Ngày 6/7, bản Huổi Lính (xã Mường Mô), bản cuối cùng của tỉnh Lai Châu đã được đóng điện, hoàn tất 100% các bản trong tỉnh có điện lưới Quốc gia.
Khoảnh khắc ngồi nhà sàn của gia đình chị Giàng Thị Mỷ (bản Huổi Lính) sáng bừng trong niềm vui của mọi người. Từ đây, mọi người có thể dùng điện để nấu cơm, sạc điện thoại, dùng tủ lạnh... chị Giàng Thị Mỷ chia sẻ: Sắp tới gia đình mua ti vi, quạt điện và sắm các vật dụng thiết yếu để dùng cho nhu cầu sinh hoạt gia đình.
Có mặt tại buổi đóng điện, Bí thư chi bộ bản Huổi Lính Lý Giống Dề phấn khởi chia sẻ: Bà con người Mông đã có điện. Sinh kế chính của người dân Huổi Dạo, Huổi Lính là trồng ngô, lúa nương, chăn nuôi nhỏ lẻ. Không có điện, bà con không thể sử dụng máy móc hỗ trợ sản xuất như máy bơm nước, máy sấy nông sản... Tất cả đều làm thủ công, mất nhiều công sức, năng suất thấp. Nay có điện lưới, bà con sẽ đầu tư máy móc làm nghề, học hỏi nhiều cái hay về chăn nuôi, trồng trọt để bản vươn lên thoát nghèo.
Bản Huổi Lính hiện có 67 hộ với 447 nhân khẩu, trong đó còn 39 hộ nghèo và 18 hộ cận nghèo. Việc dòng điện lưới Quốc gia chính thức bừng sáng tại bản làng hôm nay, cuộc sống của bà con ở đây sẽ sang trang mới.
Ông Phạm Thanh Quang, Bí thư Đảng ủy xã Mường Mô cho biết, việc có điện lưới không chỉ giúp bà con phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa mà còn giúp chính quyền địa phương thực hiện những chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào thuận lợi hơn. Bà con sẽ khai thác hiệu quả nguồn sáng này để áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy kinh tế hộ gia đình, chung tay giữ vững an ninh trật tự tại bản.
Người dân bản Huổi Lính, xã Mường Mô vui mừng khi có điện lưới Quốc gia. Ảnh: Nguyễn Oanh - TTXVN
Dự án cấp điện cho bản Huổi Dạo và Huổi Lính có tổng mức đầu tư hơn 18 tỷ đồng, quy mô bao gồm nâng cấp và xây dựng mới hơn 12km đường dây 35kV, 2 trạm biến áp cùng hơn 5km đường dây hạ thế.
Bản Huổi Dạo, Huổi Lính nằm trên địa hình đồi núi hiểm trở, đường giao thông lên bản còn nhiều khó khăn, khoảng cách xa khu vực có điện hiện hữu nên tuyến đường dây đấu nối phải kéo dài qua nhiều khu vực đồi núi phức tạp. Qua 6 tháng thi công vượt nắng, thắng mưa, các cán bộ, công nhân Điện lực Lai Châu đã khắc phục khó khăn hoàn thành các hạng mục để đóng điện sớm nhất cho bà con.
Phát biểu tại buổi lễ, Giám đốc Công ty Điện lực Lai Châu Trần Kim Long chia sẻ: Với sự đồng thuận của các cấp chính quyền và tinh thần trách nhiệm cao, Điện lực Lai Châu đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, thành lập các nhóm chuyên môn, làm việc tập trung để đẩy nhanh tiến độ công trình để đạt yêu cầu đề ra. Đây là bản cuối cùng của tỉnh Lai Châu đóng điện lưới quốc gia.
Ông Nguyễn Sỹ Cảnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết: Công trình hoàn thành đáp ứng niềm mong mỏi bao đời nay của bà con, là đòn bẩy trực tiếp giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo có điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao đời sống sinh hoạt và nhanh chóng thoát nghèo ổn định. Công trình hoàn thành đúng tiến độ, an toàn là sự chủ động, phối hợp chặt chẽ của các sở, ban, ngành tỉnh và đặc biệt là sự đồng thuận, nhường đất mở đường của nhân dân.
Điện lưới Quốc gia đến với bản Huổi Dạo, Huổi Lính góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, nâng cao đời sống sinh hoạt của nhân dân, đồng thời góp phần nâng cao tỷ lệ số thôn, bản có điện là 956/956 bản đạt tỷ lệ 100%, và số hộ dân được sử dụng điện lưới Quốc gia trên địa bàn tỉnh Lai Châu là 104.667/107.003 đạt tỷ lệ 97,81%; đáp ứng nhu cầu về cơ sở hạ tầng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế gia đình; phấn đấu hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XV nhiệm kỳ 2025-2030 là đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 99% số hộ dân được sử dụng điện lưới Quốc gia.
Tại chương trình, tỉnh Lai Châu tặng mỗi suất quà trị giá 500.000 đồng cho 67 hộ dân và tặng ti vi, loa kéo, mic, bàn ghế cho Nhà văn hóa bản Huổi Lính./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn