Trung" được triển khai thần tốc, từng ngôi nhà bị sập, hư hỏng đã được xây mới, sửa chữa kịp thời, giúp người dân sớm an cư trước thềm năm mới. Không khí Tết đang dần lan tỏa, mang theo niềm tin, sự lạc quan và hy vọng về một khởi đầu bình yên sau thiên tai.

Vinh danh các mô hình hay, thiết thực tại khu vực biên giới

Vinh danh các mô hình hay, thiết thực tại khu vực biên giới

Ngày 9/2, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng tổ chức hội nghị tổng kết các mô hình, chương trình, phong trào bộ đội biên phòng tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở khu vực biên giới giai đoạn 2015 - 2025.

Gắn kết tình quân dân trước thềm Xuân mới

Gắn kết tình quân dân trước thềm Xuân mới

Ngày 9/2, tại Khu Di tích lịch sử quốc gia Đồng Khởi Hoà Thịnh (xã Hòa Thịnh, tỉnh Đắk Lắk), Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Đảng ủy, UBND xã Hòa Thịnh tổ chức Chương trình “Xuân Khu 5 đoàn kết - Tết thắm tình quân dân”.

Chú trọng tuyên truyền về bầu cử, tạo sự đồng thuận xã hội

Chú trọng tuyên truyền về bầu cử, tạo sự đồng thuận xã hội

Hiện nay, công tác triển khai cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đang được cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Cao Bằng thực hiện khẩn trương, bài bản. Việc niêm yết danh sách cử tri, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, tổ chức lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử… được các địa phương thực hiện đồng bộ, chặt chẽ, dân chủ, đúng luật và an toàn.

Tôn vinh chức sắc, chức việc và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số tiêu biểu

Tôn vinh chức sắc, chức việc và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số tiêu biểu

Ngày 9/2, tỉnh Vĩnh Long tổ chức họp mặt chức sắc, chức việc các tổ chức tôn giáo và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số nhân dịp mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Dự họp mặt có lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các sở, ngành cùng 275 đại biểu chức sắc, chức việc các tổ chức tôn giáo và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số.

Nghệ An: Bàn giao đất tái định cư cho các hộ đồng bào Mông dựng nhà trước Tết

Nghệ An: Bàn giao đất tái định cư cho các hộ đồng bào Mông dựng nhà trước Tết

Sau hơn 1 tháng triển khai, dự án xây dựng khu tái định cư tập trung Phá Mựt có tổng mức đầu tư khoảng 8 tỷ đồng, diện tích quy hoạch rộng 1,8 ha để di dời khẩn cấp 16 gia đình dân tộc Mông bản Phá Mựt (xã Nhôn Mai, tỉnh Nghệ An) bị mất nhà do lũ ống, lũ quét cuốn trôi vào cuối tháng 7/2025 đã cơ bản hoàn tất việc san ủi mặt bằng.

Niềm vui an cư của người nghèo vùng cao Lào Cai

Niềm vui an cư của người nghèo vùng cao Lào Cai

Những ngày cuối năm Ất Tỵ, không khí đón năm mới của các hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tỉnh Lào Cai trở nên ấm áp, an vui hơn khi bà con được đón Tết trong những ngôi nhà mới khang trang. Đây cũng là động lực tiếp thêm niềm tin, giúp người dân vươn lên ổn định cuộc sống.

Hoàn thành xóa vùng lõm sóng ở Thái Nguyên

Hoàn thành xóa vùng lõm sóng ở Thái Nguyên

Chiều 8/2, tại xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Chương trình công bố hoàn thành xóa thôn, xóm trắng sóng trên địa bàn tỉnh. Hoạt động này thể hiện quyết tâm chính trị của tỉnh trong việc đưa chủ trương phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số của Đảng, Nhà nước đi vào thực chất, bắt đầu từ những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Đồng bào Chăm An Giang hân hoan đón mừng Tháng ăn chay Ramadan

Đồng bào Chăm An Giang hân hoan đón mừng Tháng ăn chay Ramadan

Chiều 8/2, tại Tiểu Thánh đường Jamdul Islam (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh An Giang, phối hợp với Ban Quản trị Thánh đường Nekmah trang trọng tổ chức lễ đón mừng Tháng ăn chay Ramadan Hồi lịch 1447 - Dương lịch 2026. Đây là lễ quan trọng, linh thiêng nhất của những người theo đạo Hồi Islam.

Giữ vẹn mùa Xuân bình yên nơi tuyến đầu biên giới

Giữ vẹn mùa Xuân bình yên nơi tuyến đầu biên giới

Những ngày giáp Tết Bính Ngọ 2026, người dân khắp mọi miền Tổ quốc nô nức trang hoàng nhà cửa đón Xuân thì tại các xã biên giới vùng núi miền Trung – Tây Nguyên, nhịp sống của những người lính mang quân hàm xanh duy trì một trạng thái trực sẵn sàng, tuần tra xuyên đêm, không để khoảng trống an ninh. Với Bộ đội Biên phòng, Tết không phải là lúc “giảm nhịp” mà là giai đoạn "kỷ luật thép" và trách nhiệm cao cả nhằm giữ bình yên cho Tổ quốc.

Mang Tết đến bà con vùng biên giới

Mang Tết đến bà con vùng biên giới

Trong hai ngày 7-8/2, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng phối hợp cùng các cấp, ngành tổ chức chương trình “Xuân Biên phòng - Ấm lòng dân bản” tại xã biên giới Hùng Sơn. Đây là hoạt động an sinh thiết thực, được tổ chức hằng năm nhằm góp phần chăm lo đời sống nhân dân, thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân nơi phên dậu Tổ quốc.

Thiết thực chăm lo Tết cho người dân vùng biên giới

Thiết thực chăm lo Tết cho người dân vùng biên giới

Tối 7/2, tại các xã biên giới Buôn Đôn và Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp với Báo Đại Đoàn Kết tổ chức chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” Tết Bính Ngọ năm 2026.

Ấm áp không khí Tết quân dân trong vùng đồng bào thiểu số

Ấm áp không khí Tết quân dân trong vùng đồng bào thiểu số

Chiều 7/2, tại thôn Sơn Trung (xã Phú Nghĩa, tỉnh Đồng Nai), chương trình Tết quân dân Xuân Bính Ngọ 2026 đã được tổ chức trang trọng và ấm cúng. Chương trình do Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Phú Nghĩa phối hợp cùng Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 778 (Quân Khu 7) thực hiện nhằm mang mùa Xuân ấm áp đến với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Ấm áp ‘Tết Quân - Dân’ tại xã đảo Thạnh An

Ấm áp ‘Tết Quân - Dân’ tại xã đảo Thạnh An

Ngày 7/2, tại xã đảo Thạnh An, TP Hồ Chí Minh, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh phối hợp với Đảng ủy, UBND, HĐND, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã đảo Thạnh An tổ chức chương trình “Tết Quân - Dân” Xuân Bính Ngọ 2026 với chủ đề “Âm vang trùng khơi - ấm tình quân dân”. Sự kiện gồm nhiều hoạt động phong phú mang đậm nghĩa tình quân dân.