Ứng dụng khoa học công nghệ trong điều trị bệnh phổi

Các bệnh về phổi là một trong những bệnh lý phổ biến nhất trên thế giới. Ảnh : vinmec.com
Các bệnh về phổi là một trong những bệnh lý phổ biến nhất trên thế giới. Ảnh : vinmec.com

Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến bệnh phổi như: Bệnh bụi phổi silic, bệnh phổi nghẽn mạn tính... đã có nhưng chủ yếu mới là các nghiên cứu lâm sàng mà rất ít các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ, nhất là về dịch tễ học phân tử, ứng dụng kỹ thuật cao để phát hiện và điều trị bệnh. Vì vậy, các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ bệnh bụi phổi silic sẽ giúp hình thành một chiến lược trong việc chẩn đoán sớm cũng như tư vấn cho người lao động, đặc biệt là người lao động tại các khu công nghiệp mang các biến thể gen TNF-α (gen hoại tử u) có thể tăng khả năng mắc bệnh bụi phổi silic. Những nghiên cứu này góp phần tư vấn đề những người có khả năng mắc bệnh cao sẽ lựa chọn được nghề nghiệp và có các biện pháp bảo hộ lao động thích hợp.

Ứng dụng khoa học công nghệ trong điều trị bệnh phổi ảnh 1Các bệnh về phổi là một trong những bệnh lý phổ biến nhất trên thế giới. Ảnh: vinmec.com

Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong chuẩn đoán sớm bệnh bụi phổi silic

Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường Y tế, bệnh bụi phổi silic vẫn đang là gánh nặng bệnh tật của Việt Nam. Số người mắc và tử vong do bệnh bụi phổi silic trên thực tế cao hơn so với số liệu báo cáo và được giám định hàng năm. Đến nay, vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu bệnh này nhưng bệnh có thể dự phòng sớm nên việc dự phòng và chẩn đoán sớm bệnh bụi phổi silic vô cùng quan trọng trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người lao động.

Bụi phổi silic là bệnh xơ hóa phổi tiến triển không hồi phục, bệnh gây ra bởi hít phải các tinh thể bụi silic tự do hoặc silic dioxite (SiO2) trong môi trường làm việc. Bệnh vẫn tiếp tục tiến triển ngay cả khi người lao động không còn phơi nhiễm với bụi silic. Phơi nhiễm với bụi silic có thể xảy ra ở nhiều ngành nghề khác nhau như người lao động phơi nhiễm với thạch anh, cát, granit (có chứa 60% silic), bụi đá, bụi xi măng...

Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử, yếu tố nguy cơ và ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán sớm bệnh bụi phổi silic tại Việt Nam”, thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng (KC.10/16-20) được nhóm nghiên cứu Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng (Trường Đại học Y Hà Nội), Cục Quản lý môi trường Y tế (Bộ Y tế) và Bệnh viện phổi Trung ương phối hợp triển khai đã đưa ra phương pháp chẩn đoán sớm bệnh bụi phổi silic.

Đề tài do Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Hương, Viện trưởng Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng làm chủ nhiệm cùng các cộng sự thực hiện, nghiên cứu trên cơ sở ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến vào nghiên cứu nhóm đối tượng gồm hơn 8.000 người lao động tại các cơ sở sản xuất trên các vùng miền cả nước có tiếp xúc trực tiếp với bụi silic, đồng thời ứng dụng một số kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán sớm bệnh bụi phổi silic.

