Sau gần 5 năm triển khai, Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 đã đạt nhiều kết quả nổi bật, tạo chuyển biến rõ nét trong bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số. Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, mục tiêu được đặt ra là tiếp tục khôi phục, phát huy bền vững các giá trị truyền thống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đa dạng, sáng tạo, gắn với phát triển du lịch cộng đồng.
Để hiểu rõ hơn về những thành quả này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Trịnh Ngọc Chung, Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
Thưa Cục trưởng, ông đánh giá như thế nào về những kết quả nổi bật của Dự án 6 trong Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025?
Sau 5 năm triển khai, Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 ghi nhận nhiều kết quả tích cực, tạo chuyển biến rõ nét trong bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số. Công tác tổ chức được triển khai đồng bộ, hiệu quả với sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương.
Dự án đã góp phần phục dựng, bảo tồn nhiều lễ hội truyền thống, bổ sung vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như Lễ hội Gầu Tào của người Mông, không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, thực hành Then - đàn tính của các dân tộc Tày, Nùng, Thái. Hơn 50 làng, bản được bảo tồn, từng bước hình thành mô hình du lịch cộng đồng; 29 di tích quốc gia đặc biệt cùng nhiều di tích tiêu biểu được tu bổ, tôn tạo.
Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở tiếp tục được củng cố với hơn 700 câu lạc bộ dân gian, trên 5.700 đội văn nghệ; gần 400 lớp tập huấn với hơn 16.000 lượt người tham gia. Hạ tầng văn hóa được cải thiện với hơn 3.200 nhà văn hóa, khu thể thao thôn bản, nâng tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng lên gần 94%.
Không chỉ nâng cao đời sống tinh thần, Dự án 6 còn góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế, thúc đẩy du lịch cộng đồng, tạo sinh kế, tăng thu nhập, đồng thời khơi dậy vai trò nghệ nhân và hình thành lực lượng kế cận trong bảo tồn văn hóa.
Đối với dân tộc Thái - một trong những cộng đồng có bản sắc văn hóa phong phú, Dự án 6 đã được cụ thể hóa bằng những chương trình, mô hình hay cách làm nào tiêu biểu nào, thưa ông?
Đối với đồng bào dân tộc Thái, Dự án 6 được triển khai với nhiều mô hình, cách làm cụ thể, bước đầu mang lại hiệu quả rõ nét. Tại Sơn La, địa phương có đông người Thái sinh sống, các nội dung của dự án được triển khai bài bản, đồng bộ.
Ngành văn hóa địa phương tổ chức nhiều lớp tập huấn, truyền dạy di sản phi vật thể như dân ca, dân vũ tại Yên Châu, Quỳnh Nhai; đồng thời mở rộng sang các dân tộc Kháng, Khơ Mú, Mường… góp phần tạo sự giao thoa, làm phong phú đời sống văn hóa cộng đồng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng được chú trọng, gắn bảo tồn với phát triển du lịch và sinh kế, tiêu biểu là các mô hình tại Yên Châu, Vân Hồ.
Hoạt động nghiên cứu, biên soạn, quảng bá văn hóa được đẩy mạnh với nhiều ấn phẩm chuyên đề. Trong lĩnh vực di sản vật thể, toàn tỉnh hiện có 96 di tích, trong đó 64 di tích đã được xếp hạng; nhiều điểm sau khi tu bổ, tôn tạo đã phát huy giá trị, thu hút du khách, góp phần bảo tồn gắn với phát triển kinh tế.
Hiện nay, Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam đang triển khai những chương trình, đề án hoặc mô hình cụ thể nào để bảo tồn và phát huy văn hóa bản sắc dân tộc, thưa ông?
Hằng năm, Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam chủ trì, phối hợp tổ chức nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là không gian bảo tồn mà còn là nơi tái hiện sinh động đời sống văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc.
Các sự kiện như “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”, “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, “Tuần Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hóa Việt Nam” hay “Chợ phiên vùng cao” đã trở thành hoạt động thường niên, được tổ chức bài bản, ngày càng thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và du khách.
Thông qua các sự kiện này, nhiều giá trị văn hóa truyền thống như phong tục, lễ hội, nghề thủ công, nghệ thuật dân gian… được tái hiện một cách chân thực, góp phần lan tỏa và tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc.
Riêng trong năm 2025, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đã tổ chức hàng trăm sự kiện văn hóa - du lịch quy mô quốc gia, thu hút hàng trăm nghìn lượt khách tham quan.
Thưa ông, vai trò của cộng đồng, đặc biệt là các nghệ nhân và người dân bản địa, đang được phát huy ra sao trong các hoạt động của Dự án 6?
Các nghệ nhân, người có uy tín trong cộng đồng là chủ thể sáng tạo và lưu giữ di sản, nắm giữ tri thức, kỹ năng, trực tiếp truyền dạy dân ca, dân vũ, lễ hội, nghề thủ công cho thế hệ trẻ, được ví như “kho tư liệu sống” của mỗi tộc người.
Trong bối cảnh hội nhập, họ đóng vai trò “sợi dây” gìn giữ bản sắc, đồng thời dẫn dắt cộng đồng xây dựng đời sống văn hóa mới, từng bước xóa bỏ hủ tục. Không chỉ bảo tồn, đội ngũ này còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội thông qua du lịch cộng đồng, truyền nghề, tạo sinh kế và là cầu nối giữa chính quyền với người dân.
Tuy nhiên, số lượng nghệ nhân đang giảm, lực lượng kế cận còn hạn chế, đòi hỏi cơ chế, chính sách kịp thời để tôn vinh, đãi ngộ và hỗ trợ truyền dạy. Đồng thời, cần tăng cường giao lưu, nhân rộng mô hình hiệu quả và đưa mục tiêu bảo tồn văn hóa vào các chương trình, kế hoạch phát triển nhằm bảo đảm triển khai đồng bộ, bền vững.
Ông có đề xuất giải pháp gì cho mục tiêu của Dự án 6 giai đoạn tiếp theo 2026 - 2030?
Với quan điểm xuyên suốt là khẳng định vai trò thiết yếu của văn hóa trong chiến lược phát triển bền vững, đồng thời nâng tầm du lịch quốc gia trên cơ sở phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, Dự án 6 sẽ được tái cơ cấu theo hướng rõ mục tiêu, cụ thể nhiệm vụ, gồm 14 nội dung trọng tâm chia thành hai nhóm lớn.
Thứ nhất là nhóm hoạt động đầu tư xây dựng, bao gồm: bảo tồn làng, bản văn hóa truyền thống; tu bổ các di tích quốc gia đặc biệt của đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng, cải tạo hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao ở thôn, bản; và hình thành các điểm đến du lịch văn hóa tiêu biểu tại vùng dân tộc thiểu số.
Thứ hai là nhóm hoạt động hỗ trợ với 10 nội dung quan trọng, như tổ chức các ngày hội, liên hoan nghệ thuật truyền thống; phát huy các lễ hội gắn với phát triển du lịch biển và miền núi; đẩy mạnh truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc; xây dựng các mô hình bảo tồn gắn với sản phẩm du lịch; thiết lập hệ thống dữ liệu văn hóa của 54 dân tộc; đồng thời tăng cường truyền thông, quảng bá văn hóa – du lịch.
Mục tiêu lớn nhất trong giai đoạn này là chuyển hóa mạnh mẽ hơn nữa các giá trị di sản văn hóa truyền thống thành những sản phẩm du lịch đặc trưng, có giá trị kinh tế cao, mang đậm bản sắc của từng vùng, từng dân tộc. Đây chính là chìa khóa để phát triển du lịch cộng đồng một cách bền vững, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, đồng thời vẫn bảo đảm gìn giữ các giá trị văn hóa cốt lõi cho các thế hệ sau.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng tăng cường phân cấp, trao quyền chủ động cho địa phương đi đôi với cơ chế giám sát, đánh giá chặt chẽ từ Trung ương. Đồng thời, cần rà soát, điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật, danh mục địa bàn khó khăn cho phù hợp với thực tiễn; ưu tiên nguồn lực đầu tư, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa và các dân tộc rất ít người; từng bước tăng tỷ lệ vốn đầu tư phát triển, giảm dần vốn sự nghiệp để nâng cao hiệu quả lâu dài.
Đặc biệt, cần xác định Dự án 6 là một nội dung thành phần độc lập trong Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Điều này sẽ giúp bảo đảm tính tập trung, nâng cao hiệu quả triển khai, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám sát, đánh giá định lượng và ưu tiên bố trí nguồn lực cho các nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch trong chiến lược phát triển văn hóa giai đoạn tới.
Xin trân trọng cảm ơn ông!