Bình đẳng giới thực chất (Bài 1)

Trong bản Hiến pháp năm 1959 quyền và nghĩa vụ của phụ nũ được xác định rõ ràng. Ảnh: binhdinh.gov.vn
Trong bản Hiến pháp năm 1959 quyền và nghĩa vụ của phụ nũ được xác định rõ ràng. Ảnh: binhdinh.gov.vn

Quan tâm và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ, trong gia đình cũng như ngoài xã hội, là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta từ khi ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945), nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, việc thực hiện bình đẳng giới ở nước ta đã đạt được những kết quả to lớn và thực chất.

Bài 1: Từ chính sách tới thực tiễn

Chính sách nhân văn, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử về bình đẳng giới đã khiến cho sự tiến bộ của phụ nữ ở nước ta đạt nhiều kết quả, thể hiện qua những con số cụ thể.

Bình đẳng giới thực chất (Bài 1) ảnh 1Trong bản Hiến pháp năm 1959 quyền và nghĩa vụ của phụ nũ được xác định rõ ràng. Ảnh: binhdinh.gov.vn 

Bình đẳng giới - quyền hiến định

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập ngày 2/9/1945 thì ngay Hiến pháp năm 1946 (bản hiến pháp đầu tiên) đã quy định về quyền bình đẳng giới. Điều 9 của Hiến pháp năm 1946 nêu rõ: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”.

Trong bản Hiến pháp năm 1959 quyền và nghĩa vụ của phụ nũ được xác định rõ ràng. Điều 24, Chương 3 của Hiến pháp năm 1959 quy định: Phụ nữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương. Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.

Trong bản Hiến pháp năm 1980 quyền của phụ nữ vừa được lồng vào các quyền cơ bản của công dân, vừa được quy định riêng nhằm tạo ra những điểm nhấn quan trọng, khẳng định quyền của phụ nữ. Điều 55 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Đây là quy định chung nhất cho tất cả các giới tính, thể hiện sự không phân biệt trước xã hội. Điều 57 quy định: “Công dân không phân biệt dân tộc, nam - nữ, thành phần xã hội…. từ 21 tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp” (các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Trung ương và địa phương).

Điều 63 nêu rõ: “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừng phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội. Nhà nước có chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ. Phụ nữ và nam giới việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh đẻ nếu là xã viên hợp tác xã. Nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi xã hội khác, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập và nghỉ ngơi”.

Điều 65 nhấn mạnh: “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng…. Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”.

Trong bản Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) các quy định trên cơ bản được giữ nguyên.

Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới được ban hành vào năm 2006. Theo đó, các quyền của phụ nữ Việt Nam được quy định đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn. Các đạo luật và các văn bản pháp luật khác được ban hành ngày càng cụ thể hóa hơn các quy định của Hiến pháp về quyền của phụ nữ, trong đó nổi bật nhất là Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2006, năm 2014), Luật Cư trú (năm 2006), Luật Phòng chống bạo lực gia đình (năm 2007), Luật Quốc tịch (năm 2008), Bộ Luật Lao động (năm 2005, năm 2012), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2007), Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000, năm 2014)...

Hiến pháp năm 2013 đã quy định cụ thể hơn quyền của phụ nữ trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của các bản Hiến pháp trước. Các quy định từ Điều 14 đến Điều 49, Chương II - Hiến pháp năm 2013 đã quy định các quyền con người, quyền công dân, trong đó quyền của phụ nữ.

Với tư cách công dân, phụ nữ có các quyền như sau:

Quyền chính trị, bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 16); Tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); Bầu cử khi đủ mười tám tuổi trở lên, ứng cử khi đủ hai mươi mốt tuổi trở lên vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 27); Biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân (đối với công dân đủ 18 tuổi trở lên) (Điều 29); Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25); Tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Khoản 1, Điều 24); Khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 30);

Quyền dân sự bao gồm: Quyền sống, tính mạng được pháp luật bảo hộ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật (Điều 19); Bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (Khoản 1, Điều 20); Có nơi ở hợp pháp (Khoản 1, Điều 22). Không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Khoản 2, Điều 17); Sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp và trong các tổ chức kinh tế khác (Khoản 1, Điều 32). Sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ (Khoản 2, Điều 32)…

Quyền về kinh tế, lao động và việc làm; Quyền về văn hóa, giáo dục; Quyền liên quan đến tố tụng, tư pháp…

Ngoài các quyền trên, phụ nữ còn có các quyền như: Được Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội (Khoản 2, Điều 26). Được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, quyền lợi của người mẹ và trẻ em (Khoản 2 Điều 36). Được Nhà nước, xã hội và gia đình bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, thực hiện kế hoạch hóa gia đình (khoản 2 Điều 58).

Như vậy, xét trong mối tương quan với nam giới, các quy định của pháp luật về quyền của phụ nữ Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm phụ nữ “được bình đẳng và có ưu tiên”. Có những quyền được pháp luật xây dựng nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật, xóa bỏ sự phân biệt đối xử. Song cũng có những quyền ưu tiên (trong việc tuyển dụng, sắp xếp công việc, nghỉ hưu...) có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ thể hiện khả năng của mình với việc đóng góp ngày càng nhiều cho gia đình, xã hội, đồng thời tránh rủi ro trong nghề nghiệp, trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Cụ thể: Bộ luật Lao động có hẳn một chương quy định về lao động nữ. Theo đó, Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ; khuyến khích người sử dụng lao động, tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà; có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp…

Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành đảm bảo (có tính đến yếu tố đặc thù của giới) để phụ nữ được hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp, mất sức lao động. Lao động nữ được hưởng các chế độ khám thai (nghỉ việc có hưởng lương trợ cấp); nghỉ việc hưởng lương trợ cấp sinh đẻ bằng 100% tiền lương; dưỡng sức sau khi sinh nếu sức khỏe yếu.

Những con số biết nói

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%), là lần đầu tiên từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá VI trở lại đây có số đại biểu Quốc hội là phụ nữ đạt trên 30%.

Tại Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên trong 75 năm qua chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Bình đẳng giới thực chất (Bài 1) ảnh 2Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội khóa XIV, là nữ Chủ tịch đầu tiên trong lịch sử Quốc hội Việt Nam 

Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỷ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%.

Số nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước).

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số Ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết, tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII. Trong 63 Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội.

Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới.

Trong lĩnh vực kinh tế - tài chính, phụ nữ Việt Nam cũng đạt được sự tiến bộ đáng kể.

Báo cáo thường niên về đề tài “Phụ nữ trong kinh doanh” do Grant Thornton International phát hành cho biết: Số phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo cấp cao trong các doanh nghiệp tầm trung trên toàn cầu đã đạt 31% dù cho đại dịch COVID-19 đang ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn thế giới. Grant Thornton là mạng lưới các công ty độc lập cung cấp dịch vụ kiểm toán, tư vấn thuế, tư vấn giải pháp doanh nghiệp, với trên 56,000 chuyên gia tại hơn 140 quốc gia.

Theo Grant Thornton Việt Nam (công ty thành viên của Grant Thornton International), nước ta đã vượt mức trung bình toàn cầu với 39% vị trí lãnh đạo cấp cao trong các doanh nghiệp tầm trung do phụ nữ nắm giữ (tăng 6% so với năm 2020). Như vậy, Việt Nam xếp thứ 3 trên thế giới (trong số 29 quốc gia được khảo sát) và xếp thứ 2 ở châu Á - Thái Bình Dương.

Các vị trí hàng đầu thường được phụ nữ đảm nhận trong doanh nghiệp tại Việt Nam năm 2021 là giám đốc tài chính, chiếm 60% (tăng từ 32% vào năm 2020) đưa Việt Nam đứng vị trí số 1 tại châu Á - Thái Bình Dương. (Xem tiếp Bài 2: Tăng cường vị thế chính trị của phụ nữ).

Trần Quang Vinh

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Động lực cho xây dựng nông thôn mới sau hợp nhất

Động lực cho xây dựng nông thôn mới sau hợp nhất

Sau hợp nhất, Lâm Đồng trở thành địa phương có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với 124 xã, phường và đặc khu. Không gian phát triển mới mở ra nhiều dư địa tăng trưởng song cũng đặt ra yêu cầu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, nhất là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Cao Bằng: Tăng tốc thi công xây dựng các trường vùng biên trước năm học mới

Cao Bằng: Tăng tốc thi công xây dựng các trường vùng biên trước năm học mới

Những ngày cuối tháng 7, trên các công trường xây dựng trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và THCS ở vùng biên giới tỉnh Cao Bằng, hàng trăm kỹ sư, công nhân, các lực lượng đang chạy đua với thời gian để đẩy nhanh các hạng mục cho kịp tiến độ trước ngày khai giảng năm học 2026 - 2027.

Lạng Sơn sẵn sàng phương án '4 tại chỗ' bảo vệ hồ đập mùa mưa lũ

Lạng Sơn sẵn sàng phương án '4 tại chỗ' bảo vệ hồ đập mùa mưa lũ

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, số lượng hồ đập và công trình thủy lợi chiếm số lượng lớn, mưa lũ làm tăng nguy cơ sạt lở, lũ quét ảnh hưởng đến sản xuất và an toàn cho người dân ở xung quanh các hồ đập. Nhằm chủ động trước thiên tai bất thường, địa phương chủ động phương án đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão. Các đơn vị quản lý hồ đập tuân thủ chặt chẽ quy định an toàn, đặc biệt là vào thời gian cao điểm của mùa mưa bão...

Lạng Sơn: Người dân đối mặt với hiểm nguy khi vượt qua sông Bắc Giang bằng bè mảng

Lạng Sơn: Người dân đối mặt với hiểm nguy khi vượt qua sông Bắc Giang bằng bè mảng

Do không có cầu, cầu tràn, nhiều năm nay, toàn bộ 20 hộ dân người Dao ở xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa (Lạng Sơn) phải đối mặt với hiểm nguy khi phải liều mình vượt qua sông Bắc Giang bằng bè mảng ghép tạm từ những cây luồng để đi chợ bán hàng hóa nông sản và mua sắm đồ dùng thiết yếu phục vụ sinh hoạt. Đặc biệt, xóm có 17 học sinh học tại trường Tiểu học và THCS Vĩnh Yên ngày ngày phải liều mình qua sông đến trường, vào mùa mưa lũ, tiềm ẩn những mối nguy hiểm khó lường.

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong thủ tục hành chính ở vùng biên Đồng Nai

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong thủ tục hành chính ở vùng biên Đồng Nai

Ở xã biên giới Đăk Ơ (thành phố Đồng Nai) nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 40%, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã đang từng bước đổi mới để phục vụ người dân tốt hơn. Từ việc thành lập các tổ hỗ trợ tận thôn đến áp dụng nguyên tắc “6 rõ” rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ quy trình, rõ thời gian, rõ kết quả, chính quyền địa phương nỗ lực công khai, minh bạch quy trình thủ tục.

Xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ bản lĩnh, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới

Xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ bản lĩnh, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới

Ngày 30/7, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang tổ chức Đại hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội đã bầu và ra mắt Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang khóa I, nhiệm kỳ 2026-2031 gồm 11 thành viên, bầu các chức danh theo quy định. Ông Tạ Bá Hương được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang khóa I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Mưa lớn tại Lào Cai gây thiệt hại hơn 8,6 tỷ đồng

Mưa lớn tại Lào Cai gây thiệt hại hơn 8,6 tỷ đồng

Đợt mưa lớn từ chiều 27 đến sáng 30/7 đã gây thiệt hại tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai, đến sáng 30/7, mưa lũ đã ảnh hưởng đến 20 xã, phường gây thiệt hại lớn về nhà ở, sản xuất và hạ tầng giao thông, với tổng giá trị ước trên 8,64 tỷ đồng.

Đấu giá tại vườn giúp sầu riêng bán đúng giá trị

Đấu giá tại vườn giúp sầu riêng bán đúng giá trị

Lần đầu tiên tại tỉnh Đắk Lắk, các phiên đấu giá sầu riêng ngay tại vườn được tổ chức, nằm trong khuôn khổ Lễ hội Sầu riêng năm 2026. Phương thức tiêu thụ hoàn toàn mới này không chỉ mang về thêm hàng tỷ đồng cho người nông dân, mà còn cắt đứt khâu trung gian, tạo dựng niềm tin bền vững giữa doanh nghiệp xuất khẩu và người trồng.

Bồi đắp thế hệ nông dân - doanh nhân trẻ năng động, sáng tạo

Bồi đắp thế hệ nông dân - doanh nhân trẻ năng động, sáng tạo

Trong hai ngày 29 - 30/7, tại phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Tỉnh đoàn Lào Cai tổ chức Ngày hội “Thanh niên khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” năm 2026 và Vòng bán kết cuộc thi “Dự án khởi nghiệp thanh niên nông thôn năm 2026” khu vực miền Bắc.

Lâm Đồng quy trách nhiệm người đứng đầu cấp xã nếu để gián đoạn thu gom rác thải

Lâm Đồng quy trách nhiệm người đứng đầu cấp xã nếu để gián đoạn thu gom rác thải

Lãnh đạo UBND tỉnh Lâm Đồng vừa yêu cầu các xã, phường, đặc khu khẩn trương hoàn tất việc lựa chọn, ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Đồng thời quy rõ trách nhiệm của người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra tình trạng chậm trễ, ảnh hưởng đến công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn.

Nhiều diện tích lúa Hè Thu bị hư hại do chuột cắn phá

Nhiều diện tích lúa Hè Thu bị hư hại do chuột cắn phá

Dù nông dân tại một số khu vực thuộc xã, phường phía Đông của tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện nhiều biện pháp phòng trừ chuột cắn phá lúa nhưng đến nay vẫn chưa đạt hiệu quả. Nhiều diện tích lúa trong vụ Hè Thu vì vậy bị hư hại, nguy cơ cao thất thu trong vụ mùa này.

Kết nối nguồn lực trí thức với bài toán phát triển

Kết nối nguồn lực trí thức với bài toán phát triển

Tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi được kết nối với những vấn đề cụ thể của sản xuất, đời sống và quản lý. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang phát huy vai trò cầu nối, đưa tiếng nói của chuyên gia, nhà khoa học đến gần hơn với cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân.

Cựu chiến binh miền núi giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi

Cựu chiến binh miền núi giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi

Các mô hình kinh tế hiệu quả của hội viên Hội Cựu chiến binh được duy trì, nhân rộng, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương... Đây là đánh giá được đưa ra tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua "Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi" lần thứ VI, giai đoạn 2021 - 2026”, do Hội Cựu chiến binh tỉnh Lạng Sơn tổ chức chiều 29/7.

Hỗ trợ thanh niên kiến tạo sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số

Hỗ trợ thanh niên kiến tạo sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số

Ngày 29/7, tại phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Tỉnh Đoàn Lào Cai tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Khởi nghiệp từ bản sắc địa phương: Cơ hội phát triển sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số”.

Chủ động từ cơ sở để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai

Chủ động từ cơ sở để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai

Tuyên Quang là địa phương có địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều sông, suối và khu vực dân cư nằm xen kẽ các sườn dốc. Mỗi mùa mưa bão, nguy cơ lũ quét, sạt lở đất và ngập úng luôn hiện hữu, tác động trực tiếp đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất.

Sau mưa lớn, Lâm Đồng tập trung khắc phục hạ tầng, ổn định đời sống người dân

Sau mưa lớn, Lâm Đồng tập trung khắc phục hạ tầng, ổn định đời sống người dân

Từ các ngày từ 27- 29/7, mưa lớn đã xảy ra liên tiếp tại Lâm Đồng, chủ yếu vào chiều tối và đêm, gây ngập úng cục bộ, khiến nhiều diện tích nông nghiệp bị hư hại, đời sống người dân ở các địa phương bị ảnh hưởng. Hiện các địa phương đang khẩn trương huy động lực lượng, phương tiện khắc phục hậu quả mưa lũ, hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống và sản xuất.

Sức sống mới trên khu dân cư biên giới

Sức sống mới trên khu dân cư biên giới

Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các lực lượng chức năng, khu dân cư biên giới tổ 10, thôn Đoàn Kết (xã Thiện Hưng, thành phố Đồng Nai) đang từng ngày “thay da đổi thịt”.

Tây Ninh: Tái cơ cấu hệ thống cấp nước nông thôn

Tây Ninh: Tái cơ cấu hệ thống cấp nước nông thôn

Mặc dù tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã đạt 75,74%, song tính bền vững của hệ thống cấp nước vẫn là vấn đề đặt ra khi tỷ lệ hộ sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung mới đạt 51,53%; nhiều công trình quy mô nhỏ hoạt động chưa hiệu quả, hạ tầng xuống cấp, năng lực quản lý vận hành còn hạn chế. Trước yêu cầu bảo đảm nguồn nước phục vụ đời sống người dân, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng nhu cầu phát triển, tỉnh đang tập trung cơ cấu lại hệ thống cấp nước nông thôn theo hướng tập trung, hiện đại, an toàn và bền vững.

Giúp học dân sinh vùng dân tộc tự tin bước vào năm học mới

Giúp học dân sinh vùng dân tộc tự tin bước vào năm học mới

Tại các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Khánh Hòa, thời gian này có rất đông trẻ đến trường để làm quen và học sớm tiếng phổ thông (tiếng Việt) đầu cấp tiểu học. Đây là hoạt động thiết thực, giúp các em khỏi bỡ ngỡ, mạnh dạn giao tiếp, sớm thành thạo kỹ năng nghe, nói tiếng phổ thông trước khi bước vào năm học mới.

Lào Cai tập trung khắc phục thiệt hại do mưa lớn

Lào Cai tập trung khắc phục thiệt hại do mưa lớn

Do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài từ chiều tối 27 đến ngày 28/7, tỉnh Lào Cai xuất hiện nhiều điểm sạt lở và cuốn trôi hoa màu của nhân dân. Các địa phương tập trung huy động lực lượng khắc phục hậu quả thiên tai gây ra.