Nhóm nghiên cứu đã ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử để xác định đặc điểm dịch tễ học phân tử và các yếu tố nguy cơ nội sinh của bệnh bụi phổi silic; xác định tỉ lệ mắc bệnh bụi phổi silic và phân tích một số yếu tố liên quan, nồng độ protein TNF-α trong máu, giải trình tự gen thế hệ mới… Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến gồm chụp X-quang kỹ thuật số theo ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế), đo tổng dung tích phổi (TLC), đo khả năng khuếch tán khí CO qua màng phế nang mao mạch (DLCO) để chẩn đoán sớm bệnh bụi phổi silic, khi bệnh nhân chưa có dấu hiệu lâm sàng. Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi silic tại các tỉnh được nghiên cứu là 12%, nhóm ngành luyện kim chiếm cao nhất (14,9%), ngành khai thác, chế biến quặng/đá (14,4%), ngành sản xuất gốm, sứ thủy tinh (13,3%). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, có mối liên quan mang tính thống kê giữa giới tính, nhóm tuổi đời, tuổi nghề, tiền sử hút thuốc, thời gian tiếp xúc với bụi silic, đeo khẩu trang với tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi silic... Thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu đã làm chủ được quy trình ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán sớm bệnh bụi phổi silic và sẵn sàng chuyển giao để góp phần nâng cao sức khỏe người dân.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Công Khẩn, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao kết quả và nhấn mạnh, kết quả nghiên cứu đề tài không chỉ là những bằng chứng khoa học trong đào tạo, nghiên cứu tại Trường Đại học Y Hà Nội mà còn tốt cho công tác dự phòng sớm tại cộng đồng, cung cấp các bằng chứng khoa học cho các nhà quản lý đưa ra quyết định nhằm dự phòng và điều trị sớm bệnh bụi phổi silic cho người lao động tại Việt Nam. Đồng thời, giúp Bộ Y tế xem xét lại tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh bụi phổi silic (về thời gian tiếp xúc tối thiểu), xây dựng các hướng dẫn xét nghiệm TNF-α máu trong khám tuyển dụng hoặc bố trí việc làm cho người lao động làm việc trong các ngành nghề có nguy cơ mắc bệnh như: luyện kim, khai thác quặng/đá). Đặc biệt là gợi ý những hướng nghiên cứu tiếp theo để tiếp tục phát hiện sớm bệnh bụi phổi silic, giúp người lao động khoẻ mạnh, tăng năng suất lao động.

Ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh phổ biến, bệnh diễn biến mạn tính, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn, thường tiến triển nặng dần liên quan đến đáp ứng viêm mạn tính quá mức ở đường hô hấp và nhu mô phổi với các hạt bụi, khí độc hại. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường tiến triển với các đợt cấp và nặng dần theo thời gian dù được điều trị phối hợp các biện pháp.

Đề tài nghiên cứu "Ứng dụng tế bào gốc trung mô đồng loài trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” do Học viện Quân y chủ trì, phối hợp với Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh thực hiện vừa được Hội đồng Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá nghiệm thu cấp Nhà nước giữa tháng 6/2021 đã mở ra hướng điều trị mới, mang lại giá trị và niềm tin cho người bệnh và xã hội. Đây là một trong những đề tài đầu tiên ứng dụng tế bào gốc để cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Tế bào gốc là các tế bào chưa có chức năng chuyên biệt, có tiềm năng phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau và có khả năng tự thay mới. Tế bào gốc và tế bào gốc trung mô đã được chứng minh có khả năng kháng viêm, điều biến miễn dịch và tái tạo. Nhờ đặc tính điều biến miễn dịch độc đáo, tế bào gốc trung mô trở thành loại tế bào có giá trị trong điều trị và chữa tổn thương mô hoặc trong điều trị các bệnh viêm mạn tính, bệnh tự miễn. Nhờ những đặc tính ưu việt của tế bào gốc, tế bào gốc tự thân và tế bào gốc đồng loài trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang được nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng trên thế giới, bước đầu mang lại một số kết quả khả quan và hy vọng cho bệnh nhân. Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài, các nhà khoa học tại Học viện Quân y đã làm chủ được những kỹ thuật điều trị mới, hiện đại về phân lập nuôi cấy tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Trong các nguồn cung cấp tế bào gốc, dây rốn là một nguồn cung cấp tế bào gốc trung mô có nhiều tiềm năng ứng dụng. Tế bào gốc trung mô từ dây rốn có quy trình thu thập đơn giản, dễ thu nhận, có nhiều loại tế bào gốc và số lượng nhiều và có nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với các tế bào gốc trung mô thu nhận từ một số nguồn khác. Từ đó, sử dụng tế bào gốc trung mô dây rốn đồng loài điều trị các bệnh có cơ chế viêm như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một lựa chọn có tính khoa học, nhằm vào can thiệp cơ chế bệnh sinh của bệnh.

Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Gia Khánh, Chủ nhiệm Chương trình KC.10/16-20 nhấn mạnh: Mục tiêu điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là làm giảm triệu chứng, giảm sự tiến triển của bệnh, giảm đợt cấp, tăng khả năng hoạt động thể lực, chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân và làm giảm khả năng tử vong. Một số biện pháp can thiệp đã được áp dụng điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính như phẫu thuật giảm thể tích phổi, nội soi giảm thể tích phổi, ghép phổi… Các phương pháp điều trị hiện nay gồm cả biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc vẫn chưa đáp ứng được mong muốn quan trọng của người bệnh là cải thiện chất lượng cuộc sống bằng cách tăng khả năng gắng sức và giảm số lần nhập viện vì đợt cấp. Do đó, theo nhóm nghiên cứu, với cơ chế sinh bệnh có liên quan đến quá trình viêm và hoạt động quá mức của hệ miễn dịch, rất cần một phương thức điều trị hợp lý, đi đúng cơ chế miễn dịch của bệnh.

Xuất phát từ những vấn đề của thực tiễn, nhóm nghiên cứu triển khai đề tài với mục tiêu xây dựng được qui trình ứng dụng tế bào gốc trung mô đồng loài trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Đồng thời đánh giá tính an toàn và hiệu quả của ghép tế bào gốc trung mô đồng loài trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Nhóm nghiên cứu đã xây dựng được qui trình ứng dụng tế bào gốc trung mô đồng loài trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đồng thời đánh giá tính an toàn và hiệu quả của ghép tế bào gốc trung mô đồng loài trong điều trị. Kết quả cho thấy, liệu pháp ghép tế bào gốc trung mô đồng loài an toàn không có sốc phản vệ, tử vong ngay sau ghép, 24 giờ, 1 tuần và 1 tháng sau ghép. Phương pháp này có hiệu quả điều trị qua 6 tháng và 12 tháng theo dõi điều trị. Những kết quả đạt được của đề tài đã bổ sung minh chứng khoa học về khả năng sử dụng tế bào gốc trong lĩnh vực tái tạo/tái sinh các tế bào và mô bị tổn thương, góp phần phát triển lĩnh vực y học tái tạo/tái sinh đang được chú ý mạnh mẽ và là một trong các xu hướng mới của y học. Đồng thời khẳng định, các nhà khoa học đã làm chủ được những kỹ thuật điều trị mới, hiện đại về phân lập nuôi cấy tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn, các kỹ thuật trong ghép tế bào gốc, đánh giá hiệu quả của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được điều trị bằng ghép tế bào gốc trung mô đồng loài từ mô dây rốn. Đây là một trong những đề tài đầu tiên dùng tế bào gốc để cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và mở ra một hướng mới trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nói riêng và các bệnh khác nói chung bằng tế bào gốc trung mô đồng loài từ mô dây rốn, mang lại giá trị và niềm tin cho bệnh nhân cũng như xã hội.

HL

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Nhận diện điểm nghẽn giải ngân vốn đầu tư công cấp xã

Nhận diện điểm nghẽn giải ngân vốn đầu tư công cấp xã

Do còn nhiều hạn chế, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh Phú Thọ còn chậm, chưa tương xứng với nguồn lực được giao, nhất là tại cấp xã. Trước thực trạng này, UBND tỉnh Phú Thọ đang chỉ đạo quyết liệt nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn vốn, phấn đấu hoàn thành mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công cấp xã trên 95% kế hoạch trong năm 2026.

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Tại chương trình “Trải nghiệm Vô Tranh - Dấu ấn xứ Trà, hành trình một năm kiến tạo vươn tầm và phát triển”, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên đã giới thiệu tiềm năng, lợi thế trong phát triển kinh tế nông nghiệp, văn hóa trà và du lịch cộng đồng. Sự kiện là dịp quảng bá hình ảnh vùng chè Vô Tranh, đồng thời mở ra hướng đi mới trong khai thác giá trị cây chè gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xanh.

Hơn 15.700 học sinh vùng khó khăn được hỗ trợ dinh dưỡng

Hơn 15.700 học sinh vùng khó khăn được hỗ trợ dinh dưỡng

Hơn 15.700 học sinh tiểu học tại các địa bàn khó khăn của 4 tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Trị, Đắk Lắk và Lai Châu đã được hỗ trợ trên 948.000 hộp sữa đậu nành. Đây là kết quả được công bố tại Hội nghị tổng kết Chương trình "Sữa đậu nành học đường" năm học 2025-2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Quỹ Khuyến học Sữa đậu nành Việt Nam và Công ty Sữa đậu nành Việt Nam Vinasoy tổ chức ngày 3/7 tại Hà Nội.

Thu hẹp khoảng cách số cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Thu hẹp khoảng cách số cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Trong tiến trình chuyển đổi số, phụ nữ Tuyên Quang đang từng bước thay đổi tư duy, tích cực học tập, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và đời sống. Từ những lớp tập huấn kỹ năng số đến hoạt động kinh doanh trên nền tảng số, nhiều hội viên phụ nữ đã làm chủ công nghệ, góp phần phát triển kinh tế gia đình và thúc đẩy chuyển đổi số ở cơ sở.

Phụ nữ Tuyên Quang tích cực học tập nâng cao kỹ năng số

Phụ nữ Tuyên Quang tích cực học tập nâng cao kỹ năng số

Chuyển đổi số đang hiện diện trong mọi mặt của đời sống, từ đô thị đến vùng sâu, vùng xa. Tại Tuyên Quang, nhiều hội viên phụ nữ đang chủ động học tập, nâng cao kỹ năng số để ứng dụng công nghệ vào lao động, sản xuất, kinh doanh và cuộc sống hằng ngày.

Lan tỏa hoạt động tình nguyện thiết thực trong mùa hè

Lan tỏa hoạt động tình nguyện thiết thực trong mùa hè

Những ngày này, không khí Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2026 đang diễn ra sôi nổi tại nhiều địa phương ở Đắk Lắk. Với chủ đề “Đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn”, tuổi trẻ toàn tỉnh đang triển khai nhiều mô hình thiết thực, hướng mạnh về cơ sở, góp phần cùng địa phương thực hiện chuyển đổi số và chăm lo đời sống nhân dân.

Đà Nẵng: Rình rập nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh

Đà Nẵng: Rình rập nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh

Mặc dù đang mùa hè nhưng nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh (thành phố Đà Nẵng) luôn rình rập, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhất là vào thời điểm xuất hiện những cơn mưa rừng nặng hạt. Vị trí có nguy cơ sạt lở cao thường ở những khu vực đã từng xảy ra sạt lở trong mùa mưa năm 2025.

Điện Biên nỗ lực trong phòng chống nạn tảo hôn

Điện Biên nỗ lực trong phòng chống nạn tảo hôn

Tảo hôn vẫn là một trong những vấn đề nhức nhối tại nhiều địa bàn vùng cao của tỉnh Điện Biên. Hệ lụy này không chỉ kéo theo đói nghèo, thất nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tương lai của trẻ em và chất lượng dân số.

Lào Cai: Sẽ giảm tối thiểu 50% thời gian và chi phí giải quyết thủ tục hành chính

Lào Cai: Sẽ giảm tối thiểu 50% thời gian và chi phí giải quyết thủ tục hành chính

Năm 2026, Lào Cai đặt mục tiêu cắt giảm tối thiểu 50% thời gian và chi phí giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp. Với quyết tâm ấy, Lào Cai đang từng bước được hiện thực hóa bằng những hành động cụ thể sau khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.

Chăm lo hiệu quả cho người dân vùng biên giới

Chăm lo hiệu quả cho người dân vùng biên giới

Ngày 1/7, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai tổ chức tổng kết mô hình “Địa phương, đơn vị phía sau hỗ trợ địa phương, đơn vị phía trước” và Đề án “Xây dựng Điểm dân cư liền kề Chốt dân quân biên giới” trên địa bàn thành phố Đồng Nai giai đoạn 2019 - 2025.

Phát triển bền vững kinh tế vùng biên

Phát triển bền vững kinh tế vùng biên

Phát triển kinh tế vùng biên không chỉ là bài toán ổn định dân cư mà còn là chiến lược mở rộng không gian phát triển của thành phố Đồng Nai. Sở hữu tuyến biên giới dài khoảng 259 km giáp Campuchia cùng hệ thống cửa khẩu, lối mở sôi động, địa phương này đang dồn lực đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông kết nối và nâng cấp khu kinh tế cửa khẩu. Bằng việc kiên quyết xử lý các dự án kém hiệu quả và thúc đẩy thương mại – dịch vụ vùng biên, Đồng Nai đang từng bước giảm dần sự phụ thuộc thuần túy vào nông nghiệp, tạo đòn bẩy vững chắc cho sự phát triển toàn diện của 8 xã biên giới.

Ngăn bệnh sốt xuất huyết lan rộng trong mùa mưa

Ngăn bệnh sốt xuất huyết lan rộng trong mùa mưa

Đắk Lắk đang bước vào mùa mưa, thời tiết nắng nóng xen kẽ những cơn mưa lớn tạo điều kiện thuận lợi để muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết sinh sôi, phát triển. Trước nguy cơ dịch bệnh lan rộng, ngành Y tế đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khống chế ổ dịch, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Tăng tốc để 'về đích' trường liên cấp biên giới

Tăng tốc để 'về đích' trường liên cấp biên giới

Đến cuối tháng 6/2026, 4 trường học liên cấp biên giới được khởi công từ cuối năm 2025 tại các xã Rờ Kơi, Mô Rai, Dục Nông và Sa Loong (tỉnh Quảng Ngãi) đã đạt tiến độ thi công từ 52 - 83%. Trong đó, Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở xã Mô Rai có tiến độ thi công thấp nhất khi mới đạt 52%. Trước tình hình đó, Ban Quản lý dự án đầu tư Tây Quảng Ngãi đang khẩn trương yêu cầu đơn vị thi công tăng tốc để sớm đưa các dự án vào hoạt động theo đúng tiến độ đã đề ra là trước ngày 30/8.

Người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai mong sớm được tái định cư, ổn định cuộc sống

Người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai mong sớm được tái định cư, ổn định cuộc sống

Gần một năm sau trận lũ quét, sạt lở đất xảy ra đêm 31/7 và rạng sáng 1/8/2025, đến nay 21 hộ dân ở bản Bắng Chộc, xã Na Son (tỉnh Điện Biên) vẫn chưa được bố trí nơi ở mới. Trong khi mùa mưa lũ đang cận kề, người dân vẫn phải sống trong cảnh tạm bợ, đối mặt với nguy cơ sạt lở, ảnh hưởng đến tài sản, tính mạng.

'Cột mốc sống' nơi biên cương

'Cột mốc sống' nơi biên cương

Với đường biên giới dài hơn 265km cùng những dãy núi hùng vĩ, trùng điệp, thế trận lòng dân ở miền biên viễn Lai Châu đang được bồi đắp mỗi ngày. Sát cánh cùng lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh là đội ngũ già làng, trưởng bản và những người có uy tín. Họ là những “cột mốc sống” ngày đêm thầm lặng, gìn giữ từng tấc đất đường biên, mốc giới chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Tiếp thêm động lực để các gia đình chính sách ổn định cuộc sống

Tiếp thêm động lực để các gia đình chính sách ổn định cuộc sống

Thực hiện chủ trương của Chính phủ về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, tỉnh Gia Lai đang tập trung nhân lực, vật lực khẩn trương đẩy nhanh xây dựng các công trình. Sự chung tay của lực lượng vũ trang đang trực tiếp góp phần đẩy nhanh tiến độ và tiếp thêm động lực để các gia đình chính sách ổn định cuộc sống.

Khai mở tiềm năng, đưa Lai Châu phát triển nhanh, xanh, bền vững

Khai mở tiềm năng, đưa Lai Châu phát triển nhanh, xanh, bền vững

Lai Châu là miền đất hội tụ những giá trị khác biệt về vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên, bản sắc văn hóa và khát vọng phát triển. Với quy hoạch đồng bộ, hạ tầng từng bước hoàn thiện cùng quyết tâm cải thiện môi trường đầu tư, Lai Châu đang mở ra cơ hội mới cho các nhà đầu tư trong hành trình phát triển bền vững.

Đột phá về hành chính công ở vùng miền núi khó khăn

Đột phá về hành chính công ở vùng miền núi khó khăn

Sau một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nền hành chính công tỉnh Cao Bằng đã góp phần giúp chính quyền gần dân, sát dân, phục vụ dân và phát triển kinh tế-xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

Chính quyền số về với bản làng nơi biên giới

Chính quyền số về với bản làng nơi biên giới

Sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều xã biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số của thành phố Đồng Nai đã có những chuyển biến mang tính bước ngoặt.

Mưa lớn gây lũ quét và sạt lở đất tại Tuyên Quang

Mưa lớn gây lũ quét và sạt lở đất tại Tuyên Quang

Đêm 28 rạng sáng 29/6/2026, do ảnh hưởng của mưa to đến rất to, gây lũ quét và sạt lở đất, đá, khiến giao thông ách tắc, thiệt hại nghiêm trọng về nhà ở, hoa màu, hạ tầng giao thông, công trình thủy lợi và sản xuất nông nghiệp tại một số xã vùng cao của tỉnh Tuyên Quang.

Thái Nguyên khởi công 6 dự án nhà ở xã hội để bán và cho thuê

Thái Nguyên khởi công 6 dự án nhà ở xã hội để bán và cho thuê

Sáng 29/6, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên phối hợp với các chủ đầu tư tổ chức khởi công 6 dự án nhà ở xã hội để bán và cho thuê. Tham dự chương trình có đại diện lãnh đạo Bộ Xây dựng, lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên; các sở, ban, ngành, chủ đầu tư dự án.

Mô phỏng trực quan các tình huống cháy, nổ giúp người dân thực hành kỹ năng xử lý ban đầu

Mô phỏng trực quan các tình huống cháy, nổ giúp người dân thực hành kỹ năng xử lý ban đầu

Ngày 29/6, Công an tỉnh Tuyên Quang tổ chức lễ ra mắt Trung tâm giáo dục cộng đồng về Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ tỉnh. Tham dự có các đồng chí trong Ban Giám đốc Công an tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành; lãnh đạo các phòng nghiệp vụ Công an tỉnh cùng hơn 500 học sinh, đoàn viên, lực lượng dân phòng và người dân trên địa bàn.

Phú Thọ thu hút vốn FDI tăng đột biến, tạo sức bật mới sau hợp nhất

Phú Thọ thu hút vốn FDI tăng đột biến, tạo sức bật mới sau hợp nhất

Sau tròn một năm thực hiện hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ mới đang nổi lên như một điểm sáng về thu hút đầu tư khi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng đột biến, vượt kế hoạch cả năm chỉ sau 6 tháng. Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng đó vẫn còn nhiều điểm nghẽn lớn về quỹ đất sạch, giải phóng mặt bằng và hạ tầng công nghiệp, đặt ra yêu cầu cải cách quyết liệt hơn để duy trì đà tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Hành trình Đỏ đã trở thành chiến dịch hiến máu tình nguyện quy mô lớn nhất cả nước

Hành trình Đỏ đã trở thành chiến dịch hiến máu tình nguyện quy mô lớn nhất cả nước

Ngày 28/6, tại Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tỉnh Đắk Lắk, Ban Tổ chức Hành trình Đỏ Trung ương phối hợp với Ban Chỉ đạo Vận động hiến máu tình nguyện tỉnh Đắk Lắk tổ chức khai mạc chương trình Hành trình Đỏ Đắk Lắk lần thứ XIII và Chiến dịch “Giọt hồng Tây Nguyên” năm 2026.

Sức sống mới ở điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới

Sức sống mới ở điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới

Sau 2 tháng bàn giao đưa vào sử dụng, điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới tại Bon Bu Dăr (xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng) đang dần hình thành diện mạo khu dân cư ổn định nơi vùng biên. Những ngôi nhà mới không chỉ giúp người dân an cư, từng bước vươn lên phát triển kinh tế mà còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh khu vực biên giới.

Quảng Ngãi tăng tốc hoàn thành các trường liên cấp biên giới

Quảng Ngãi tăng tốc hoàn thành các trường liên cấp biên giới

Đến cuối tháng 6/2026, 4 trường học liên cấp biên giới được khởi công từ cuối năm 2025 tại các xã Rờ Kơi, Mô Rai, Dục Nông và Sa Loong đã đạt tiến độ thi công từ 52 - 83%; trong đó, Trường Phổ thông nội trú liên cấp tiểu học - trung học cơ sở xã Mô Rai có tiến độ thi công thấp nhất khi mới đạt 52%.