Tăng cường dạy Tiếng Việt, giúp học sinh vùng dân tộc thiểu số tự tin giao tiếp

Lâm Đồng là một trong những địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số với hơn 683.000 người, chiếm 17,6% dân số. Với mong muốn giúp các em nhỏ vùng cao tự tin hơn khi đến trường, tạo tiền đề cho việc học tập, lĩnh hội kiến thức, những năm qua, ngành Giáo dục Lâm Đồng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trong Đề án “Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số”, mang lại những chuyển biến tích cực, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền.

lam-dong-1710.jpg
Môn tiếng Việt được tăng cường lồng ghép trong nhiều môn học khác tại Trường Tiểu học Hàm Cần 2, xã Hàm Thạnh.

Linh hoạt tổ chức lồng ghép nội dung tăng cường Tiếng Việt

Tại Trường Tiểu học Hàm Cần 2 (xã Hàm Thạnh), tiếng cười nói rộn rã của học sinh Raglai vang khắp sân trường. Đây là một trong những đơn vị thực hiện hiệu quả đề án. Năm học 2025 - 2026, trường có 204 học sinh, trong đó 80% là người dân tộc Raglai. Do đặc thù của địa phương, mỗi dịp hè, nhà trường chủ động mở lớp dạy phụ đạo 3 tuần (18 tiết/tuần) cho học sinh dân tộc thiểu số chuẩn bị vào lớp 1, giúp các em làm quen với Tiếng Việt trước khi bước vào năm học mới.

Cô Dương Thị Thắng, giáo viên lớp 1A1 Trường Tiểu học Hàm Cần 2 chia sẻ: “Nhiều em khi đến trường vẫn quen nói tiếng mẹ đẻ nên gặp khó khăn trong giao tiếp và học tập. Vì vậy, giáo viên luôn chú trọng rèn luyện, giúp các em hình thành bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và kỹ năng giao tiếp; khuyến khích các em diễn đạt tròn câu, mạnh dạn bày tỏ ý kiến bằng Tiếng Việt".

Trước đây, vào chương trình chính khóa, trường tổ chức dạy tăng cường Tiếng Việt 2 tiết/tuần cho học sinh, chủ yếu là nâng cao khả năng nghe, nói cho các em. Tuy nhiên năm học này, do một số nguyên nhân khách quan, nhà trường chưa thể tổ chức dạy thành tiết riêng. Thay vào đó, trường vẫn linh hoạt tổ chức lồng ghép nội dung tăng cường Tiếng Việt trong các tiết học chính khóa, giúp học sinh vừa học ngôn ngữ vừa tiếp thu kiến thức các môn khác.

Cùng với đó, trường xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh thông qua việc tổ chức các hoạt động thư viện; tổ chức linh hoạt các hoạt động trải nghiệm, trò chơi học tập, giao lưu Tiếng Việt; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho giáo viên, cha mẹ học sinh và cộng đồng về việc tăng cường Tiếng Việt… Nhờ đó, các em ngày càng tự tin giao tiếp, hiểu bài tốt hơn, tạo nền tảng cho việc học ở các cấp tiếp theo.

Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hàm Cần 2 Lê Kim Long cho biết, sau gần 10 năm triển khai đề án, nhận thức của phụ huynh và cộng đồng về tăng cường Tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số đã thay đổi rõ rệt, 100% học sinh dân tộc thiểu số trong trường đã được tăng cường Tiếng Việt. Hầu hết, các em đều có khả năng nắm bắt ngôn ngữ, thường xuyên giao tiếp bằng Tiếng Việt, mạnh dạn, tự tin, có kiến thức cơ bản khi vào lớp 1. Từ lớp 2 đến lớp 5, năng lực sử dụng Tiếng Việt của các em tiến bộ rõ rệt. Đa số các em có khả năng nói, nghe hiểu để giao tiếp trong sinh hoạt và đáp ứng yêu cầu học tập.

lam-dong2-1710.jpg
Giáo viên Trường Tiểu học Lâm Giang, xã Hàm Thuận Bắc sử dụng tranh ảnh để dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh đồng bào dân tộc Chăm.

Tương tự, Trường Tiểu học Lâm Giang, xã Hàm Thuận Bắc đang là điểm sáng trong việc triển khai dạy Tiếng Việt cho học sinh người Chăm. Những giờ học Tiếng Việt ở đây không khô khan, mà tràn đầy tiếng hát, tiếng cười. Các em vừa học vừa chơi, qua tranh ảnh, trò chơi, bài hát quen thuộc, từng bước tích lũy vốn từ và kỹ năng ngôn ngữ. Nhiều học sinh trước kia rụt rè, nay đã mạnh dạn đứng lên phát biểu, tự tin đọc thơ, kể chuyện trước lớp.

Em Xích Ngọc Như Lê, học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Lâm Giang chia sẻ: “Ban đầu, em thấy học Tiếng Việt rất khó vì phát âm và từ ngữ khác với tiếng dân tộc của em. Nhờ thầy cô kiên nhẫn dạy dỗ, em dần hiểu và nói tốt hơn. Bây giờ, em có thể đọc nhiều sách, truyện hay và tự tin trò chuyện với bạn bè. Em rất vui vì Tiếng Việt giúp em hòa nhập và hiểu thêm nhiều điều mới”.

Năm học 2025 - 2026, Trường Tiểu học Lâm Giang có 284 học sinh, trong đó 99% là con em đồng bào Chăm. Đặc biệt, trường có 4 giáo viên người bản địa, am hiểu ngôn ngữ, văn hóa địa phương và có nhiều kinh nghiệm trong việc giảng dạy ở các vùng dân tộc thiểu số. Điều này tạo sự thuận lợi trong việc truyền đạt từ ngữ, đọc hiểu cho các em. Ngoài ra, các lớp trong trường còn thiết kế môi trường Tiếng Việt mở, thân thiện, có bảng góc chữ cái, góc “Em học Tiếng Việt”, “Kiến thức tiếng Việt”… giúp các em tương tác, thực hành và phát triển kỹ năng ngôn ngữ một cách tự nhiên.

Ông Trần Văn Tiếng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lâm Giang cho biết, trường tăng cường dạy Tiếng Việt trong tất cả môn học từ Toán, Âm nhạc đến Thể dục để học sinh thường xuyên tiếp xúc và vận dụng trong nhiều tình huống khác nhau. Đồng thời, nhà trường lồng ghép các yếu tố văn hóa địa phương vào bài giảng để tạo sự hứng thú, giúp các em tích cực tham gia các hoạt động giáo dục, khuyến khích sự chủ động giao tiếp của học sinh.

Nâng cao chất lượng học tập

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, song, việc dạy tăng cường Tiếng Việt vẫn còn khó khăn. Nhiều trường thiếu cơ sở vật chất, phòng chức năng phục vụ dạy học; nguồn lực xã hội hóa hạn chế, kinh phí tổ chức hoạt động còn ít. Ngoài ra, nhận thức chưa đầy đủ của một số phụ huynh cũng khiến trẻ gặp trở ngại khi bắt đầu học Tiếng Việt.

lam-dong3-1710.jpg
Các em học sinh dân tộc Raglai ở Trường Tiểu học Hàm Cần 2, xã Hàm Thạnh được rèn luyện kỹ năng đọc, hiểu, viết tiếng Việt.

Theo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng, việc tăng cường Tiếng Việt cho học sinh tiểu học đồng bào dân tộc thiểu số thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực. Nhờ sự quan tâm của các cấp, ngành và nỗ lực của đội ngũ giáo viên, khả năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt của học sinh được cải thiện rõ rệt; góp phần nâng cao chất lượng học tập và tạo tiền đề thuận lợi cho các bậc học tiếp theo.

Những nỗ lực bền bỉ của ngành Giáo dục Lâm Đồng trong việc tăng cường Tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số đã và đang tạo nên những thay đổi rõ rệt, không chỉ ở kỹ năng ngôn ngữ mà còn ở sự tự tin, khát vọng vươn lên của mỗi em nhỏ. Từ những lớp học vùng sâu, vùng xa, Tiếng Việt đã trở thành cầu nối tri thức, mở ra cơ hội học tập và tương lai tươi sáng hơn cho trẻ em dân tộc thiểu số; góp phần xây dựng một nền giáo dục toàn diện, bình đẳng và giàu bản sắc trên quê hương Lâm Đồng./.

Dân tộc Ra Glai

Nhóm địa phương: Rai (ở Hàm Tân - Bình Thuận), Hoang, La Oang (Ðức Trọng - Lâm Ðồng)...

Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlynêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Do có sự tiếp xúc với các dân tộc khác quanh vùng nên ở người Ra Glai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ thông hiện giữ một vai trò quan trọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với những dân tộc cận cư khác.

Lịch sử: Người Ra Glai đã sinh sống lâu đời ở vùng miền Nam Trung bộ.

