Những ngày giáp Tết Nguyên đán, con đường bê tông phẳng lỳ dẫn vào thôn Bản Giáng, xã Trung Sơn (Tuyên Quang) rộn ràng bước chân người qua lại. Vùng đất từng là “miền xa” cách trở, nhiều khó khăn, nay đã thay đổi diện mạo, với đường thông, điện sáng, nhà cửa khang trang, đời sống bà con ngày càng nâng lên. Xuân mới về trên bản vùng cao mang theo niềm vui, niềm tin và khát vọng vươn lên của đồng bào dân tộc Nùng nơi đây.
Con đường dẫn vào thôn Bản Giáng (Tuyên Quang) được bê tông hóa, giúp bà con đi lại và giao thương thuận tiện, dễ dàng.
Đổi thay từ những con đường, ánh điện
Thôn Bản Giáng hiện có 44 hộ dân, trong đó, gần 90% là đồng bào dân tộc Nùng sinh sống. Ít ai biết rằng, nơi đây từng là một trong những thôn xa xôi, khó khăn nhất của xã Trung Sơn. Trước kia, con đường độc đạo dẫn vào thôn lầy lội mỗi khi có mưa, trơn trượt như ruộng thụt, việc đi lại, giao thương vô cùng khó khăn.
Những năm gần đây, từ nguồn lực của các chính sách dân tộc, chương trình mục tiêu quốc gia và sự quan tâm của chính quyền địa phương, Bản Giáng từng bước thay da đổi thịt với điện lưới, sóng điện thoại đã về tận thôn…
Đặc biệt, cuối năm 2024, tuyến đường từ trung tâm xã Trung Sơn vào thôn Bản Giáng được hạ độ cao, bê tông hóa rộng rãi, ô tô có thể vào trường học, từng nhà dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và giao thương. Dù còn khoảng 1 km đường đất trong thôn chưa hoàn thiện song so với trước đây, việc đi lại thuận lợi hơn rất nhiều.
Bà con nhân dân thôn Bản Giáng, xã Trung Sơn (Tuyên Quang) dọn dẹp Nhà văn hóa thôn để chuẩn bị tổ chức các hoạt động dịp Tết cổ truyền.
Bí thư Chi bộ thôn Bản Giáng Thèn Văn Hiển phấn khởi cho biết, có đường, điện, bà con đi lại dễ dàng, bán nông sản thuận lợi hơn, không còn bị ép giá như trước. Quan trọng hơn là nếp nghĩ, cách làm của người dân đã thay đổi rõ rệt.
Không chỉ hạ tầng được đầu tư, đời sống văn hóa cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Người dân chủ động giữ gìn vệ sinh môi trường, định kỳ dọn dẹp đường làng, xây dựng chuồng trại chăn nuôi xa nhà để phòng bệnh, bảo vệ nguồn nước. Các hủ tục lạc hậu từng tồn tại lâu năm như: tảo hôn, hôn nhân cận huyết từng bước được đẩy lùi. Đến nay, 100% trẻ em trong thôn được đến trường, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 100%, trên 90% số hộ đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”…
Khát vọng vươn lên
Căn nhà mới khang trang của gia đình chị Xiên Thị Tới, thôn Bản Giáng, xã Trung Sơn (Tuyên Quang) hoàn thành sớm để đón Tết.
Sự đổi thay ở Bản Giáng còn đến từ chính tinh thần tự lực, tự cường của người dân. Từ lâu, người Nùng, người Dao ở Bản Giáng không còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước mà cố gắng lao động, sản xuất để vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.
Gia đình ông Thèn Văn Lương là một trong những hộ tiêu biểu cho tinh thần ấy. Ông Lương chia sẻ, trước đây, cuộc sống của gia đình ông chủ yếu dựa vào nương rẫy, thu nhập bấp bênh. Khi giao thông thuận lợi hơn, được tiếp cận thông tin, kỹ thuật, ông mạnh dạn đầu tư trồng rừng, trồng măng bát độ. Đến nay, gia đình ông đã có hơn 8 ha keo và măng, đời sống ngày càng ổn định. Năm 2024, gia đình chính thức thoát nghèo, xây nhà đẹp, mua được ô tô để thuận tiện đi lại.
Còn với chị Xiên Thị Tới, niềm vui mùa Xuân này càng trọn vẹn hơn khi năm nay gia đình vừa hoàn thành và đưa vào sử dụng căn nhà mới khang trang, rộng rãi.
Chị Xiên Thị Tới xúc động chia sẻ, trước đây ở nhà gỗ, mỗi mùa mưa bão, gia đình chị rất lo lắng. Được hỗ trợ từ chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cùng số vốn dành dụm từ trước, gia đình chị đã hoàn thành căn nhà vững chãi. Có nhà mới, Tết này vui hơn, chị yên tâm lao động, sản xuất.
Phụ nữ thôn Bản Giáng, xã Trung Sơn (Tuyên Quang) tranh thủ thêu thùa, chuẩn bị váy áo mới đón Tết.
Sắp đến Tết cổ truyền, một trong những việc không thể thiếu của người dân nơi đây là chuẩn bị những bộ quần áo, khăn, váy đẹp nhất. Tạm gác lại công việc đồng áng, các bà, các mẹ, các chị lại quây quần thêu váy áo mới chuẩn bị đi chơi Tết.
Tay vẫn thoăn thoắt thêu thùa, bà Lù Thị Nhọn, 67 tuổi cho hay: “Với người Nùng chúng tôi, Tết đến phải có quần áo mới. Mặc quần áo mới không chỉ để vui Xuân mà còn là cách bỏ lại những vất vả của năm cũ, mong một năm mới làm ăn thuận lợi, gia đình khỏe mạnh. Váy áo truyền thống do chính tay mình thêu, may càng có ý nghĩa hơn, thể hiện sự tôn kính với tổ tiên trong những ngày Tết. Từ trước Tết, phụ nữ trong bản đã tranh thủ thêu thùa, chuẩn bị váy áo mới. Đó cũng là cách để con cháu học và giữ gìn nét văn hóa của dân tộc mình”.
Sắc màu thổ cẩm nổi bật giữa núi rừng, Xuân mới đang về trên Bản Giáng. Trên con đường bê tông, giữa những nếp nhà kiên cố, niềm tin và hy vọng đang nảy nở, báo hiệu một mùa Xuân ấm no, đủ đầy hơn.
Ông Nguyễn Mạnh Hà, Chủ tịch UBND xã Trung Sơn (Tuyên Quang) cho biết, chính quyền xã luôn xác định phát triển hạ tầng gắn với nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy sản xuất cho bà con là nhiệm vụ trọng tâm. Những kết quả đạt được ở Bản Giáng là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của các chính sách dân tộc, chương trình mục tiêu quốc gia; đồng thời thể hiện sự nỗ lực, chủ động vươn lên của người dân. Thời gian tới, địa phương tiếp tục đồng hành cùng bà con, hoàn thiện hạ tầng còn lại, hỗ trợ phát triển sản xuất, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số./.
Tên tự gọi: Nồng.
Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...
Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...
Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.
Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.
Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.
Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.
Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.
Ở: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.
Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.
Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.
Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.
Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.
Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.
Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.
Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.
Lịch: Người Nùng theo âm lịch.
Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.
Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.
Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...
Theo cema.gov.vn