Tín dụng chính sách giúp đồng bào Khmer thoát nghèo bền vững

Đồng bào Khmer ở Cà Mau có trên 32.000 hộ với gần 140.000 nhân khẩu, chiếm gần 6,5% dân số. Những năm qua, với sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực vươn lên, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào không ngừng được cải thiện. Đặc biệt, việc hỗ trợ sinh kế thông qua nguồn vốn tín dụng chính sách đã mang lại cho nhiều gia đình Khmer cơ hội thoát nghèo.

tin-dung-1.jpg
Ngân hàng chính sách xã hội Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi giúp đồng bào Khemr phát triển kinh tế, thoát nghèo. Ảnh: TTXVN phát

Sử dụng vốn hiệu quả

Những ngày này, gia đình anh Sơn Seng (khóm Giồng Giữa A, phường Hiệp Thành) đang tất bật chăm sóc vụ hành sắp bước vào thu hoạch. Công việc tuy vất vả nhưng ai nấy đều rất vui vì trúng mùa lại được giá. Ba năm trước, anh Seng thuộc diện hộ nghèo, có đất sản xuất nhưng thiếu vốn. Được Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Bạc Liêu cũ cho vay 15 triệu đồng từ nguồn vốn tín dụng chính sách, anh Seng cải tạo đất rẫy trồng hành và ớt. Sản xuất hiệu quả, anh Seng trả nợ vay đúng hạn. Sau lần vay đầu tiên, gia đình anh Seng lần lượt được vay thêm nhiều lần với số tiền vay sau cao hơn trước.

Bệ đỡ từ nguồn vốn chính sách xã hội không chỉ giúp gia đình anh Seng sản xuất hiệu quả, thoát được nghèo, mà còn có vốn tích lũy đầu tư máy móc, cơ giới hóa trong sản xuất. Anh Seng cũng được tín nhiệm làm Tổ trưởng Tổ vay vốn, với trên 50 tổ viên là đồng bào dân tộc Khmer của khóm. Các thành viên trong tổ đều sản xuất hiệu quả, thoát nghèo vươn lên trong cuộc sống.

Không riêng gì anh Seng, nhiều hộ gia đình đồng bào Khmer khác cũng thoát nghèo từ vốn vay tín dụng chính sách. Ông Lý Tỷ (khóm Biển Đông A, phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau) cho biết, năm 2020, ông được Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Bạc Liêu cũ hỗ trợ cho vay 60 triệu đồng để phát triển sản xuất. Từ nguồn vốn này, ông đầu tư cải tạo 3 công đất để trồng trên 100 gốc nhãn. Sau hai năm, nhãn cho trái, gia đình ông thu hoạch mỗi năm hai vụ, trừ chi phí, lợi nhuận thu về hơn 50 triệu đồng/năm. Bên cạnh cây nhãn, ông Tỷ còn trồng rau màu, trung bình mỗi ngày gia đình có thu nhập từ 200.000 - 300.000 đồng. Lợi nhuận từ trồng nhãn và rau màu hằng năm trên 100 triệu đồng, không chỉ giúp cho gia đình ông Tỷ thoát nghèo mà còn có vốn tích lũy mua sắm các vật dụng phục vụ sinh hoạt gia đình.

“Nguồn vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội không chỉ mang lại cơ hội thoát nghèo, phát triển kinh tế cho gia đình tôi, mà còn nhiều hộ gia đình Khmer khác trong khóm. Được tiếp cận nguồn vốn này, người dân không phải vay bên ngoài với lãi suất cao”, ông Lý Tỷ chia sẻ.

Ngân hàng chính sách xã hội Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) tổ chức ký kết hợp đồng ủy thác cho vay với các tổ chức chính trị xã hội. Ảnh: TTXVN phát

Ngân hàng chính sách xã hội Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) tổ chức ký kết hợp đồng ủy thác cho vay với các tổ chức chính trị xã hội. Ảnh: TTXVN phát

Ông Dương Quốc Khải, Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) cho biết, những năm qua, việc hỗ trợ người dân, đặc biệt là hộ đồng bào dân tộc Khmer tiếp cận vốn vay ưu đãi được đơn vị triển khai kịp thời. Các chương trình vay vốn đều được ủy thác thông qua tổ chức hội, đoàn thể, các tổ tiết kiệm. Hiện, Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Bạc Liêu quản lý trên 10 nghìn hộ gia đình, trong đó có trên 3 nghìn hộ người Khmer.

Đánh giá về hiệu quả nguồn vốn vay ưu đãi chính sách xã hội trong đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn, ông Dương Quốc Khải cho rằng: “Nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Đặc biệt, nguồn vốn vay ưu đãi đã giúp người dân nói chung, đồng bào dân tộc Khmer nói riêng có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Nhờ được vay vốn với lãi suất ưu đãi, nhiều gia đình có tiền đầu tư mua sắm cây trồng, vật nuôi cùng như các công cụ, vật tư phục vụ sản xuất” .

Tại Hưng Hội, xã có đông đồng bào dân tộc Khmer nhất của tỉnh Cà Mau, ông Nguyễn Hoàng Em, Phó Chủ tịch UBND xã chia sẻ, để giúp đồng bào dân tộc Khmer có điều kiện phát triển kinh tế gia đình, Đảng ủy, UBND xã chủ động chỉ đạo các đoàn thể chính trị, xã hội của xã xây dựng kế hoạch, triển khai đưa nguồn vốn vay ưu đãi đến với các hộ thuộc diện được thụ hưởng để thực hiện tốt công tác giảm nghèo.

Vận dụng chính sách hiệu quả

Từ nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội, nhiều hộ gia đình Khmer của phường hiệp Thành (tỉnh Cà Mau) có điều kiện đầu tư phát triển mô hình trồng cây ăn quả, nâng cao thu nhập. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Từ nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội, nhiều hộ gia đình Khmer của phường hiệp Thành (tỉnh Cà Mau) có điều kiện đầu tư phát triển mô hình trồng cây ăn quả, nâng cao thu nhập. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Theo ông Nguyễn Hoàng Em, để phát huy hiệu quả nguồn vốn vay, các hội, đoàn thể thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn những hộ vay vốn sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, hiệu quả. Nguồn vốn vay tín dụng chính sách xã hội đã giúp nhiều hộ dân ở Hưng Hội thoát nghèo. Nếu như trước đây, Hưng Hội có tỷ lệ hộ nghèo khá cao thì nay đã giảm xuống chỉ còn 1%. Nhiều hộ vươn lên mức sống trung bình, khá. Nhiều hộ có thu nhập cả tỷ đồng mỗi năm.

Ông Lương Văn Pho, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cà Mau cho biết, những năm qua, cùng với các chương trình an sinh xã hội, nguồn vốn tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội đã trở thành "điểm tựa" quan trọng giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo, nhất là các hộ trong vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình, nâng cao đời sống và từng bước thoát nghèo bền vững. Hiện nay, hộ nghèo trong đồng bào Khmer tại Cà Mau đã giảm xuống còn gần 2,3% tổng số hộ người Khmer tại tỉnh. Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi từ những hộ Khmer nghèo ở Cà Mau là minh chứng cho thấy vai trò quan trọng của tín dụng chính sách đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn 2026 – 2030, tỉnh Cà Mau phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer xuống còn dưới 1 %, vùng đồng bào dân tộc thiểu số không còn địa bàn đặc biệt khó khăn.

Chăn nuôi lợn là một trong những mô hình giúp nhiều hộ gia đình người Khmer giảm nghèo, phát triển kinh tế. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Chăn nuôi lợn là một trong những mô hình giúp nhiều hộ gia đình người Khmer giảm nghèo, phát triển kinh tế. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Để thực hiện mục tiêu này, Sở Dân tộc và Tôn giáo sẽ tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo rà soát, triển khai áp dụng thực hiện các cơ chế chính sách theo quy định và văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh.

Cùng với đó, Sở phối hợp các cấp, ngành đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, đồng bào dân tộc Khmer về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác giảm nghèo; quan tâm hơn nữa tới phát triển giáo dục, nâng cao dân trí; nâng cao thể chất lực lượng lao động; đào tạo nghề, việc làm, hỗ trợ sinh kế cho người nghèo vùng dân tộc Khmer. Đặc biệt, Sở phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 30/10/2024 của Ban Bí thư về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách trong giai đoạn mới. Theo đó, các đơn vị tiếp tục rà soát, thẩm định các hộ đủ điều kiện vay vốn theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP của Chính phủ, kịp thời giải ngân các nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất.

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội có vai trò hết sức quan trọng, góp phần giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác có có vốn làm ăn, có việc làm, vươn lên thoát nghèo, phát triển kinh tế gia đình./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Khám sàng lọc bệnh tim miễn phí cho trẻ em vùng cao

Khám sàng lọc bệnh tim miễn phí cho trẻ em vùng cao

Sáng 10/5, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh Điện Biên phối hợp với Bệnh viện Tim Hà Nội cùng các đơn vị liên quan tổ chức khám sàng lọc bệnh tim mạch miễn phí cho trẻ em ở tỉnh.

Quỹ Hỗ trợ nông dân - Điểm tựa giúp hội viên phát triển kinh tế bền vững

Quỹ Hỗ trợ nông dân - Điểm tựa giúp hội viên phát triển kinh tế bền vững

Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp còn nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, giá vật tư tăng cao và đầu ra nông sản thiếu ổn định, nguồn vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân đang trở thành “đòn bẩy” quan trọng giúp nhiều hội viên nông dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mạnh dạn đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và từng bước vươn lên làm giàu bền vững.

Lan tỏa hàng Việt trên 'chợ số'

Lan tỏa hàng Việt trên 'chợ số'

Đưa hàng Việt lên "chợ số" (thương mại điện tử) là chiến lược trọng tâm, kết hợp livestream, ứng dụng số và hỗ trợ của Chính phủ để nâng cao sức cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng và coi các nền tảng “chợ số” là xu hướng thời đại để lan tỏa hàng Việt.

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

Trong bối cảnh thu hút đầu tư ngoài ngân sách được xác định là động lực tăng trưởng, tỉnh Điện Biên tập trung tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính. Cơ chế “Luồng xanh” được triển khai nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục, góp phần cải thiện môi trường đầu tư.

Đẩy nhanh tiến độ thi công các trường học vùng biên

Đẩy nhanh tiến độ thi công các trường học vùng biên

Tỉnh Cao Bằng đang khẩn trương xây dựng 11 trường học tại các xã biên giới với quyết tâm hoàn thành trong năm 2026. Những công trình giáo dục này được kỳ vọng mở ra cơ hội học tập tốt hơn cho học sinh vùng cao, tạo nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và góp phần giữ vững thế trận quốc phòng - an ninh nơi phên dậu Tổ quốc.

80 năm công tác dân tộc: Hành trình kiến tạo niềm tin và khơi dậy sức mạnh nội sinh

80 năm công tác dân tộc: Hành trình kiến tạo niềm tin và khơi dậy sức mạnh nội sinh

Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58/SL thành lập Nha Dân tộc thiểu số - cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên về công tác dân tộc. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngay từ những ngày đầu lập nước. Trải qua 80 năm hình thành, phát triển, công tác dân tộc không ngừng được hoàn thiện cả về tư duy và thể chế, trở thành một trong những trụ cột quan trọng góp phần bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy phát triển bền vững đất nước.

Phú Thọ: Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển năng động hơn

Phú Thọ: Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển năng động hơn

Tỉnh Phú Thọ đã chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh kinh tế chuyển dịch mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Kết quả từ đầu năm 2026 đến nay cho thấy đây không chỉ là xu hướng tất yếu mà đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xã hội của địa phương.

Ngày đêm xây dựng trường nơi phên giậu Tổ quốc

Ngày đêm xây dựng trường nơi phên giậu Tổ quốc

Những ngày tháng tư, tại các xã biên giới Phiêng Khoài, Xuân Nha, Lóng Sập của tỉnh Sơn La, những công trường xây dựng các Trường nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở đang ngày đêm vang vọng tiếng máy xúc, tiếng đổ bê tông, tiếng hàn cắt thép… Các đơn vị thi công đang chạy đua với thời gian, quyết tâm về đích trong chiến dịch 100 ngày đêm xây dựng 13 điểm trường khu vực biên giới của tỉnh.

7 dự án trường nội trú biên giới ở Gia Lai gặp khó do thiếu nguồn lao động

7 dự án trường nội trú biên giới ở Gia Lai gặp khó do thiếu nguồn lao động

Mặc dù đã hoàn thiện thiết kế bản vẽ, đầy đủ mặt bằng thi công nhưng 7 dự án trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới của tỉnh Gia Lai lại chưa đảm bảo tiến độ đề ra. Nguyên nhân là do các dự án này đều nằm xa trung tâm, điều kiện sinh hoạt khó khăn nên rất khó thu hút nguồn lao động, nhất là lao động có tay nghề - yếu tố quyết định tiến độ các công trình vùng biên.

Giúp người dân biên giới giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh

Giúp người dân biên giới giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh

Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về "một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân", ngành Y tế tỉnh Cao Bằng đã cụ thể hóa, triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; đặc biệt là công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới.

Sau hơn hơn 1 năm, quyết định hỗ trợ hợp tác xã ở Quảng Ngãi vẫn chưa thể triển khai

Sau hơn hơn 1 năm, quyết định hỗ trợ hợp tác xã ở Quảng Ngãi vẫn chưa thể triển khai

Thực hiện Nghị quyết 106/NQ-CP của Chính phủ về phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định 641/QĐ-UBND ngày 30/9/2024 về phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ các hợp tác xã tham gia xây dựng mô hình hợp tác xã nông nghiệp phát triển bền vững, phù hợp với vùng miền, địa phương năm 2025. Tuy nhiên, đến nay, sau hơn 1 năm Quyết định được ban hành, nguồn lực hỗ trợ các hợp tác xã của tỉnh vẫn chưa được thực hiện.

Dấu ấn tổ công nghệ số cộng đồng trong chuyển đổi số quốc gia

Dấu ấn tổ công nghệ số cộng đồng trong chuyển đổi số quốc gia

Đối với người dân tại các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và người dân lớn tuổi, việc sử dụng thiết bị điện tử như điện thoại thông minh hay máy tính để nộp hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến gặp không ít khó khăn.

Tăng cường quản lý bảo vệ rừng giáp ranh giữa Đắk Lắk với Gia Lai

Tăng cường quản lý bảo vệ rừng giáp ranh giữa Đắk Lắk với Gia Lai

Liên quan đến tình trạng vi phạm Luật Lâm nghiệp mà báo chí phản ánh tại khu vực rừng giáp ranh giữa tỉnh Đắk Lắk với Gia Lai, ngày 23/4, ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk cho biết, đơn vị đã chỉ đạo các lực lượng trực thuộc tăng cường công tác kiểm tra, xác minh, xử lý tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật tại khu vực giáp ranh.

Điện Biên tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Điện Biên tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Việc tinh gọn bộ máy tại Điện Biên đã giúp giảm đầu mối, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo chuyển biến rõ nét trong phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương tiếp tục cải cách hành chính, hướng tới phát triển bền vững.

Đổi mới tuyên truyền, nâng cao ý thức, kéo giảm tai nạn giao thông

Đổi mới tuyên truyền, nâng cao ý thức, kéo giảm tai nạn giao thông

Thời gian qua, Công an tỉnh Tây Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm kiềm chế, kéo giảm tai nạn giao thông, trong đó nổi bật là các mô hình tuyên truyền trực quan, tác động trực tiếp đến nhận thức của người tham gia giao thông. Từ khu vực trung tâm đến vùng sâu, vùng biên giới, các cách làm mới, linh hoạt đang từng bước phát huy hiệu quả, góp phần hình thành văn hóa giao thông an toàn trong cộng đồng.

Gia Lai yêu cầu xác minh, xử lý vụ khai thác lâm sản trái phép vùng giáp ranh

Gia Lai yêu cầu xác minh, xử lý vụ khai thác lâm sản trái phép vùng giáp ranh

Trước diễn biến phức tạp về tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép khu vực giáp ranh, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai đã ban hành văn bản số 3968/SNNMT-KL yêu cầu xác minh, xử lý tình trạng khai thác, tập kết, vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra tại lâm phần Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Phú Nhơn và khu vực giáp ranh với tỉnh Đắk Lắk.

Nghệ An: Chung tay hỗ trợ 16 hộ dân về khu tái định cư tập trung

Nghệ An: Chung tay hỗ trợ 16 hộ dân về khu tái định cư tập trung

Trong 2 ngày 19 và 20/4, cấp ủy, chính quyền xã Nhôn Mai (tỉnh Nghệ An) đã huy động đông đảo cán bộ, công chức xã cùng lực lượng Biên phòng, Công an, Ban Chỉ huy quân sự xã; đoàn viên thanh niên và người dân tổ chức hỗ trợ tháo dỡ nhà, khiêng vác, vận chuyển đồ đạc và khung nhà ở cho 16 hộ dân bị trôi mất nhà cửa do thiên tai, phải di dời khẩn cấp từ bản Phá Mựt (cũ) đến Khu tái định cư tập trung Phá Mựt (bản Na Hỷ) - cách xa bản cũ khoảng gần 1,5 km.

Xã không ma túy - điểm sáng nơi vùng cao

Xã không ma túy - điểm sáng nơi vùng cao

Thời gian qua, các địa phương trong tỉnh Lào Cai tập trung triển khai nhiều giải pháp về xây dựng xã, phường không ma túy. Đến nay, với những cách làm linh hoạt, hiệu quả, nhiều địa phương đạt kết quả cao trong công tác này.

Ngăn ngừa buôn lậu tại điểm nóng Lao Bảo

Ngăn ngừa buôn lậu tại điểm nóng Lao Bảo

Xuất phát từ việc nhiều mặt hàng chính như đường kính, thuốc lá, gia súc, gia cầm và xăng dầu có tỷ giá chênh lệch cao, tình hình vận chuyển, buôn lậu trái phép hàng hóa qua biên giới Việt Nam - Lào đang có chiều hướng gia tăng trở lại, trọng điểm là xã Lao Bảo (Quảng Trị), tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.