Hoạt động sản xuất: Nghề làm rẫy luôn chi phối các hoạt động kinh tế khác. Trên rẫy đồng bào trỉa cả lúa, bắp, đậu, bầu bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, rựa hoặc rìu. Cư dân sử dụng đoạn gỗ ngắn, nhọn đầu để trỉa giống, làm cỏ rẫy bằng chiếc cào nhỏ và thu hoạch lúa bằng tay... Rèn và đan lát là hai nghề thủ công khá phát triển... Chăn nuôi phổ biến với các đàn gia súc, gia cầm gồm trâu, lợn, gà, vịt... Ngày nay cư dân đã biết trồng cấy lúa nước.

Có nhiều cách chế thóc thành gạo: xay, cối giã gạo bằng chân, cối giã gạo bằng sức nước, cối giã gạo bằng chày, tay... Người Ra Glai cũng như các dân tộc Tây Nguyên phổ biến giã gạo bằng chày tay.

Cồng chiêng là nhạc cụ rất phổ biến ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Nam nữ, người già, người trẻ Ra Glai đều say sưa chơi và thưởng thức tiếng cồng chiêng trong các đêm hội.

Ðàn môi là một loại nhạc cụ truyền thống của người Ra Glai, các bộ phận của đàn được làm bằng các chất liệu khác nhau: nhôm, lá đồng, tre, dây đàn, sáp ong. Khi thổi tay phải giữ bệ đàn, thân đàn cho vào môi ngậm, ngón tay trỏ của tay trái gầy vào đầu nốt nhạc.

Ăn: Sáng và chiều là hai bữa ăn chính. Cơm trưa thường được mang lên rẫy. Canh nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Ðồ uống gồm nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.

Mặc: Rất khó tìm thấy y phục truyền thống của người Ra Glai. Ngày nay, đàn ông thì mặc quần âu và áo sơ mi, đàn bà mặc váy hoặc quần với áo bà ba. Thời xa xưa, đàn ông nơi đây ở trần, đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí. Những ngày lễ hội truyền thống, phụ nữ mặc áo dài, phía trên được ghép thành những ô vuông màu đỏ trắng xen kẽ nhau.

: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.

Phương tiện vận chuyển: Như các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của người Ra Glai là gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trang trí. Gùi có các kích cỡ khác nhau, phù hợp với đôi vai của từng người và từng công việc cụ thể.

Quan hệ xã hội: Mỗi làng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết "Hội đồng già làng" hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng... Tầng lớp thày cúng cũng đã hình thành. Tuy nhiên, mọi quan hệ xã hội của người Ra Glai trước kia và hiện nay đều chịu sự chi phối của chế gia đình mẫu hệ.

Cưới xin: Tình yêu của trai gái trước hôn nhân được người Ra Glai tôn trọng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Sau lễ cưới, việc cư trú bên vợ đang còn phổ biến.

Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường. Ngày nay, phụ nữ nơi đây đã đến sinh đẻ ở trạm xá, với sự giúp đỡ của các nữ hộ sinh.

Ma chay: Người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ.

Thờ cúng: Người Ra Glai cho rằng có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hoá của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức.

Lễ tết: Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.

Văn nghệ: Ðó là những truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Ðó cúng còn là bộ nhạc cụ khá phong phú của người Ra Glai. Bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra Glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ra Glai

Có thể bạn quan tâm

Kết nối nguồn lực trí thức với bài toán phát triển

Kết nối nguồn lực trí thức với bài toán phát triển

Tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi được kết nối với những vấn đề cụ thể của sản xuất, đời sống và quản lý. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang phát huy vai trò cầu nối, đưa tiếng nói của chuyên gia, nhà khoa học đến gần hơn với cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân.

Cựu chiến binh miền núi giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi

Cựu chiến binh miền núi giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi

Các mô hình kinh tế hiệu quả của hội viên Hội Cựu chiến binh được duy trì, nhân rộng, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương... Đây là đánh giá được đưa ra tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua "Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi" lần thứ VI, giai đoạn 2021 - 2026”, do Hội Cựu chiến binh tỉnh Lạng Sơn tổ chức chiều 29/7.

Hỗ trợ thanh niên kiến tạo sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số

Hỗ trợ thanh niên kiến tạo sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số

Ngày 29/7, tại phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Tỉnh Đoàn Lào Cai tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Khởi nghiệp từ bản sắc địa phương: Cơ hội phát triển sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số”.

Chủ động từ cơ sở để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai

Chủ động từ cơ sở để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai

Tuyên Quang là địa phương có địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều sông, suối và khu vực dân cư nằm xen kẽ các sườn dốc. Mỗi mùa mưa bão, nguy cơ lũ quét, sạt lở đất và ngập úng luôn hiện hữu, tác động trực tiếp đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất.

Sau mưa lớn, Lâm Đồng tập trung khắc phục hạ tầng, ổn định đời sống người dân

Sau mưa lớn, Lâm Đồng tập trung khắc phục hạ tầng, ổn định đời sống người dân

Từ các ngày từ 27- 29/7, mưa lớn đã xảy ra liên tiếp tại Lâm Đồng, chủ yếu vào chiều tối và đêm, gây ngập úng cục bộ, khiến nhiều diện tích nông nghiệp bị hư hại, đời sống người dân ở các địa phương bị ảnh hưởng. Hiện các địa phương đang khẩn trương huy động lực lượng, phương tiện khắc phục hậu quả mưa lũ, hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống và sản xuất.

Sức sống mới trên khu dân cư biên giới

Sức sống mới trên khu dân cư biên giới

Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các lực lượng chức năng, khu dân cư biên giới tổ 10, thôn Đoàn Kết (xã Thiện Hưng, thành phố Đồng Nai) đang từng ngày “thay da đổi thịt”.

Tây Ninh: Tái cơ cấu hệ thống cấp nước nông thôn

Tây Ninh: Tái cơ cấu hệ thống cấp nước nông thôn

Mặc dù tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã đạt 75,74%, song tính bền vững của hệ thống cấp nước vẫn là vấn đề đặt ra khi tỷ lệ hộ sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung mới đạt 51,53%; nhiều công trình quy mô nhỏ hoạt động chưa hiệu quả, hạ tầng xuống cấp, năng lực quản lý vận hành còn hạn chế. Trước yêu cầu bảo đảm nguồn nước phục vụ đời sống người dân, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng nhu cầu phát triển, tỉnh đang tập trung cơ cấu lại hệ thống cấp nước nông thôn theo hướng tập trung, hiện đại, an toàn và bền vững.

Giúp học dân sinh vùng dân tộc tự tin bước vào năm học mới

Giúp học dân sinh vùng dân tộc tự tin bước vào năm học mới

Tại các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Khánh Hòa, thời gian này có rất đông trẻ đến trường để làm quen và học sớm tiếng phổ thông (tiếng Việt) đầu cấp tiểu học. Đây là hoạt động thiết thực, giúp các em khỏi bỡ ngỡ, mạnh dạn giao tiếp, sớm thành thạo kỹ năng nghe, nói tiếng phổ thông trước khi bước vào năm học mới.

Lào Cai tập trung khắc phục thiệt hại do mưa lớn

Lào Cai tập trung khắc phục thiệt hại do mưa lớn

Do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài từ chiều tối 27 đến ngày 28/7, tỉnh Lào Cai xuất hiện nhiều điểm sạt lở và cuốn trôi hoa màu của nhân dân. Các địa phương tập trung huy động lực lượng khắc phục hậu quả thiên tai gây ra.

Từ mô hình chính quyền địa phương hai cấp đến những đổi thay ở vùng biên

Từ mô hình chính quyền địa phương hai cấp đến những đổi thay ở vùng biên

Một năm sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các xã biên giới của tỉnh Tuyên Quang đang ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Từ những địa bàn xa xôi, giao thông cách trở, địa giới hành chính mở rộng sau sáp nhập, nhiều địa phương đã từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu để xây dựng bộ máy hoạt động thông suốt, gần dân hơn. Không chỉ nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, mô hình mới còn tạo động lực khai thác tiềm năng, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững quốc phòng, an ninh vùng biên.

Gỡ bài toán nhân lực y tế cơ sở sau sắp xếp

Gỡ bài toán nhân lực y tế cơ sở sau sắp xếp

Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, số trạm y tế của tỉnh Gia Lai giảm từ 373 xuống còn 135, trong khi quy mô dân số phục vụ của mỗi trạm tăng gần gấp ba lần. Địa bàn quản lý rộng hơn, khối lượng công việc lớn hơn nhưng toàn tỉnh vẫn thiếu gần 500 nhân lực y tế, tạo áp lực lớn đối với hoạt động của hệ thống y tế cơ sở, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Con đường mới nối lại nhịp sống vùng sạt lở

Con đường mới nối lại nhịp sống vùng sạt lở

Cuối tháng 10/2025, do ảnh hưởng của mưa lũ kéo dài, một vụ sạt lở đất nghiêm trọng cuốn theo con đường độc đạo, khiến hàng trăm hộ dân thuộc 4 thôn là Ngọc Nang, Xa Úa, Ngọc Lâng, Tu Răng, xã Ngọc Linh, tỉnh Quảng Ngãi bị cô lập. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp tại hiện trường của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, xã Ngọc Linh được hỗ trợ hơn 20 tỷ đồng; trong đó có hơn 6 tỷ đồng để khắc phục, làm mới con đường dẫn vào các thôn bị cô lập. Đến nay, tuyến đường đã được hoàn thành, giúp bà con yên tâm đi lại trước mùa mưa bão năm 2026.

Lâm Đồng: Mưa lớn kéo dài khiến nhiều khu vực ở Bảo Lộc ngập sâu

Lâm Đồng: Mưa lớn kéo dài khiến nhiều khu vực ở Bảo Lộc ngập sâu

Sáng 28/7, mưa lớn kéo dài từ đêm trước đã khiến nhiều khu vực trũng thấp tại phường 3 Bảo Lộc và phường B’Lao (tỉnh Lâm Đồng) bị ngập sâu. Lực lượng chức năng địa phương đang khẩn trương triển khai các biện pháp hỗ trợ người dân, ứng phó với diễn biến phức tạp của tình hình ngập lụt.

Bộ Xây dựng công bố tình huống khẩn cấp khắc phục hạ tầng giao thông ở Lào Cai, Lai Châu

Bộ Xây dựng công bố tình huống khẩn cấp khắc phục hạ tầng giao thông ở Lào Cai, Lai Châu

Bộ Xây dựng vừa ban hành Quyết định công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai để khắc phục hư hỏng kết cấu hạ tầng giao thông nhiều điểm, đoạn trên Quốc lộ 279 qua tỉnh Lào Cai; Quốc lộ 279 và Quốc lộ 32 qua tỉnh Lai Châu do ảnh hưởng của đợt mưa, lũ gây ra từ ngày 15/7/2026 đến ngày 17/7/2026.

Cao Bằng: Tập trung xử lý dứt điểm dịch tả lợn châu Phi

Cao Bằng: Tập trung xử lý dứt điểm dịch tả lợn châu Phi

Từ đầu năm đến nay, bệnh Dịch tả lợn châu Phi đã xuất hiện tại 27 xã, phường trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, làm hơn 1.000 con lợn mắc bệnh, chết và buộc phải tiêu hủy với tổng khối lượng hơn 49 tấn. Hiện vẫn còn 20 xóm thuộc 10 xã chưa qua 21 ngày kể từ khi phát hiện đang có dịch tả lợn châu Phi.

Quyết liệt phòng, chống dịch cúm gia cầm A/H5N1

Quyết liệt phòng, chống dịch cúm gia cầm A/H5N1

Chiều 26/7, UBND tỉnh Tuyên Quang thông tin đã ban hành văn bản yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương khẩn trương triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm A/H5N1 nhằm nhanh chóng khống chế, dập tắt các ổ dịch, không để dịch bệnh phát sinh và lây lan trên diện rộng.

50 căn nhà phao giúp người dân chủ động ứng phó mưa lũ

50 căn nhà phao giúp người dân chủ động ứng phó mưa lũ

Chiều 26/7, tại Nhà văn hóa thôn Tân Bình (xã Đồng Xuân, tỉnh Đắk Lắk), UBND tỉnh phối hợp với Báo Dân trí (Bộ Nội vụ) tổ chức khánh thành 50 căn nhà phao chống lũ tặng cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn tại xã Đồng Xuân và xã Tuy An Bắc (tỉnh Đắk Lắk).

Nối dài đạo lý 'Uống nước nhớ nguồn'

Nối dài đạo lý 'Uống nước nhớ nguồn'

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), trên quê hương cách mạng Cao Bằng, những hoạt động tri ân người có công được triển khai sâu rộng. Tỉnh đã thành lập các đoàn đến thăm hỏi, chăm sóc thương binh, bệnh binh. Mỗi việc làm đều góp phần nối dài đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tri ân những người đã hiến dâng tuổi xuân và cuộc đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Khánh thành công trình sửa chữa, nâng cấp Khu tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Thọ

Khánh thành công trình sửa chữa, nâng cấp Khu tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Thọ

Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), sáng 26/7, tại xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phối hợp với Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Điện Biên tổ chức khánh thành công trình sửa chữa, nâng cấp Khu tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Thọ.

Điện Biên đưa trường liên cấp thứ 2 ở vùng biên về đích

Điện Biên đưa trường liên cấp thứ 2 ở vùng biên về đích

Sau hơn 8 tháng thi công, Trường Phổ thông dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã Thanh Nưa đang bước vào giai đoạn hoàn thiện cuối cùng. Dự kiến hoàn thành trong tháng 7, đây sẽ là trường nội trú liên cấp thứ hai của tỉnh Điện Biên được hoàn thành theo chủ trương xây dựng hệ thống trường nội trú tại các xã biên giới.