Mỗi sáng Chủ nhật, chợ phiên Đắk R’măng (còn gọi chợ tình Đắk R’măng, ở xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng) lại rộn ràng tiếng nói cười, sắc màu thổ cẩm và hương thơm của những món ăn vùng cao. Không chỉ là nơi giao thương của đồng bào Mông, phiên chợ còn là không gian lưu giữ bản sắc văn hóa Tây Bắc tạo điểm nhấn độc đáo trong phát triển du lịch cộng đồng của địa phương.
Giữ hồn Tây Bắc giữa đại ngàn Tây Nguyên
Khoảng hơn 20 năm trước, nhiều hộ đồng bào Mông từ các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Lai Châu… di cư vào vùng Đắk R’măng lập nghiệp. Cùng với hành trang là khát vọng xây dựng cuộc sống mới, bà con mang theo những phong tục, tập quán và nét văn hóa chợ phiên đặc trưng của vùng cao Tây Bắc. Bởi vậy, cứ mỗi sáng Chủ nhật, không khí chợ phiên Đắk R’măng lại trở nên rộn ràng khi dòng người từ các thôn, bon và vùng lân cận đổ về.
Du khách trải nghiệm mặc trang phục truyền thống của đồng bào Mông tại chợ phiên Đắk R’măng (xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng).
Khu chợ có diện tích trên 7.000m2 với hơn 100 hộ kinh doanh. Trong dãy gian hàng thổ cẩm, chị Lý Thị Mai, người Mông ở xã Tà Đùng luôn tất bật giới thiệu sản phẩm với khách. Gia đình chị chuyển đến vùng đất này từ năm 1998 và bắt đầu bán hàng tại chợ phiên từ năm 2020. Trên sạp hàng là đủ loại trang phục và phụ kiện truyền thống của người Mông như khăn quấn đầu, xà cạp quấn chân, áo, váy, hạt cườm… Phần lớn sản phẩm do chính chị thiết kế, cắt may và thêu thủ công, trong đó có những bộ trang phục thêu tay trị giá hàng triệu đồng.
Theo chị Mai, mỗi đường kim, mũi chỉ đều đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ thể hiện đức tính chịu thương chịu khó của người phụ nữ Mông. "Tôi vừa làm trang phục truyền thống, vừa thiết kế những mẫu cách tân để phù hợp với nhu cầu của khách hàng nhưng vẫn giữ được nét đẹp vốn có của người Mông. Mong muốn lớn nhất là ngày càng có nhiều người biết đến và yêu những bộ trang phục của dân tộc mình", chị Mai chia sẻ.
Các loại nông cụ phục vụ sản xuất được bày bán tại chợ phiên Đắk R’măng (xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng).
Ngoài các mặt hàng nông sản, rau củ, vật dụng sinh hoạt, khu vực ẩm thực luôn là nơi thu hút đông người nhất trong phiên chợ. Giữa tiết trời se lạnh của mùa mưa, khói từ những nồi thắng cố nghi ngút quyện cùng hương thơm của các loại gia vị đặc trưng tạo nên một không gian đậm chất miền núi Tây Bắc. Ở một góc chợ, vài người đàn ông Mông sau khi bán xong mớ nông sản lại quây quần bên chiếc bàn gỗ nhỏ. Trước mặt họ là bát thắng cố còn nghi ngút khói và chén rượu ngô thơm nồng. Họ chậm rãi nâng chén, nói với nhau bằng tiếng Mông, rồi bật cười sảng khoái giữa âm thanh rộn ràng của phiên chợ.
Mèn mén chế biến từ bột ngô là món ăn truyền thống của đồng bào Mông được giới thiệu tại chợ phiên Đắk R’măng (xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng).
Bên những gian hàng, người bán vừa chế biến món ăn vừa niềm nở mời khách thưởng thức. Đã gắn bó với chợ phiên gần 18 năm, anh Ly Seo Chá cho biết điều quan trọng nhất khi nấu thắng cố là phải giữ đúng hương vị truyền thống của người Mông. Từ các loại gia vị đặc trưng đến cách chế biến đều được chuẩn bị kỹ lưỡng để món ăn có vị thơm đậm đà như ở quê nhà. "Nhiều bà con và du khách tìm đến chỉ để ăn một bát thắng cố đúng vị Tây Bắc. Vì vậy, mình luôn cố gắng nấu theo cách truyền thống, không thay đổi để giữ bản sắc ẩm thực văn hóa dân tộc mình", anh Chá chia sẻ.
