Quảng Ninh vài nét tổng quan

Quảng Ninh vài nét tổng quan
1. Vị trí địa lý

Quảng Ninh có tọa độ địa lý khoảng 106 độ 26 phút đến 108 độ 31 phút kinh đông và từ 20 độ 40 phút đến 21 độ 40 phút vĩ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km. Điểm cực bắc là dãy núi cao thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực tây là sông Vàng Chua ở xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thị xã Móng Cái. 

Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Trên đất liền, phía bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thị xã Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; phía đông là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp Hải Phòng. Bờ biển dài 250 km. 

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình

Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ.

Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. Ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh.

Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú.

Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng...)

Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn.  

Khí hậu

Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất.

Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú.

Ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa: mùa hạ nóng ẩm với mùa mưa, mùa đông lạnh với mùa khô.

Về nhiệt độ: được xác định có mùa đông lạnh, nhiệt độ không khí trung bình ổn định dưới 20 độ C. Mùa nóng có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25 độ C.

Về mưa: theo quy ước chung, thời kỳ có lượng mưa ổn định trên 100 mm là mùa mưa; còn mùa khô là mùa có lượng mưa tháng ổn định dưới 100 mm.

Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Quảng Ninh bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10.

Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10.

Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa  là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10).

Sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hạ (tháng 7) là 120C và thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng 1 theo tiêu chuẩn nhiệt độ cùng vĩ tuyến là 5,10C.

Sông ngòi và chế độ thuỷ văn

Đại bộ phận sông có dạng xoè hình cánh quạt, trừ sông Cầm, sông Ba Chẽ, sông Tiên Yên, sông Phố Cũ có dạng lông chim.

Nước ngập mặn xâm nhập vào vùng cửa sông khá xa. Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làm tăng lượng phù sa và đất đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng như ở các đoạn suối Vàng Danh, sông Mông Dương.

Ngoài 4 sông lớn trên, Quảng Ninh còn có 11 sông nhỏ, chiều dài các sông từ 15 – 35 km; diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, chúng được phân bố dọc theo bờ biển, gồm sông Tràng Vinh, sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Đồng Cái Xương, sông Hà Thanh, sông Đồng Mỏ, sông Mông Dương, sông Diễn Vọng, sông Man, sông Trới, sông Míp.

Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn. Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần. 

Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ. Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4 m. Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh "con nước" và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường. Trong vịnh Bắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo phương bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất nước ta. Nhiệt độ có khi xuống tới 13 độ C.

3. Dân cư

Kết cấu dân số ở Quảng Ninh có mấy nét đáng chú ý. Trước hết là "dân số trẻ", tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tới 37,6%. Người già trên 60 tuổi (với nam) và trên 55 tuổi (với nữ) là 7,1%. Các huyện miền núi tỉ lệ trẻ em dưới tuổi lao động còn lên tới 45%. Nét đáng chú ý thứ hai là ở Quảng Ninh, nam giới đông hơn nữ giới (nam chiếm 50,9 %, nữ chiếm 49,1%). Ngược với tỷ lệ toàn quốc. Ở các địa phương có ngành công nghiệp mỏ, tỷ lệ này còn cao hơn, ví dụ: Cẩm Phả, nam 53,2%, nữ 46,8%.

Mật độ dân số của Quảng Ninh hiện là 193 người/km vuông (năm 1999 là 196 người/ km vuông), nhưng phân bố không đều. Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 620.200 người dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 11,5 ‰.

Trong các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, người Việt (Kinh) chiếm 89,23% tổng số dân. Họ có gốc bản địa và nguồn gốc từ các tỉnh, đông nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Họ sống đông đảo nhất ở các đô thị, các khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển. Do có số người chuyển cư đến từ rất nhiều đời, nhiều đợt nên Quảng Ninh thực sự là nơi "góp người". Sau người Việt (Kinh) là các dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ lâu đời. Người Dao (4,45%) có hai nhánh chính là Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao. Họ còn giữ được bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ, y phục, lễ hội và phong tục, một bộ phận vẫn giữ tập quán du canh du cư làm cho kinh tế văn hoá chậm phát triển. Người Hoa (0,43%), người Sán Dìu (1,80%), Sán Chỉ (nhóm địa phương của dân tộc Sán Chay) (1,11%) ở vùng núi thấp và chủ yếu sống bằng nông nghiệp với nghề trồng cấy lúa nước. Người Hoa gồm nhiều dân tộc thiểu số từ miền Nam Trung Quốc di cư sang từ lâu bằng rất nhiều đợt. Một số ít là Hoa Kiều sang buôn bán làm nghề thủ công ở các thị trấn miền Ðông, còn phần lớn sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp, đánh cá, làm nghề rừng. Hiện nay, các dân tộc thiểu số - chủ nhân của miền núi, nơi có nhiều khó khăn, kinh tế và văn hoá còn chậm phát triển, đang được quan tâm về nhiều mặt và đời sống đã có những thay đổi rõ rệt.


4. Lịch sử hình thành và phát triển

Tiền sử Quảng Ninh được biết sớm nhất là ở các địa điểm thuộc Văn hóa Soi Nhụ. Vào thời kỳ của các văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, khoảng 18.000 năm về trước, lúc băng hà lần cuối cùng phát triển, mực nước biển Đông hạ thấp tới độ sâu 110 -120 mét dưới mực nước biển hiện tại. Lúc đó vịnh Bắc Bộ, trong đó có vịnh Hạ Long là một đồng bằng tam giác châu rộng lớn. Trên vùng đất khoảng vài nghìn km2 của Quảng Ninh và khu vực Vịnh Hạ Long bây giờ là một đồng bằng cổ. Ở đây đã tồn tại một cộng đồng cư dân tiền sử lớn. Họ sống trong các hang động đá vôi, trên một địa bàn độc lập so với các cư dân Hòa Bình - Bắc Sơn cùng thời đã sáng tạo ra một nền văn hóa song song tồn tại với các văn hóa Hòa Binh và Bắc Sơn, đó là nền Văn hóa Soi Nhụ, làm cơ sở để sau đó hình thành các loại hình văn hóa tiến bộ mới tại Cái Bèo, tiếp theo nền Văn hóa Hạ Long nổi tiếng.

Mặc dù các nhà khoa học gặp nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu, song với khối tư liệu thu được sau cuộc khai quật di chỉ Đầu Rằm, có thể nói rằng từ tiền sử tới sơ sử Quảng Ninh là một quá trình phát triển liên tục, không hề có bất cứ một đứt đoạn nào. Việc phát hiện các di tích sơ sử tại Quảng Ninh cũng đã góp phần khẳng định rằng vào thời Hùng Vương, Quảng Ninh đã thực sự là một bộ phận của quốc gia Văn Lang.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, ngay từ thời Hùng Vương, đất nước ta đã được chia thành 15 bộ, trong đó có các bộ Ninh Hải, Lục Hải. Tất nhiên địa bàn của bộ Ninh Hải, Lục Hải thời đó không hoàn toàn trùng với địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay, ngoài Quảng Ninh thì tối thiểu hai bộ đó còn bao gồm một phần Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng và một phần Lưỡng Quảng (bao gồm một phần của 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, Trung Quốc) ngày nay, nhưng trung tâm của Ninh Hải, Lục Hải chính là khu vực tỉnh Quảng Ninh bây giờ.

Lịch sử Ninh Hải - Lục Châu và sau này là Hải Đông là cả một thời kỳ dài liên tục đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng, phát triển. Trong thời phong kiến độc lập, tự chủ, có lẽ rất hiếm có một vùng đất nào mà hai nhiệm vụ, cũng là hai sự nghiệp ấy lại thể hiện rõ ràng như trên mảnh đất địa đầu Tổ quốc này. Trong suốt mười thế kỷ ấy, đất Hải Đông đã ghi dấu những chiến công lừng lẫy nhất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, với ba lần chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Không những thế, miền đất này cũng đã từng chứng kiến những công cuộc phát triển kinh tế phồn vinh nhất dưới thời phong kiến, đặc biệt với thương cảng Vân Đồn lịch sử.

Hải Đông không chỉ là một chiến trường hào hùng, nó cũng không chỉ là một khu vực phát triển kinh tế đầy sôi động mà còn là một trong những cái nôi văn hóa thời phong kiến độc lập, tự chủ ở nước ta. Với Yên Tử non thiêng, Hải Đông đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa quan trọng nhất, thâm trầm nhất trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc.

Sử liệu về thời Lý - Trần còn lại quá ít ỏi, không cho phép chúng ta hiểu đầy đủ về quá trình biến đổi của đất Hải Đông. Tuy nhiên, về đại thể có thể biết được là năm 1023, sau khi dẹp yên cuộc nổi dậy của người Đại Nguyên Lịch (tên một dân tộc thiểu số ở vùng biển Việt Trung), nhà Lý đổi trấn Triều Dương thành châu Vinh An, xác định biên giới đông bắc của Đại Việt. Ít lâu sau, cả vùng Ninh Hải - Lục Châu cũ được đặt thành một phủ: phủ Hải Đông. Khoảng năm 1242, nhà Trần nâng Hải Đông lên thành lộ và đến cuối thế kỷ XIV thì đổi gọi là An Bang. Đông Triều bấy giờ còn là một châu của lộ Hải Dương.

