Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Giữa không gian thanh bình của núi đồi và những nếp nhà sàn truyền thống dân tộc Tày, thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân, mô hình này còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.

Nằm cách tuyến cao tốc Thái Nguyên – Chợ Mới khoảng 4 km, Khuân Bang sở hữu cảnh quan còn nguyên nét mộc mạc với núi đồi, cánh đồng, suối nhỏ, cùng những ngôi nhà sàn truyền thống được cải tạo phù hợp với điều kiện sinh hoạt hiện đại. Không gian yên bình cùng bản sắc văn hóa được gìn giữ là lợi thế để địa phương phát triển du lịch trải nghiệm.

Những năm gần đây, một số hộ dân đã mạnh dạn chuyển hướng sang làm du lịch cộng đồng. Ngoài dịch vụ lưu trú, người dân còn phục vụ ẩm thực truyền thống, tổ chức biểu diễn văn nghệ dân tộc và xây dựng các hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống bản địa.

Là một trong những hộ tiên phong, anh Dương Văn Đạt, chủ Homestay Đạt Oanh cho biết, trước đây gia đình chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa, trồng keo và sản xuất nông nghiệp, thu nhập ổn định nhưng không cao. Khi địa phương được định hướng phát triển du lịch cộng đồng từ năm 2023, anh quyết định đầu tư xây dựng homestay. Sau gần hai năm hoàn thiện, cơ sở lưu trú có khả năng đón khoảng 38 khách đã bắt đầu phục vụ nhiều đoàn khách trong và ngoài tỉnh.

20260616-091921.jpg
Khung cảnh yên bình của thôn Khuân Bang với những nếp nhà nằm xen giữa cánh đồng và núi đồi, tạo lợi thế phát triển du lịch cộng đồng.
20260616-091938.jpg
Những ngôi nhà sàn truyền thống của đồng bào Tày được gìn giữ, góp phần phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa.

Theo anh Đạt, thu nhập từ kinh doanh homestay, dịch vụ ăn uống và trải nghiệm mang lại hiệu quả cao hơn so với chỉ làm nông nghiệp. Du khách đến Khuân Bang không chỉ nghỉ dưỡng, mà còn có thể câu cá, thu hoạch dưa hấu, dưa lê, hái rau xanh, tìm hiểu hoạt động sản xuất nông nghiệp và thưởng thức các sản phẩm OCOP của địa phương. Nhờ đó, nhiều nông sản của người dân có thêm đầu ra, giá trị sản xuất cũng được nâng lên.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để du lịch cộng đồng phát triển bền vững, điều quan trọng không chỉ là có vài homestay, hay một số dịch vụ đơn lẻ. Bản chất của du lịch cộng đồng là người dân cùng tham gia, cùng hưởng lợi và cùng gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Khi cả cộng đồng trở thành chủ thể, mỗi ngôi nhà, mỗi cánh đồng, mỗi làn điệu dân ca hay món ăn truyền thống đều có thể trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.

2.jpg
Du khách nghỉ dưỡng tại homestay mang kiến trúc nhà sàn truyền thống của đồng bào Tày ở Khuân Bang.
1.jpg
Đồng bào dân tộc Tày biểu diễn múa sạp, mang đến cho du khách những trải nghiệm văn hóa đặc sắc tại thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên.

Đánh giá về tiềm năng của Khuân Bang, bà Chu Thị Đỗ, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Xúc tiến phát triển du lịch Thái Nguyên cho biết, địa phương mới ở giai đoạn đầu phát triển du lịch cộng đồng nhưng đã hình thành những dịch vụ cơ bản như lưu trú, ẩm thực, văn hóa, văn nghệ và các hoạt động trải nghiệm phục vụ du khách.

Theo bà Đỗ, với cảnh quan thiên nhiên trong lành, không gian yên tĩnh cùng sự thân thiện, hiếu khách của người dân, Khuân Bang không chỉ phù hợp với khách du lịch trong nước mà còn có khả năng thu hút dòng khách quốc tế yêu thích trải nghiệm văn hóa bản địa và nghỉ dưỡng giữa thiên nhiên.

"Du lịch là một lĩnh vực kinh tế. Khi người dân tham gia làm du lịch sẽ có thêm nguồn thu nhập bên cạnh sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, hoạt động này còn góp phần tiêu thụ nông sản, sản phẩm OCOP, nâng cao nhận thức của người dân về phát triển kinh tế gắn với bảo tồn văn hóa", bà Đỗ nhấn mạnh.

Để khai thác hiệu quả hơn nữa những lợi thế sẵn có, Khuân Bang cần tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm du lịch theo hướng gắn với văn hóa dân tộc Tày, nghề truyền thống, nông nghiệp trải nghiệm và đời sống sinh hoạt của người dân. Cùng với đó là tăng cường kết nối với các điểm đến trong khu vực để hình thành những tour, tuyến du lịch có chiều sâu, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách.

20260616-091902.jpg

Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên đang triển khai Đề án phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời nghiên cứu nhiều chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng. Đây được xem là động lực quan trọng giúp các địa phương khai thác hiệu quả tiềm năng, biến những giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực phát triển kinh tế.

Với cảnh quan thiên nhiên còn nguyên sơ, bản sắc văn hóa đặc trưng của đồng bào Tày và sự đồng hành của chính quyền địa phương, Khuân Bang đang đứng trước cơ hội trở thành điểm đến du lịch cộng đồng hấp dẫn của Thái Nguyên. Khi người dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển, du lịch không chỉ góp phần nâng cao thu nhập mà còn tạo động lực để gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống cho các thế hệ mai sau.

Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Liên kết điểm đến tạo hành trình hấp dẫn giữ chân du khách

Liên kết điểm đến tạo hành trình hấp dẫn giữ chân du khách

Du lịch đang đứng trước yêu cầu chuyển từ khai thác đơn lẻ từng điểm đến sang hình thành những hành trình có tính liên kết, trong đó các địa phương cùng chia sẻ tài nguyên, thị trường và giá trị. Với Thái Nguyên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn, sự đa dạng về cảnh quan, văn hóa, lịch sử và sản phẩm tạo điều kiện hình thành không gian du lịch liên vùng. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành những sản phẩm có sức cạnh tranh, các địa phương vẫn cần giải quyết những điểm nghẽn về hạ tầng, sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp và cơ chế phối hợp.

Từ khí thế mùa Thu cách mạng đến khát vọng phát triển

Từ khí thế mùa Thu cách mạng đến khát vọng phát triển

Cách đây 81 năm, từ núi rừng Tân Trào, những quyết định hệ trọng mở đường cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đã được đưa ra. Khí thế của mùa Thu cách mạng năm 1945 hôm nay tiếp tục được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc xã Tân Trào chuyển hóa thành ý chí tự lực, tinh thần đổi mới và khát vọng xây dựng quê hương phát triển toàn diện, bền vững.

Phát triển du lịch từ mùa trái ngọt và văn hóa Raglai

Phát triển du lịch từ mùa trái ngọt và văn hóa Raglai

Những ngày giữa tháng 8, theo cung đường uốn lượn lên vùng cao Đông Khánh Sơn, du khách đi qua những triền núi xanh, những vườn cây đang mùa trĩu quả. Trong tiết trời dịu mát, mây bảng lảng ngang sườn núi, hương sầu riêng chín quyện cùng tiếng mã la, đàn Chapi tạo nên một không gian đặc trưng của vùng đồng bào Raglai. Từ lợi thế cảnh quan, nông sản và văn hóa bản địa, Đông Khánh Sơn đang từng bước tạo thêm sản phẩm trải nghiệm, kết nối nông nghiệp với văn hóa, du lịch.

Phát triển du lịch sinh thái - 'chìa khóa' giữ màu xanh đại ngàn

Phát triển du lịch sinh thái - 'chìa khóa' giữ màu xanh đại ngàn

Dưới những tán rừng xanh ở xã Thông Nguyên (Tuyên Quang), người Dao đỏ nơi đây đang có một cách làm mới để tăng thu nhập và bảo vệ rừng. Những cây thuốc từng chỉ được dùng trong mỗi gia đình nay trở thành sản phẩm chăm sóc sức khỏe phục vụ du khách; món ăn, nghề làm giấy dó, tiếng khèn, điệu múa và nếp sinh hoạt truyền thống được đưa vào các chương trình trải nghiệm. Từ những giá trị vốn có của bản làng, du lịch dần mở ra sinh kế mới cho người dân, đồng thời tạo thêm động lực bảo vệ cảnh quan và gìn giữ văn hóa.

