Giữa không gian thanh bình của núi đồi và những nếp nhà sàn truyền thống dân tộc Tày, thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân, mô hình này còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.
Nằm cách tuyến cao tốc Thái Nguyên – Chợ Mới khoảng 4 km, Khuân Bang sở hữu cảnh quan còn nguyên nét mộc mạc với núi đồi, cánh đồng, suối nhỏ, cùng những ngôi nhà sàn truyền thống được cải tạo phù hợp với điều kiện sinh hoạt hiện đại. Không gian yên bình cùng bản sắc văn hóa được gìn giữ là lợi thế để địa phương phát triển du lịch trải nghiệm.
Những năm gần đây, một số hộ dân đã mạnh dạn chuyển hướng sang làm du lịch cộng đồng. Ngoài dịch vụ lưu trú, người dân còn phục vụ ẩm thực truyền thống, tổ chức biểu diễn văn nghệ dân tộc và xây dựng các hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống bản địa.
Là một trong những hộ tiên phong, anh Dương Văn Đạt, chủ Homestay Đạt Oanh cho biết, trước đây gia đình chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa, trồng keo và sản xuất nông nghiệp, thu nhập ổn định nhưng không cao. Khi địa phương được định hướng phát triển du lịch cộng đồng từ năm 2023, anh quyết định đầu tư xây dựng homestay. Sau gần hai năm hoàn thiện, cơ sở lưu trú có khả năng đón khoảng 38 khách đã bắt đầu phục vụ nhiều đoàn khách trong và ngoài tỉnh.
Theo anh Đạt, thu nhập từ kinh doanh homestay, dịch vụ ăn uống và trải nghiệm mang lại hiệu quả cao hơn so với chỉ làm nông nghiệp. Du khách đến Khuân Bang không chỉ nghỉ dưỡng, mà còn có thể câu cá, thu hoạch dưa hấu, dưa lê, hái rau xanh, tìm hiểu hoạt động sản xuất nông nghiệp và thưởng thức các sản phẩm OCOP của địa phương. Nhờ đó, nhiều nông sản của người dân có thêm đầu ra, giá trị sản xuất cũng được nâng lên.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để du lịch cộng đồng phát triển bền vững, điều quan trọng không chỉ là có vài homestay, hay một số dịch vụ đơn lẻ. Bản chất của du lịch cộng đồng là người dân cùng tham gia, cùng hưởng lợi và cùng gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Khi cả cộng đồng trở thành chủ thể, mỗi ngôi nhà, mỗi cánh đồng, mỗi làn điệu dân ca hay món ăn truyền thống đều có thể trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Đánh giá về tiềm năng của Khuân Bang, bà Chu Thị Đỗ, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Xúc tiến phát triển du lịch Thái Nguyên cho biết, địa phương mới ở giai đoạn đầu phát triển du lịch cộng đồng nhưng đã hình thành những dịch vụ cơ bản như lưu trú, ẩm thực, văn hóa, văn nghệ và các hoạt động trải nghiệm phục vụ du khách.
Theo bà Đỗ, với cảnh quan thiên nhiên trong lành, không gian yên tĩnh cùng sự thân thiện, hiếu khách của người dân, Khuân Bang không chỉ phù hợp với khách du lịch trong nước mà còn có khả năng thu hút dòng khách quốc tế yêu thích trải nghiệm văn hóa bản địa và nghỉ dưỡng giữa thiên nhiên.
"Du lịch là một lĩnh vực kinh tế. Khi người dân tham gia làm du lịch sẽ có thêm nguồn thu nhập bên cạnh sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, hoạt động này còn góp phần tiêu thụ nông sản, sản phẩm OCOP, nâng cao nhận thức của người dân về phát triển kinh tế gắn với bảo tồn văn hóa", bà Đỗ nhấn mạnh.
Để khai thác hiệu quả hơn nữa những lợi thế sẵn có, Khuân Bang cần tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm du lịch theo hướng gắn với văn hóa dân tộc Tày, nghề truyền thống, nông nghiệp trải nghiệm và đời sống sinh hoạt của người dân. Cùng với đó là tăng cường kết nối với các điểm đến trong khu vực để hình thành những tour, tuyến du lịch có chiều sâu, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách.
Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên đang triển khai Đề án phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời nghiên cứu nhiều chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng. Đây được xem là động lực quan trọng giúp các địa phương khai thác hiệu quả tiềm năng, biến những giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực phát triển kinh tế.
Với cảnh quan thiên nhiên còn nguyên sơ, bản sắc văn hóa đặc trưng của đồng bào Tày và sự đồng hành của chính quyền địa phương, Khuân Bang đang đứng trước cơ hội trở thành điểm đến du lịch cộng đồng hấp dẫn của Thái Nguyên. Khi người dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển, du lịch không chỉ góp phần nâng cao thu nhập mà còn tạo động lực để gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống cho các thế hệ mai sau.
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn