Trong hai ngày 16 - 17/7, Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Thái Nguyên khóa XV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức Kỳ họp thứ 5 nhằm thông qua các nghị quyết quan trọng theo thẩm quyền.
Trong số các nghị quyết được thông qua, đáng chú ý nhất là Nghị quyết quy định mức hỗ trợ cho 1 dự án, định mức hỗ trợ các đối tượng tham gia dự án phát triển sản xuất thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nghị quyết được áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến việc thực hiện dự án phát triển sản xuất thuộc Chương trình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Cụ thể, đối với dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, mức hỗ trợ tối đa cho 1 dự án là không quá 5 tỷ đồng; dự án phát triển sản xuất của cộng đồng mức hỗ trợ tối đa cho 1 dự án là không quá 2 tỷ đồng; dự án phát triển sản xuất theo nhiệm vụ mức hỗ trợ tối đa cho 1 dự án là 3 tỷ đồng.
Định mức hỗ trợ cho các hộ tham gia dự án (áp dụng chung cho cả 3 mô hình trên) tối đa 80 triệu đồng/hộ đối với các hộ nghèo và hộ cận nghèo; tối đa 70 triệu đồng/hộ dành cho hộ mới thoát nghèo (trong vòng 36 tháng kể từ khi được công nhận), hộ có thành viên là người có công với cách mạng, hộ dân tộc thiểu số; tối đa 50 triệu đồng/hộ dành cho các đối tượng không thuộc hai nhóm trên.
Đại biểu HĐND tỉnh thực hiện chất vấn tại Kỳ họp. Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN
Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên có 82 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 36 xã khu vực III và 9 xã khu vực II, 37 xã khu vực I; 536 thôn đặc biệt khó khăn. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, sản xuất và đời sống người dân trên địa bàn các xã vẫn còn nhiều khó khăn, chênh lệch của các đối tượng tham gia dự án phát triển sản xuất giữa các địa bàn không lớn đặc biệt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Do đó, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các dự án phát triển sản xuất, theo từng nhóm đối tượng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, cộng đồng dân cư tiếp cận chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện các dự án phát triển sản xuất.
Việc thông qua nghị quyết này có vai trò rất quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt với địa phương có vị trí địa lý phức tạp, chia cắt, nhiều người dân thuộc đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống khó khăn như Thái Nguyên.
Các đại biểu biểu quyết thông qua nghị quyết tại Kỳ họp. Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN
Tại kỳ họp, Hội đồng nhân dân tỉnh biểu quyết thông qua một số nghị quyết quan trọng khác: Phân bổ Kế hoạch đầu tư công trung hạn và dự kiến chi thường xuyên giai đoạn 2026 - 2030 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030; bổ sung danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; điều chỉnh và bổ sung danh mục các dự án phải thu hồi đất; bố trí vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2026 - 2030 thực hiện Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội (đoạn qua địa phận tỉnh Thái Nguyên)...
Phát biểu tại kỳ họp, ông Bùi Văn Lương, Chủ tịch HĐND tỉnh nhấn mạnh, các nghị quyết được thông qua tại kỳ họp lần này bao quát nhiều lĩnh vực quan trọng, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Để các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị, các cơ quan, đơn vị, địa phương rà soát, bổ sung giải pháp thiết thực, cụ thể phù hợp điều kiện của tỉnh để tổ chức thực hiện, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đã đề ra.
Quang cảnh Kỳ họp Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN
Các cấp, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, điểm nghẽn trong phát triển, nhất là về thể chế, đất đai, giải phóng mặt bằng, đầu tư công, thủ tục hành chính; đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, công trình hạ tầng chiến lược; cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; phát huy hiệu quả động lực tăng trưởng mới từ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển kinh tế tư nhân. Đồng thời tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Các ngành, địa phương chủ động nắm bắt tình hình, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo trong công tác chỉ đạo, điều hành; thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách an sinh xã hội, chăm lo tốt hơn đời sống nhân dân, nhất là người có công, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng yếu thế và địa bàn còn nhiều khó khăn.../.