Bên cạnh món thắng cố, những mẹt mèn mén vàng óng, óc đậu, bánh đúc, xôi nếp, rượu ngô Bắc Hà, các loại gia vị Tây Bắc như mắc khén, hạt dổi... cũng được bà con người Mông bày bán, mang đến hương vị đặc trưng của vùng núi phía Bắc giữa đại ngàn Tây Nguyên. Không chỉ là những món ăn dân dã, đó còn là những nét văn hóa được đồng bào gìn giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ.
Các loại gia vị đặc trưng vùng núi phía Bắc được đồng bào Mông bày bán tại chợ phiên Đắk R’măng (xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng).
Đối với du khách, chợ phiên là cơ hội để trải nghiệm một không gian văn hóa đặc sắc ngay giữa Tây Nguyên. Lần đầu đến chợ, chị Lê Thị Thủy, du khách đến từ thành phố Đồng Nai, không giấu được sự thích thú trước những gian hàng rực rỡ sắc màu thổ cẩm và các món ăn truyền thống của đồng bào Mông. "Tôi rất ấn tượng vì không khí ở đây giống như một phiên chợ vùng cao thu nhỏ. Người dân thân thiện, các món ăn hấp dẫn, còn những bộ trang phục thổ cẩm thì rất đẹp và mang đậm bản sắc văn hóa", chị Thủy chia sẻ.
Với đồng bào Mông, chợ phiên Đắk R’măng không đơn thuần là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa. Sau hơn hai thập niên rời quê hương phía Bắc vào Tây Nguyên lập nghiệp, phiên chợ cuối tuần đã trở thành nơi lưu giữ những nét văn hóa quen thuộc của cộng đồng trên vùng đất mới, nơi bà con gặp gỡ, trò chuyện bằng tiếng Mông, khoác lên mình những bộ trang phục truyền thống và cùng thưởng thức những món ăn mang hương vị quê hương.
Từ phiên chợ cộng đồng đến điểm nhấn du lịch địa phương
Hoạt động mua bán tại tại chợ phiên Đắk R’măng (xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng).
Sau khi sáp nhập từ hai xã Đắk R’Măng và Đắk Som, xã Tà Đùng có 4.397 hộ với 23.944 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Mông có 1.935 hộ với 13.595 nhân khẩu, là địa bàn có cộng đồng người Mông đông nhất tỉnh Lâm Đồng. Bên cạnh việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, đời sống kinh tế của đồng bào nơi đây có nhiều chuyển biến tích cực. Phát huy lợi thế thổ nhưỡng Tây Nguyên, người dân phát triển các cây trồng chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và nhiều loại cây ăn trái. Những năm gần đây, giá cà phê và hồ tiêu duy trì ở mức cao đã giúp nhiều hộ có nguồn thu nhập ổn định, xây dựng nhà ở khang trang, đầu tư máy móc phục vụ sản xuất và tạo điều kiện cho con em học tập. Đời sống kinh tế phát triển góp phần làm cho chợ phiên ngày càng sôi động, trở thành điểm nhấn về văn hóa và kinh tế của khu vực phía Tây Lâm Đồng.
Ông Trần Nam Thuần, Chủ tịch UBND xã Tà Đùng cho biết, thời gian qua địa phương đã đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng khu vực chợ, đồng thời sắp xếp các điểm kinh doanh theo hướng khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân buôn bán. Xã xác định chợ phiên không chỉ là nơi giao thương hàng hóa mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đồng bào Mông. Vì vậy, địa phương đang từng bước gắn hoạt động chợ phiên với phát triển du lịch cộng đồng, kết nối các tour, tuyến trên địa bàn để tăng sức hút. Các giá trị văn hóa truyền thống như nghề dệt thổ cẩm, ẩm thực, trang phục dân tộc và các hoạt động sinh hoạt cộng đồng sẽ tiếp tục được bảo tồn, gìn giữ và phát huy, tạo nền tảng cho phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa địa phương.
Khi mặt trời lên cao, dòng người bắt đầu thưa dần. Những chiếc xe máy lại nối đuôi nhau trở về các thôn, làng mang theo những món hàng vừa mua được cùng những câu chuyện còn dang dở. Phiên chợ kết thúc, nhưng tiếng nói cười, sắc màu thổ cẩm và hơi ấm tình làng nghĩa xóm vẫn như còn đọng lại giữa đại ngàn. Với đồng bào Mông ở Tà Đùng, đó không chỉ là một buổi họp chợ, mà còn là nơi gìn giữ ký ức quê hương và bản sắc văn hóa trên vùng đất mới./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn