Tăng cường dạy Tiếng Việt, giúp học sinh vùng dân tộc thiểu số tự tin giao tiếp

Lâm Đồng là một trong những địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số với hơn 683.000 người, chiếm 17,6% dân số. Với mong muốn giúp các em nhỏ vùng cao tự tin hơn khi đến trường, tạo tiền đề cho việc học tập, lĩnh hội kiến thức, những năm qua, ngành Giáo dục Lâm Đồng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trong Đề án “Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số”, mang lại những chuyển biến tích cực, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền.

lam-dong-1710.jpg
Môn tiếng Việt được tăng cường lồng ghép trong nhiều môn học khác tại Trường Tiểu học Hàm Cần 2, xã Hàm Thạnh.

Linh hoạt tổ chức lồng ghép nội dung tăng cường Tiếng Việt

Tại Trường Tiểu học Hàm Cần 2 (xã Hàm Thạnh), tiếng cười nói rộn rã của học sinh Raglai vang khắp sân trường. Đây là một trong những đơn vị thực hiện hiệu quả đề án. Năm học 2025 - 2026, trường có 204 học sinh, trong đó 80% là người dân tộc Raglai. Do đặc thù của địa phương, mỗi dịp hè, nhà trường chủ động mở lớp dạy phụ đạo 3 tuần (18 tiết/tuần) cho học sinh dân tộc thiểu số chuẩn bị vào lớp 1, giúp các em làm quen với Tiếng Việt trước khi bước vào năm học mới.

Cô Dương Thị Thắng, giáo viên lớp 1A1 Trường Tiểu học Hàm Cần 2 chia sẻ: “Nhiều em khi đến trường vẫn quen nói tiếng mẹ đẻ nên gặp khó khăn trong giao tiếp và học tập. Vì vậy, giáo viên luôn chú trọng rèn luyện, giúp các em hình thành bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và kỹ năng giao tiếp; khuyến khích các em diễn đạt tròn câu, mạnh dạn bày tỏ ý kiến bằng Tiếng Việt".

Trước đây, vào chương trình chính khóa, trường tổ chức dạy tăng cường Tiếng Việt 2 tiết/tuần cho học sinh, chủ yếu là nâng cao khả năng nghe, nói cho các em. Tuy nhiên năm học này, do một số nguyên nhân khách quan, nhà trường chưa thể tổ chức dạy thành tiết riêng. Thay vào đó, trường vẫn linh hoạt tổ chức lồng ghép nội dung tăng cường Tiếng Việt trong các tiết học chính khóa, giúp học sinh vừa học ngôn ngữ vừa tiếp thu kiến thức các môn khác.

Cùng với đó, trường xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh thông qua việc tổ chức các hoạt động thư viện; tổ chức linh hoạt các hoạt động trải nghiệm, trò chơi học tập, giao lưu Tiếng Việt; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho giáo viên, cha mẹ học sinh và cộng đồng về việc tăng cường Tiếng Việt… Nhờ đó, các em ngày càng tự tin giao tiếp, hiểu bài tốt hơn, tạo nền tảng cho việc học ở các cấp tiếp theo.

Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hàm Cần 2 Lê Kim Long cho biết, sau gần 10 năm triển khai đề án, nhận thức của phụ huynh và cộng đồng về tăng cường Tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số đã thay đổi rõ rệt, 100% học sinh dân tộc thiểu số trong trường đã được tăng cường Tiếng Việt. Hầu hết, các em đều có khả năng nắm bắt ngôn ngữ, thường xuyên giao tiếp bằng Tiếng Việt, mạnh dạn, tự tin, có kiến thức cơ bản khi vào lớp 1. Từ lớp 2 đến lớp 5, năng lực sử dụng Tiếng Việt của các em tiến bộ rõ rệt. Đa số các em có khả năng nói, nghe hiểu để giao tiếp trong sinh hoạt và đáp ứng yêu cầu học tập.

lam-dong2-1710.jpg
Giáo viên Trường Tiểu học Lâm Giang, xã Hàm Thuận Bắc sử dụng tranh ảnh để dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh đồng bào dân tộc Chăm.

Tương tự, Trường Tiểu học Lâm Giang, xã Hàm Thuận Bắc đang là điểm sáng trong việc triển khai dạy Tiếng Việt cho học sinh người Chăm. Những giờ học Tiếng Việt ở đây không khô khan, mà tràn đầy tiếng hát, tiếng cười. Các em vừa học vừa chơi, qua tranh ảnh, trò chơi, bài hát quen thuộc, từng bước tích lũy vốn từ và kỹ năng ngôn ngữ. Nhiều học sinh trước kia rụt rè, nay đã mạnh dạn đứng lên phát biểu, tự tin đọc thơ, kể chuyện trước lớp.

Em Xích Ngọc Như Lê, học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Lâm Giang chia sẻ: “Ban đầu, em thấy học Tiếng Việt rất khó vì phát âm và từ ngữ khác với tiếng dân tộc của em. Nhờ thầy cô kiên nhẫn dạy dỗ, em dần hiểu và nói tốt hơn. Bây giờ, em có thể đọc nhiều sách, truyện hay và tự tin trò chuyện với bạn bè. Em rất vui vì Tiếng Việt giúp em hòa nhập và hiểu thêm nhiều điều mới”.

Năm học 2025 - 2026, Trường Tiểu học Lâm Giang có 284 học sinh, trong đó 99% là con em đồng bào Chăm. Đặc biệt, trường có 4 giáo viên người bản địa, am hiểu ngôn ngữ, văn hóa địa phương và có nhiều kinh nghiệm trong việc giảng dạy ở các vùng dân tộc thiểu số. Điều này tạo sự thuận lợi trong việc truyền đạt từ ngữ, đọc hiểu cho các em. Ngoài ra, các lớp trong trường còn thiết kế môi trường Tiếng Việt mở, thân thiện, có bảng góc chữ cái, góc “Em học Tiếng Việt”, “Kiến thức tiếng Việt”… giúp các em tương tác, thực hành và phát triển kỹ năng ngôn ngữ một cách tự nhiên.

Ông Trần Văn Tiếng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lâm Giang cho biết, trường tăng cường dạy Tiếng Việt trong tất cả môn học từ Toán, Âm nhạc đến Thể dục để học sinh thường xuyên tiếp xúc và vận dụng trong nhiều tình huống khác nhau. Đồng thời, nhà trường lồng ghép các yếu tố văn hóa địa phương vào bài giảng để tạo sự hứng thú, giúp các em tích cực tham gia các hoạt động giáo dục, khuyến khích sự chủ động giao tiếp của học sinh.

Nâng cao chất lượng học tập

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, song, việc dạy tăng cường Tiếng Việt vẫn còn khó khăn. Nhiều trường thiếu cơ sở vật chất, phòng chức năng phục vụ dạy học; nguồn lực xã hội hóa hạn chế, kinh phí tổ chức hoạt động còn ít. Ngoài ra, nhận thức chưa đầy đủ của một số phụ huynh cũng khiến trẻ gặp trở ngại khi bắt đầu học Tiếng Việt.

lam-dong3-1710.jpg
Các em học sinh dân tộc Raglai ở Trường Tiểu học Hàm Cần 2, xã Hàm Thạnh được rèn luyện kỹ năng đọc, hiểu, viết tiếng Việt.

Theo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng, việc tăng cường Tiếng Việt cho học sinh tiểu học đồng bào dân tộc thiểu số thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực. Nhờ sự quan tâm của các cấp, ngành và nỗ lực của đội ngũ giáo viên, khả năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt của học sinh được cải thiện rõ rệt; góp phần nâng cao chất lượng học tập và tạo tiền đề thuận lợi cho các bậc học tiếp theo.

Những nỗ lực bền bỉ của ngành Giáo dục Lâm Đồng trong việc tăng cường Tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số đã và đang tạo nên những thay đổi rõ rệt, không chỉ ở kỹ năng ngôn ngữ mà còn ở sự tự tin, khát vọng vươn lên của mỗi em nhỏ. Từ những lớp học vùng sâu, vùng xa, Tiếng Việt đã trở thành cầu nối tri thức, mở ra cơ hội học tập và tương lai tươi sáng hơn cho trẻ em dân tộc thiểu số; góp phần xây dựng một nền giáo dục toàn diện, bình đẳng và giàu bản sắc trên quê hương Lâm Đồng./.

Dân tộc Ra Glai

Nhóm địa phương: Rai (ở Hàm Tân - Bình Thuận), Hoang, La Oang (Ðức Trọng - Lâm Ðồng)...

Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlynêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Do có sự tiếp xúc với các dân tộc khác quanh vùng nên ở người Ra Glai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ thông hiện giữ một vai trò quan trọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với những dân tộc cận cư khác.

Lịch sử: Người Ra Glai đã sinh sống lâu đời ở vùng miền Nam Trung bộ.

Hoạt động sản xuất: Nghề làm rẫy luôn chi phối các hoạt động kinh tế khác. Trên rẫy đồng bào trỉa cả lúa, bắp, đậu, bầu bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, rựa hoặc rìu. Cư dân sử dụng đoạn gỗ ngắn, nhọn đầu để trỉa giống, làm cỏ rẫy bằng chiếc cào nhỏ và thu hoạch lúa bằng tay... Rèn và đan lát là hai nghề thủ công khá phát triển... Chăn nuôi phổ biến với các đàn gia súc, gia cầm gồm trâu, lợn, gà, vịt... Ngày nay cư dân đã biết trồng cấy lúa nước.

Có nhiều cách chế thóc thành gạo: xay, cối giã gạo bằng chân, cối giã gạo bằng sức nước, cối giã gạo bằng chày, tay... Người Ra Glai cũng như các dân tộc Tây Nguyên phổ biến giã gạo bằng chày tay.

Cồng chiêng là nhạc cụ rất phổ biến ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Nam nữ, người già, người trẻ Ra Glai đều say sưa chơi và thưởng thức tiếng cồng chiêng trong các đêm hội.

Ðàn môi là một loại nhạc cụ truyền thống của người Ra Glai, các bộ phận của đàn được làm bằng các chất liệu khác nhau: nhôm, lá đồng, tre, dây đàn, sáp ong. Khi thổi tay phải giữ bệ đàn, thân đàn cho vào môi ngậm, ngón tay trỏ của tay trái gầy vào đầu nốt nhạc.

Ăn: Sáng và chiều là hai bữa ăn chính. Cơm trưa thường được mang lên rẫy. Canh nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Ðồ uống gồm nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.

Mặc: Rất khó tìm thấy y phục truyền thống của người Ra Glai. Ngày nay, đàn ông thì mặc quần âu và áo sơ mi, đàn bà mặc váy hoặc quần với áo bà ba. Thời xa xưa, đàn ông nơi đây ở trần, đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí. Những ngày lễ hội truyền thống, phụ nữ mặc áo dài, phía trên được ghép thành những ô vuông màu đỏ trắng xen kẽ nhau.

: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.

Phương tiện vận chuyển: Như các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của người Ra Glai là gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trang trí. Gùi có các kích cỡ khác nhau, phù hợp với đôi vai của từng người và từng công việc cụ thể.

Quan hệ xã hội: Mỗi làng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết "Hội đồng già làng" hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng... Tầng lớp thày cúng cũng đã hình thành. Tuy nhiên, mọi quan hệ xã hội của người Ra Glai trước kia và hiện nay đều chịu sự chi phối của chế gia đình mẫu hệ.

Cưới xin: Tình yêu của trai gái trước hôn nhân được người Ra Glai tôn trọng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Sau lễ cưới, việc cư trú bên vợ đang còn phổ biến.

Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường. Ngày nay, phụ nữ nơi đây đã đến sinh đẻ ở trạm xá, với sự giúp đỡ của các nữ hộ sinh.

Ma chay: Người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ.

Thờ cúng: Người Ra Glai cho rằng có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hoá của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức.

Lễ tết: Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.

Văn nghệ: Ðó là những truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Ðó cúng còn là bộ nhạc cụ khá phong phú của người Ra Glai. Bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra Glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ra Glai

Có thể bạn quan tâm

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Theo ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2026, thành phố Cần Thơ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận xã hội, sự năng động, sáng tạo, chủ động tham gia trực tiếp của người dân đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững.

Mang tri thức đến với người dân vùng sâu, vùng xa

Mang tri thức đến với người dân vùng sâu, vùng xa

​Thư viện tỉnh Lạng Sơn phối hợp với các địa phương, cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức nhiều đợt đưa sách về vùng sâu, vùng xa; xây dựng tủ sách tại các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới... Hoạt động này giúp đồng bào các dân tộc xứ Lạng dễ dàng tiếp cận tri thức, cập nhật kiến thức khoa học - kỹ thuật, ứng dụng vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần.

Gỡ khó để phát triển bền vững công nghiệp tỉnh Lào Cai

Gỡ khó để phát triển bền vững công nghiệp tỉnh Lào Cai

Sản xuất công nghiệp luôn là lĩnh vực được tỉnh Lào Cai ưu tiên phát triển nhưng bên cạnh những thuận lợi, địa phương cũng đang từng bước tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhằm phát triển bền vững lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn.

Quảng Ngãi cần sớm nâng cấp tỉnh lộ 623

Quảng Ngãi cần sớm nâng cấp tỉnh lộ 623

Tuyến tỉnh lộ 623 (trước đây là đường huyện Sơn Liên - Tà Meo) qua địa bàn xã Sơn Tây Thượng, tỉnh Quảng Ngãi là tuyến giao thông huyết mạch kết nối với tuyến tỉnh lộ 676 qua xã Măng Bút. Hiện tại, tuyến đường này đang xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là sau các đợt sạt lở xảy ra vào cuối năm 2025 gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản của người dân. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sớm nâng cấp tuyến đường nhằm đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến.

Hỗ trợ an sinh, phát triển lâu dài cho các xã vùng biên

Hỗ trợ an sinh, phát triển lâu dài cho các xã vùng biên

Tại nhiều địa bàn biên giới, nơi điều kiện học tập và phát triển còn hạn chế, vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên ngày càng được thể hiện rõ nét. Thông qua các hoạt động tình nguyện, hỗ trợ giáo dục, phát triển kinh tế và chuyển đổi số, lực lượng thanh niên đã góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững tại khu vực này.

Sớm xây dựng cầu mới thay thế cầu treo Khe Hóp đã hư hỏng nặng

Sớm xây dựng cầu mới thay thế cầu treo Khe Hóp đã hư hỏng nặng

Xã Mỏ Vàng, tỉnh Lào Cai sau sáp nhập với xã An Lương có 16 thôn, trong đó có 2 thôn Khe Lóng 2, Khe Lóng 3 với gần 200 hộ dân và hơn 1.000 nhân khẩu đều là đồng bào dân tộc Mông và gần 150 hộ dân thuộc thôn Khe Hóp cùng một số thôn khác có nương đồi, đất đai sản xuất nằm tách biệt với trung tâm xã bởi suối Ngòi Thia.

Chuyển từ thu hút sang kiến tạo, Tuyên Quang mở không gian tăng trưởng mới

Chuyển từ thu hút sang kiến tạo, Tuyên Quang mở không gian tăng trưởng mới

Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngày càng đặt ra cao hơn, Tuyên Quang đang chủ động chuyển mình từ tư duy thu hút đầu tư truyền thống sang cách tiếp cận mới - kiến tạo môi trường phát triển, khơi thông nguồn lực và đồng hành cùng doanh nghiệp. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà trở thành động lực thúc đẩy toàn bộ hệ thống chính trị đổi mới cách nghĩ, cách làm, hướng tới một nền kinh tế năng động, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao hơn.

Chàng trai người Dao nâng tầm chè Shan tuyết trên dãy Tây Côn Lĩnh

Chàng trai người Dao nâng tầm chè Shan tuyết trên dãy Tây Côn Lĩnh

Dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh, chàng trai người Dao Bàn Văn Hiệu (sinh năm 1995, thôn Lùng Đoóc, xã biên giới Thanh Thủy, Tuyên Quang) ngày ngày miệt mài tạo ra những sản phẩm chè Shan tuyết cổ thụ bằng tâm huyết và phương thức bài bản. Từ những ngày đầu sản xuất đơn lẻ, Hiệu đã mạnh dạn thành lập Hợp tác xã Thanh Thủy Chè, từng bước nâng cao giá trị, ổn định đầu ra, góp phần tăng thu nhập cho người dân.

Đánh thức giá trị trà cổ Hồ Thầu

Đánh thức giá trị trà cổ Hồ Thầu

Sáng sớm ở Hồ Thầu, khi mây còn bảng lảng trôi ngang lưng núi Chiêu Lầu Thi, những tán chè Shan Tuyết cổ thụ đã kịp thức dậy trước con người. Từng giọt sương đọng trên búp non, óng ánh như giữ lại tinh túy của trời đất. Trong không gian tĩnh lặng của đại ngàn, người Dao, người Mông lặng lẽ bước vào rừng, hái chè bằng đôi tay quen thuộc, nâng niu từng búp nhỏ như giữ gìn một phần ký ức của núi.

Chăm lo, nâng cao sức khỏe cho người dân

Chăm lo, nâng cao sức khỏe cho người dân

Nhằm nâng cao nhận thức, phát hiện sớm bệnh tật và từng bước quản lý sức khỏe người dân một cách toàn diện, bền vững, từ ngày 25/4, ngành Y tế tỉnh Điện Biên đồng loạt triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí cho nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh.

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài cuối: Khát vọng đổi mới toàn diện

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài cuối: Khát vọng đổi mới toàn diện

Với mục tiêu đến năm 2030 trở thành xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) đang chuyển mình mạnh mẽ để trở thành điểm sáng về thu hút đầu tư và phát triển du lịch, khẳng định vị thế của một vùng đất không chỉ giàu truyền thống mà còn năng động, đầy triển vọng.

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài 1: Từ 'tọa độ lửa' đến những mầm xanh

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài 1: Từ 'tọa độ lửa' đến những mầm xanh

Từ trong khói lửa của những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, sóc Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) đã đi vào huyền thoại với tiếng chày giã gạo nuôi quân vang vọng khắp núi rừng đại ngàn. Trải qua hơn nửa thế kỷ, những vết tích đau thương của bom đạn năm xưa giờ đây đã được thay thế bằng màu xanh bạt ngàn của cây điều, cao su, sầu riêng… và những ngôi nhà khang trang rực rỡ sắc màu.

Sạt lở bờ sông Pô Kô - nỗi lo trước mùa mưa bão

Sạt lở bờ sông Pô Kô - nỗi lo trước mùa mưa bão

Sông Pô Kô chảy qua địa phận phía Tây tỉnh Quảng Ngãi từ nhiều năm nay đã xảy ra tình trạng sạt lở bên bờ sông, chủ yếu tại địa phận các xã Dục Nông và Đăk Pek. Nhiều vị trí sạt lở đã ăn sâu vào khu vực dân cư, cuốn trôi nhà cửa và diện tích đất canh tác của người dân. Thậm chí, dòng sông sạt lở đã ảnh hưởng đến tuyến Quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh). Tình trạng sạt lở kéo dài gây ra nhiều nguy cơ mất an toàn cho người dân và các phương tiện lưu thông.

Nông thôn mới tạo sinh kế bền vững cho người dân

Nông thôn mới tạo sinh kế bền vững cho người dân

Từ nền tảng chương trình xây dựng nông thôn mới, nhiều địa phương Tây Ninh đang tạo ra những sinh kế bền vững cho người dân. Không chỉ nâng cấp hạ tầng, các mô hình sản xuất, liên kết chuỗi và kinh tế nông thôn được phát triển, giúp người dân tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, từng bước vươn lên ngay trên chính quê hương.

'Hợp đồng tương lai' - điểm tựa của những người lầm lỡ

'Hợp đồng tương lai' - điểm tựa của những người lầm lỡ

Những năm gần đây, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy tại xã vùng cao Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai) vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp. Những người sau khi cai nghiện thành công và trở về địa phương tưởng chừng cuộc đời sẽ rơi vào bế tắc. Tuy nhiên với sự giúp đỡ tận tình của chính quyền và công an xã với mô hình “Hợp đồng tương lai” đã giúp không ít người lầm lỡ quay về với gia đình, làm lại cuộc đời.

Người dân vùng biên gửi kỳ vọng vào sức bật mới của Đồng Nai

Người dân vùng biên gửi kỳ vọng vào sức bật mới của Đồng Nai

Những ngày qua, chủ trương đưa tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đang mang lại luồng sinh khí mới, khơi dậy niềm tin và khát vọng của người dân nơi vùng biên. Với bà con vùng biên, đây được kỳ vọng là "đòn bẩy" chiến lược để tái cấu trúc kinh tế khu vực biên giới, chuyển dịch trọng tâm sang phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với du lịch sinh thái bền vững.

Nỗi lo mùa lũ và khát khao một cây cầu kiên cố

Nỗi lo mùa lũ và khát khao một cây cầu kiên cố

Gần 10 năm qua, nhiều lớp học sinh xã Sơn Hải, tỉnh Bắc Ninh vẫn hằng ngày đến trường qua chiếc cầu phao tạm bợ. Trải qua thời gian, cây cầu càng ngày càng xuống cấp nghiêm trọng, trở thành nỗi lo thường trực của người dân, nhất là mỗi khi trời mưa bão, giông lốc. Những ngày đó ước mơ đến trường của các cháu học sinh lại đành gác lại để bảo đảm an toàn.

Người dân xã Sì Lở Lầu thiếu nước sinh hoạt

Người dân xã Sì Lở Lầu thiếu nước sinh hoạt

Hiện nay, đang là cao điểm của mùa khô, tình trạng thiếu nước sinh hoạt đang diễn ra tại nhiều địa phương vùng cao. Với xã biên giới Sì Lở Lầu, do địa hình cao và thời tiết khô hạn kéo dài, nguồn nước ngày càng khan hiếm, khiến đời sống người dân nơi đây điêu đứng vì thiếu nước sinh hoạt.

Bộ đội giúp người dân biên giới 'giải hạn'

Bộ đội giúp người dân biên giới 'giải hạn'

Trước tình trạng nắng hạn kéo dài khiến nhiều nguồn nước sinh hoạt cạn kiệt, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 72 (Binh đoàn 15) đã triển khai chở nước sạch cấp miễn phí cho người dân vùng biên giới xã Ia Nan, góp phần giúp bà con ổn định đời sống trong cao điểm mùa khô.

Tăng cường giám sát an toàn thực phẩm trong trường học

Tăng cường giám sát an toàn thực phẩm trong trường học

Trước tình hình mất an toàn thực phẩm diễn biến phức tạp, nguy cơ ngộ độc thực phẩm có xu hướng gia tăng, công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đang được các cấp, ngành tăng cường triển khai đồng bộ.

Dồn toàn lực hoàn thành Chiến dịch Đông Khê năm 2026

Dồn toàn lực hoàn thành Chiến dịch Đông Khê năm 2026

Chỉ còn gần 1 tháng, Chiến dịch Đông Khê 2026, 85 ngày đêm quyết tâm hoàn thành giai đoạn 1 tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh sẽ kết thúc. Các đơn vị, doanh nghiệp, nhà thầu đang huy động nhân sự, máy móc, thiết bị, tổ chức thi công hoàn thành tiến độ đề ra.

Những ‘dải sáng’ nơi phên giậu

Những ‘dải sáng’ nơi phên giậu

Tỉnh Lạng Sơn có trên 231,7 km đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc, địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều khu vực hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Những năm qua, được sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, nhiều cung đường tuần tra biên giới trên địa bàn đã được bê tông hóa, tạo thuận lợi cho cán bộ, chiến sĩ Biên phòng thực hiện nhiệm vụ và người dân khu vực biên giới đi lại, canh tác nông nghiệp dễ dàng. Tuy nhiên vào ban đêm, việc di chuyển trên đường tuần tra vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu ánh sáng.