Cùng với sự phát triển của đất nước, cư dân An Bang cũng ngày càng tăng, ruộng đất làng xóm được mở rộng, các đơn vị hành chính như huyện Hoa Phong, Hoành Bồ, Yên Hưng, Đông Triều, các châu Tiên Yên, Vĩnh An, Vân Đồn, Vạn Ninh đã được hình thành. Tổ tiên nhà Trần, vào cuối đời Lý đã đến ở vùng An Sinh (thuộc Đông Triều) làm nghề đánh cá. Sau này khu vực An Phụ, An Dưỡng, An Sinh và An Bang được đặt thành thái ấp của An Sinh Vương Trần Liễu, anh của Trần Thái Tông. Nhà Trần tuy phát tích ở đất Thiên Trường (Nam Định) song vẫn nhớ về quê gốc Đông Triều nên lăng mộ các vua Trần đều được di dời về đây. Vùng thái ấp này biến thành khu mộ các vua nhà Trần.

Vào đời Lê Anh Tông (1556 - 1573) vì kỵ húy nhà vua đổi gọi An Bang thành An Quảng. Đến thời nhà Tây Sơn, các trấn từ Sơn Nam Hạ và Bắc được đổi gọi là Bắc Thành. Phủ Kinh Môn với 7 huyện, trong đó có cả Đông Triều đã được sáp nhập vào An Quảng. Lúc này An Quảng trở thành một trấn lớn.

Sau 24 năm chinh chiến với nhà Tây Sơn, đến ngày 3 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh đã thu phục được Kinh đô Phú Xuân và năm 1802 chính thức lên ngôi Hoàng đế. An Quảng được giữ nguyên là một ngoại trấn, với một phủ Hải Đông, ba huyện Hoành Bồ, Yên Quảng, Hoa Phong và ba châu Vạn Ninh, Tiên Yên và Vân Đồn.

Năm Minh Mạng thứ ba, trấn An Quảng được đổi tên thành trấn Quảng Yên. Đến năm 1831, trấn Quảng Yên được đổi thành tỉnh do Tổng đốc Hải An (Hải Dương - An Quảng) kiêm quản. Năm 1836, phủ Hải Đông được đổi tên gọi là phủ Hải Ninh, châu Vân Đồn được gộp vào huyện Hoa Phong và được gọi là tổng Vân Hải. Sau đó, nhà Nguyễn tách huyện Hoành Bồ, huyện Hoa Phong và huyện Yên Hưng ra khỏi phủ Hải Đông lập thành phủ Sơn Định, cho tri huyện Hoành Bồ kiêm quản.

Vào đầu thế kỷ XIX, do ít nhiểu tiếp xúc với tư bản phương Tây và nền kinh tế của họ nên nghề khai mỏ đã được nhà nước chú ý hơn. Theo sách Đại Nam thực lục chính biên thì dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840), người ta đã bắt đầu khai thác than đá tại Đông Triều. Tháng 12 năm 1839, năm Minh Mạng thứ 20, Tổng đốc Hải An là Tôn Thất Bật đã dâng sớ xin thuê dân phu khai thác than đá tại núi An Lãng (xã Yên Thọ, huyện Đông Triều) và được Minh Mạng đồng ý. Như vậy là mãi cho đến năm 1839 thì nhà nước mới đứng ra khai thác than đá theo quy mô lớn, nhưng từ trưóc dó, nhân dân cùng đã biết lấy than đá.

Có thể nói, gói trọn một thiên niên kỷ dưới các triều đại phong kiến độc lập, lịch sử của mảnh đất Quảng Ninh cũng chính là lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước hào hùng của cha ông ta. Những thử thách gay go nhất, khốc liệt nhất đối với bản lĩnh của dân tộc đều diễn ra trên mảnh đất này. Những chiến công vang dội nhất cũng đã từng được mảnh đất và con người Quảng Ninh chia sẻ. Không những thế, mảnh đất này còn đóng vai trò là một động lực, một trung tâm phát triển mọi mặt của đất nước khi thanh bình. Đến khi quốc gia phong kiến độc lập không trụ nổi trước sức mạnh xâm lược của tư bản phương Tây, Việt Nam trở thành một thuộc địa dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, thì vùng đất Đông Bắc giàu tài nguyên than đá này lại trở thành một vùng điển hình của tội ác khai thác thuộc địa. Nhưng từ nỗi thống khổ bị áp bức và bóc lột, vùng đất này đã kế tục mạnh mẽ truyền thống yêu nước, truyền thống bất khuất kiên cường của mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đã viết nên những chương sử mới. Đó là thời kỳ Vùng Mỏ trở thành cái nôi sinh thành đội ngũ công nhân và những trang đấu tranh oanh liệt lại bắt đầu.

Sự kiện thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng năm 1858 đã mở đầu một trang sử mới trên đất nước ta. Đúng 25 năm sau, vào ngày 12-3-1883, sau khi đánh chiếm xong Hà Nội, 500 lính Pháp do đích thân Henri Rivière - tên tổng chỉ huy cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai cầm đầu - đã tiến hành đánh chiếm khu mỏ Quảng Ninh. Kể từ đó, Quảng Ninh đã cùng toàn thể dân tộc ta chịu chung ách thống trị dã man của thực dân Pháp. Nhưng cũng chính sự xâm lăng, ách thống trị và bóc lột tàn bạo của bọn chúng đã làm bùng lên ngọn lửa căm thù, đã thức tỉnh truyền thống yêu nước kiên cường bất khuất đấu tranh chống xâm lược của toàn thể dân tộc ta nói chung và của ngưòi dân Quảng Ninh nói riêng. Chính chúng “cùng góp phần" biến Quảng Ninh trở thành cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, trở thành trường rèn luyện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giác ngộ ý thức giai cấp cho giai cấp công nhân Việt Nam - một giai cấp duy nhất trong thời đại mới có thể tập hợp được lực lượng của toàn thể dân tộc, có thể phát huy được truyền thống bất khuất hàng ngàn năm của cha ông, đứng lên đấu tranh chống đế quốc, phát xít xâm lược và đủ loại tay chân của chúng cho đến thắng lợi cuối cùng.

Trong giai đoạn từ 1885 đến những năm đầu thế kỷ XX, các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương yêu nước chống Pháp đã liên tiếp và rầm rộ nổi lên tại vùng Đông Bắc nước ta. Có khi trên một địa bàn như đảo Cái Bầu, đảo Cái Bàn, vùng rừng núi huyện Đông Triều có tới hai, ba cuộc nổi dậy một lúc, có cuộc kéo dài gần chục năm trời. Nhìn chung, phong trào chống Pháp tại vùng đất Quảng Ninh trong thời kỳ này là một phong trào dân tộc, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần dân tộc dưới ngọn cờ yêu nước. Hoàn toàn trái với các tính toán của thực dân Pháp, trong quá trình xâm lược và bước đầu khai thác của chúng, tầng lớp công nhân mỏ Quảng Ninh tiền bối đã nảy sinh và ngày càng lớn lên. Vốn xuất thân từ những người nông dân có truyền thống dân tộc lâu đời, mang trong lòng ngọn lửa căm thù sôi sục đối với quân xâm lược Pháp, cũng chính là bọn thực dân đang áp bức, đọa đày họ trong nhà máy, hầm mỏ, người thợ mỏ Quảng Ninh ngay trong giai đoạn đầu đã rất nhạy bén với vấn đề dân tộc, sẵn sàng và tự nguyện tham gia vào các cuộc khởi nghĩa chung của dân tộc. Dần dần cùng với sự phát triển về số lượng, thông qua cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, người thợ mỏ Quảng Ninh cũng ngày càng trưởng thành vể chất lượng, sớm đi đến chủ nghĩa Mác-Lênin và tìm thấy ở đó “cẩm nang thần kỳ" trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp.

Quá trình đẩy mạnh khai thác của tư bản Pháp tại Quảng Ninh đã dẫn tới sự phân hóa sâu sắc xã hội, làm cho khu mỏ trở thành nơi phân chia rõ ràng giữa hai tầng lớp thống trị - bọn chủ mỏ thực dân và bè lũ tay sai của chúng với tầng lớp bị trị - đó là đội ngũ công nhân mỏ và đồng bào các dân tộc trên đất Quảng Ninh. Song song với quá trình phân hóa ấy là sự phát triển không ngừng của giai cấp công nhân mỏ Quảng Ninh. Đó chính là một quá trình chuyển hóa của giai cấp công nhân mỏ từ tự phát lên tự giác, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin, từ chưa có Đảng đến có một chính đảng của mình.

Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở nước ta nhằm đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và chế độ vua quan phong kiến để giành dộc lập dân tộc và xây dựng nền dân chủ nhân dân, rồi tiến lên theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với Quảng Ninh, nơi vùng mỏ lầm than “địa ngục trần gian” thì sức hưởng ứng mạnh mẽ là một tất yếu lịch sử. Đương nhiên, khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ninh hoàn toàn không dễ dàng, giặc Nhật còn ngoan cố chưa đầu hàng thì quân Tưởng tràn đến kéo theo bọn Việt gian phản động đã được nuôi dưỡng từ trước, bọn phản động người Hoa cũng nổi lên nắm quyền hành, hàng ngàn tên thổ phỉ hoành hành và sau đó quân Pháp đã quay lại chiếm ngay Cô Tô, Vạn Hoa... Do vị trí đặc biệt là vùng biên giới, vùng rừng núi, lại là vùng “vàng đen" – những yếu tố tạo nên những thuận lợi ở nhiều thời kỳ thì lúc này lại là tiền đề tạo nên những khó khăn chồng chất. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trở nên hết sức gay go, quyết liệt, phức tạp, thật sự là một cuộc giành giật và tốn không ít xương máu.

Sau Cách mạng tháng Tám, tháng 11 năm 1945, chính quyền nhân dân được thiết lập trên toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng Yên. Gần một năm sau ngày tổng khởi nghĩa, Hải Ninh mới hoàn thành về cơ bản việc giành chính quyền trong tỉnh. Trừ hai huyện Hà Cối, Ba Chẽ và quần đảo Cô Tô lúc này còn bị tàn quân Pháp và bọn phỉ chiếm đóng, tất cả các huyện, thị xã còn lại trong tỉnh đã được giải phóng và có chính quyền cách mạng của nhân dân.

Để thống nhất chỉ đạo kháng chiến, ngày 31 tháng 3 năm 1947, liên tỉnh Quảng Hồng được thành lập bao gồm tỉnh Quảng Yên, đặc khu Hòn Gai và các huyện Thủy Nguyên, Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều. Đến tháng 8 năm 1947, phần lớn địa bàn hai huyện Sơn Động, Lục Ngạn được sáp nhập vào liên tỉnh Quảng Hồng. Ngày 16 tháng 12 năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu I đã quyết định tách tỉnh Quảng Hồng thành tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai.

Với sự phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và binh vận, quân và dân Hải Ninh, Quảng Yên, Hòn Gai đã làm tan rã một mảng lớn lực lượng vũ trang của địch trên chiến trưòng Đông Bắc, góp phần đáng kể vào thắng lợi to lớn của chiến cuộc đông - xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Ngày 22 tháng 2 năm 1955, theo sắc lệnh của Chủ tịch nước, khu Hồng Quảng gồm đặc khu Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên (trừ các huyện Sơn Động, Linh Môn, Nam Sách, Chí Linh) đã được thành lập. Khu ủy Hồng Quảng đã phát động phong trào đấu tranh chống địch vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, chuẩn bị tiếp quản vùng mỏ, đưa lực lượng vào thị xã Quảng Yên làm nhiệm vụ. Ngày 22 tháng 4 năm 1955, bộ đội ta tiếp quản các thị xã Quảng Yên, Cửa Ông, Cẩm Phả trong không khí tưng bừng náo nhiệt của nhân dân. Ngày 24 tháng 4, tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng đã bước xuống khoang của chiếc tàu há mồm rời bến Bài Cháy. Tiếp theo đó, Đại đội 915 của khu đội Hồng Quảng đã tiến vào tiếp quản thắng lợi đảo Bạch Long Vĩ. Mảnh đất cuối cùng của khu Hổng Quảng đã được hoàn toàn giải phóng. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Quảng Ninh đã kết thúc thắng lợi. Ngày 25 tháng 4, tại thị xã Hòn Gai, quân dân Hồng Quảng mít tinh trọng thể mừng giải phóng.

Phát huy khí thế chiến thắng, quân và dân vùng Đông Bắc lại bước vào một giai đoạn cách mạng mới: xây dựng miền Bắc XHCN, tiếp tục chi viện sức người, sức của cho cuộc chiến đấu của đồng bào miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà.

Để triển khai nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, từ năm 1961 đến năm 1965, Đảng bộ khu Hồng Quảng và Đảng bộ tỉnh Hải Ninh đã trải qua hai kỳ đại hội. Đó là Đại hội đại biểu lần thứ V (kỳ II) từ ngày 16-1 đến ngày 2-2-1961 và lần thứ VI từ ngày 10-6 đến ngày 16-6-1963 của Đảng bộ Hải Ninh; Đại hội đại biểu lần thứ I (kỳ 10) từ ngày 31-1 đến ngày 9-2-1961 và Đại hội Đại biểu lần thứ II từ ngày 11-9 dến ngày 16-9-1963 của Đảng bộ Hồng Quảng.

Ngày 30-10-1963, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quyết dịnh hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh. Từ ngày 1-1-1964, tỉnh Quảng Ninh đi vào hoạt động chính thức, tạo thành một thể liên hoàn cả vể chính trị, kinh tế, quân sự, phát huy được sức mạnh tổng hợp của vùng Đông Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Đó là những dấu mốc rất quan trọng để giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh bước vào thời kỳ cách mạng mới.
Theo quangninh.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Cà Mau: Thông qua đề án thành lập 13 phường mới và sắp xếp lại khóm, ấp

Cà Mau: Thông qua đề án thành lập 13 phường mới và sắp xếp lại khóm, ấp

Chiều 4/6, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau đã thống nhất thông qua Đề án thành lập mới 13 phường trên cơ sở tổng hợp 13 Đề án thành lập phường của các xã gồm: Sông Đốc, Năm Căn, Gành Hào, Hòa Bình, Cái Nước, Đầm Dơi, Thới Bình, Trần Văn Thời, Phước Long, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Lương Thế Trân và Cái Đôi Vàm.

Huy động nguồn lực xây dựng các công trình trọng điểm

Huy động nguồn lực xây dựng các công trình trọng điểm

Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, các đơn vị quân đội đang huy động nhân lực, nguồn lực triển khai nhiều công trình trọng điểm. Tại Lâm Đồng, gần 200 cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ xây dựng trường học vùng biên; tại Khánh Hòa, Binh chủng Đặc công khởi công trung tâm huấn luyện chiến đấu chuyên sâu.

Nghệ An: Gieo mầm tri thức cho trẻ Đan Lai

Nghệ An: Gieo mầm tri thức cho trẻ Đan Lai

Giữa vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An, nơi đường đến trường của trẻ em Đan Lai quanh năm gập ghềnh, có một ngôi nhà chung sáng đèn mỗi tối. Ở đó, những người lính Biên phòng Môn Sơn không chỉ là người bảo vệ biên cương, mà còn là “người cha” nuôi dưỡng tri thức và ước mơ cho thế hệ trẻ.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: Hỗ trợ thí sinh vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: Hỗ trợ thí sinh vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chỉ còn ít ngày nữa, Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026 sẽ diễn ra. Là địa phương có địa bàn rộng, số lượng học sinh vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số đông, ngành Giáo dục tỉnh Đắk Lắk đang phối hợp với các địa phương triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ học sinh nhằm bảo đảm mọi thí sinh đều có điều kiện thuận lợi tham gia kỳ thi.

Phú Thọ khẩn trương xử lý điểm sạt lở đe dọa khu dân cư

Phú Thọ khẩn trương xử lý điểm sạt lở đe dọa khu dân cư

Thời điểm này, dù mới bắt đầu vào mùa mưa lũ, hàng chục hộ dân ở xóm Cạn Thượng, xã Cao Phong, tỉnh Phú Thọ lại sống trong tâm trạng bất an, thấp thỏm. Nhiều năm nay, nỗi lo sạt lở đất luôn thường trực khi những vết nứt trên sườn đồi ngày càng mở rộng, đất đá có thể đổ xuống khu dân cư bất cứ lúc nào.

Nghề dỡ chà - nét đẹp văn hóa sông nước miền Tây

Nghề dỡ chà - nét đẹp văn hóa sông nước miền Tây

Dỡ chà là một trong những phương thức đánh bắt thủy sản truyền thống, là nét văn hóa đặc trưng, gắn bó lâu đời với cư dân vùng sông nước miền Tây nói chung. Tại Đồng Tháp, nhiều người dân vẫn duy trì cách đánh bắt thuận theo tự nhiên này, vừa tạo sinh kế, vừa góp phần bảo tồn và tái tạo nguồn lợi thủy sản.

Phụ nữ làm kinh tế giỏi góp phần giảm nghèo bền vững

Phụ nữ làm kinh tế giỏi góp phần giảm nghèo bền vững

Trong những năm gần đây, thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, nhiều hội viên phụ nữ xã Đan Thượng, tỉnh Phú Thọ đã mạnh dạn chuyển đổi mô hình sản xuất, phát triển kinh tế, từng bước nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống và chung tay thực hiện hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo tại địa phương. 

Xoài vào chính vụ, nông dân gấp rút thu hoạch phục vụ xuất khẩu

Xoài vào chính vụ, nông dân gấp rút thu hoạch phục vụ xuất khẩu

Những ngày này, nông dân tại các vùng trồng xoài của tỉnh Sơn La đang bước vào thời điểm thu hoạch chính vụ. Tại xã Chiềng Hặc, không khí thu hoạch diễn ra khẩn trương, nhộn nhịp nhằm kịp thời cung cấp sản phẩm cho thương lái, các cơ sở thu mua, đóng gói và xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

Vượt đá núi, đua tiến độ xây trường cho học sinh vùng biên

Vượt đá núi, đua tiến độ xây trường cho học sinh vùng biên

Giữa cái nắng gay gắt những ngày đầu tháng 6, hàng trăm công nhân cùng trang thiết bị máy móc được huy động vẫn tiếp tục làm việc để đảm bảo tiến độ thực hiện các dự án xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới của tỉnh Tuyên Quang.

Thanh Hoá: Dự kiến chi gần 1.160 tỷ đồng cho ứng phó thiên tai

Thanh Hoá: Dự kiến chi gần 1.160 tỷ đồng cho ứng phó thiên tai

Trước diễn biến ngày càng cực đoan của thiên tai, đặc biệt là nguy cơ lũ ống, lũ quét và sạt lở đất tại các xã miền núi, tỉnh Thanh Hóa đang triển khai đồng bộ đề án “Sắp xếp, ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại các xã khu vực miền núi của tỉnh giai đoạn 2026–2030”. Theo kế hoạch, dự kiến tỉnh Thanh Hóa sẽ dành hơn 1.159 tỷ đồng để thực hiện đề án trong giai đoạn này.

Gia Lai: Hơn 550 hộ dân Hải Minh đã có nước sạch giữa cao điểm nắng nóng

Gia Lai: Hơn 550 hộ dân Hải Minh đã có nước sạch giữa cao điểm nắng nóng

Ngày 3/6, hệ thống cấp nước sạch cho bà con tại khu vực Hải Minh (phường Quy Nhơn) đã chính thức hoàn thành và đi vào sử dụng. Sau nhiều tháng “khát” nước sạch, hơn 550 hộ dân tại khu vực Hải Minh đã có thể sử dụng nước sạch để phục vụ ăn uống, sinh hoạt, nhất là trong thời điểm mùa hè nắng nóng gay gắt.

Chè Shan tuyết cổ thụ - mỏ vàng xanh giữa đại ngàn

Chè Shan tuyết cổ thụ - mỏ vàng xanh giữa đại ngàn

Những ngày đầu hè, khi mây trắng còn phủ kín trên các sườn núi Tây Côn Lĩnh, ông Triệu Chòi Hin, người dân thôn Tân Minh, xã Hồ Thầu (tỉnh Tuyên Quang) lại men theo con đường nhỏ dẫn lên khu chè Shan tuyết cổ thụ của gia đình. Giữa không gian mờ sương, những thân chè phủ đầy rêu phong, gốc cây xù xì như mang dấu ấn của thời gian vẫn đều đặn đâm chồi, cho những búp chè trắng mịn như tuyết.

Lâm Đồng: Bất an với sạt lở 'dai dẳng' ở khu tái định cư K’Nớ 5

Lâm Đồng: Bất an với sạt lở 'dai dẳng' ở khu tái định cư K’Nớ 5

Sau gần một năm, hàng chục hộ dân tại khu tái định cư thuộc Dự án bố trí dân cư vùng đặc biệt khó khăn thôn K’Nớ 5 (xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng) vẫn bất an, khi tình trạng sạt lở nơi đây chưa được khắc phục triệt để và có biểu hiện tái diễn, khi xuất hiện các đợt mưa liên tiếp trong những ngày qua.

Cựu chiến binh thành công từ mô hình kinh tế tổng hợp

Cựu chiến binh thành công từ mô hình kinh tế tổng hợp

Phát huy bản chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, cựu chiến binh Hoàng Danh Chuyền (70 tuổi, quê thành phố Hải Phòng), trú tại thôn Hà Mòn 1, xã Đăk Hà, tỉnh Quảng Ngãi đã vượt qua nhiều khó khăn để xây dựng thành công mô hình kinh tế nông nghiệp tổng hợp cho thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm.

Vùng Mận hậu Sơn La xây dựng thương hiệu nông sản, tạo sinh kế bền vững

Vùng Mận hậu Sơn La xây dựng thương hiệu nông sản, tạo sinh kế bền vững

Những ngày này, tại xã biên giới Lóng Phiêng (Sơn La), người dân đang bước vào cao điểm thu hoạch mận hậu. Niên vụ 2026, thời tiết thuận lợi, cây mận sinh trưởng tốt, đạt năng suất, chất lượng hơn so với năm trước. Tuy nhiên, niềm vui được mùa của người dân vẫn chưa thực sự trọn vẹn khi giá bán giảm và việc tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn.

Mùa thu hoạch dứa ở Na Sang

Mùa thu hoạch dứa ở Na Sang

Những ngày này, trên các triền đồi xã Na Sang, tỉnh Điện Biên, cây dứa bước vào chính vụ thu hoạch. Sản lượng cao, giá bán ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi đang mang lại nguồn thu nhập đáng kể, góp phần nâng cao đời sống người dân.