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Từ tiếng khèn Mông giữa miền đá, điệu Then bên những nếp nhà sàn, nghi lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn đến nghề thủ công, ẩm thực và các không gian văn hóa cộng đồng, Tuyên Quang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Giữa vùng đất Tây Ninh ngày nay, tháp Chót Mạt vẫn lặng lẽ hiện diện, lưu giữ những dấu tích của nền văn minh Óc Eo. Từ những viên gạch cổ và dáng tháp độc đáo, di tích không chỉ kể câu chuyện về một lớp trầm tích văn hóa xa xưa, mà còn mở ra tiềm năng phát huy giá trị lịch sử gắn với du lịch.

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Mẫu Sơn là dãy núi cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn với đỉnh Phjia Mè cao 1.520 m so với mực nước biển. Nhờ khí hậu mát mẻ quanh năm và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, từ thời Pháp thuộc, nơi đây đã được biết đến là điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng ở miền Bắc.

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Nằm cách đất liền khoảng 24km, xã Nhơn Châu, tỉnh Gia Lai, thường được biết đến với tên gọi Cù Lao Xanh, đang từng bước chuyển mình từ một làng đảo chủ yếu sống bằng nghề biển thành điểm đến du lịch giàu tiềm năng. Giữa nhịp phát triển mới, Cù Lao Xanh vẫn giữ nguyên vẻ yên bình với phiên chợ sớm, âu thuyền tấp nập, những tuyến bờ kè hướng biển và cuộc sống mộc mạc của người dân nơi đầu sóng. 

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, rừng Bầu Đá (xã Hòa Thịnh) được xem là cánh rừng ngập nước duy nhất nơi đây. Không chỉ gây ấn tượng bởi những tán rừng trải dài soi bóng dưới làn nước tĩnh lặng, rừng ngập nước Bầu Đá còn là mái nhà của nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Địa phương đang nỗ lực gìn giữ giá trị và phát huy tiềm năng du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Ở miền Tây Nghệ An, những chợ phiên vùng cao, biên giới nổi tiếng như Mường Quạ (xã Môn Sơn), Mường Chon (xã Bình Chuẩn), Tri Lễ (xã Tri Lễ), Nga My (xã Nga My), Nhôn Mai (xã Nhôn Mai)… không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là không gian văn hóa sống động, đặc sắc, nơi lưu giữ phong tục, tập quán và bản sắc đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Thái, Đan Lai, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu...

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Trong chiến lược phát triển du lịch, ngoài khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, nhiều xã, phường của tỉnh Thanh Hóa đang kiến tạo những không gian trải nghiệm mới, hấp dẫn, từ du lịch sinh thái đến khám phá đời sống văn hóa cộng đồng, ẩm thực địa phương, tạo sức hút để nâng tầm du lịch Thanh Hóa trong giai đoạn mới.

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Mỗi hòn đảo tiền tiêu có một cách mưu sinh riêng, nhưng đều đứng trước cùng một bài toán: làm sao để người dân có thể sống được trên chính quê hương mình. Từ Cù Lao Xanh, Cù Lao Chàm đến Lý Sơn, hành trình tìm lời giải cho sinh kế bền vững không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế biển mà còn góp phần giữ những cộng đồng cư dân bám biển, bám đảo như những "phên dậu" vững chắc giữa trùng khơi.

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Du lịch Điện Biên đang đứng trước thời cơ phát triển mới khi lượng khách và doanh thu liên tục tăng trưởng sau nhiều năm tập trung đầu tư hạ tầng, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa.

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Việt Nam là một đất nước giàu bản sắc văn hóa với hàng nghìn năm lịch sử. Mỗi địa phương đều mang trong mình một câu chuyện riêng. Từ những phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, làng nghề lâu đời đến những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ, tất cả đã tạo nên một bức tranh văn hóa đặc sắc, tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Ngày 9/7, tại phường Quy Nhơn Nam, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã chính thức công bố, giới thiệu và trao Quyết định công nhận các Điểm du lịch của tỉnh. Đây là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam.

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Nằm tại xã Phong Quang, trên cung đường mới kết nối thành phố Bắc Kạn cũ với hồ Ba Bể, thác Lủng Páng đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn của du lịch Thái Nguyên, phù hợp với du khách yêu thiên nhiên, thích trekking và khám phá vẻ đẹp nguyên bản của vùng Việt Bắc.

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn tăng cao, đạt 25.370 tỷ đồng, xấp xỉ 50% kế hoạch năm. Con số này không chỉ phản ánh sức hút của du lịch Lào Cai đối với du khách trong và ngoài nước mà còn thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi tiêu dùng khi du khách, đặc biệt là khách nước ngoài sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các trải nghiệm hấp dẫn tại địa phương.