'Chiến dịch 100 ngày đêm cao điểm' - niềm vui của học sinh vùng biên

'Chiến dịch 100 ngày đêm cao điểm' - niềm vui của học sinh vùng biên

Ngày 2/6, tại Khu nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh với Chiến thắng Biên giới năm 1950, xã Đức Long, UBND tỉnh Cao Bằng phối hợp với Quân khu 1 tổ chức Lễ phát động “Chiến dịch 100 ngày đêm cao điểm” hoàn thành xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới tỉnh Cao Bằng và bàn giao, tiếp nhận lực lượng hỗ trợ của Quân khu 1.

Chuyển mạnh từ tư duy chữa bệnh sang phòng bệnh cho đồng bào

Chuyển mạnh từ tư duy chữa bệnh sang phòng bệnh cho đồng bào

Sáng 2/6, UBND tỉnh Lai Châu tổ chức Lễ ra quân phát động chiến dịch khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân trên địa bàn tỉnh năm 2026. Đây là dấu mốc quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị cao của tỉnh, hưởng ứng chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về chăm sóc sức khỏe toàn dân; đồng thời cụ thể hóa mục tiêu "không để ai bị bỏ lại phía sau" và nâng cao chất lượng dân số.

Xử phạt công trình lớn nghi làm nứt, lún nhà dân

Xử phạt công trình lớn nghi làm nứt, lún nhà dân

Liên quan đến bài viết “Lào Cai: Nhiều nhà dân nứt, lún nghi do ảnh hưởng công trình xây dựng lớn” do Thông tấn xã Việt Nam phát, UBND xã Lục Yên, tỉnh Lào Cai vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ công trình.

Hơn 3.000 đoàn viên, thanh niên và nhân dân tham gia hiến máu

Hơn 3.000 đoàn viên, thanh niên và nhân dân tham gia hiến máu

Sáng 2/6, tại Trung tâm Hội nghị Văn hóa tỉnh Lai Châu, Ban tổ chức Hành trình đỏ Trung ương phối hợp cùng Ban Chỉ đạo vận động Hiến máu tình nguyện tỉnh Lai Châu tổ chức Chương trình Hành trình đỏ lần thứ XIV, Ngày hội hiến máu "Giọt hồng sông Đà” lần thứ 9 và tôn vinh người hiến máu tiêu biểu tỉnh Lai Châu năm 2026.

Chiến dịch 500 ngày đêm: Số hóa thông tin mẫu hài cốt liệt sĩ

Chiến dịch 500 ngày đêm: Số hóa thông tin mẫu hài cốt liệt sĩ

Bà Vương Ngọc Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang cho biết, việc tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, mang ý nghĩa sâu sắc về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của mỗi thế hệ hôm nay đối với những người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Tỉnh Tuyên Quang xác định đây là nhiệm vụ không có điểm dừng và phải làm bằng tất cả tình cảm, trách nhiệm và quyết tâm cao nhất.

Xây dựng 'điểm tựa' giáo dục nơi biên giới

Xây dựng 'điểm tựa' giáo dục nơi biên giới

Ngay sau lễ khởi công, các dự án trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp đã được triển khai đồng loạt. Nhiều hạng mục đang được đẩy nhanh tiến độ thi công, hướng tới mục tiêu hoàn thành và đưa vào sử dụng, bảo đảm tiến độ và đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh vào năm học 2027 - 2028.

Lan tỏa những mô hình tương thân, tương ái cho phụ nữ nông thôn

Lan tỏa những mô hình tương thân, tương ái cho phụ nữ nông thôn

Từ những tờ vé số gây quỹ, khoản góp vốn nhỏ hay mô hình “Sinh kế 1.000 đồng”, nhiều cách làm thiết thực của Hội Liên hiệp Phụ nữ ở cơ sở tại tỉnh Vĩnh Long đã trở thành điểm tựa giúp phụ nữ khó khăn có thêm nguồn vốn xoay vòng, phát triển sinh kế, ổn định cuộc sống. Không chỉ hỗ trợ vật chất, các mô hình còn lan tỏa tinh thần tương trợ trong cộng đồng, góp phần tạo động lực để nhiều gia đình vươn lên thoát nghèo bền vững.

Điện Biên ưu tiên xử lý sớm các 'điểm nóng' bạo lực gia đình

Điện Biên ưu tiên xử lý sớm các 'điểm nóng' bạo lực gia đình

Sáng 1/6, UBND tỉnh Điện Biên tổ chức Lễ phát động Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình năm 2026. Từ thực trạng bạo lực gia đình vẫn diễn biến phức tạp, tỉnh yêu cầu các địa phương chủ động phát hiện, xử lý sớm các “điểm nóng”, đồng thời đẩy mạnh truyền thông và hỗ trợ nạn nhân ngay từ cơ sở.