Ấm áp nghĩa tình nơi biên cương Tổ quốc

​Trong khuôn khổ chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng Việt Nam – Lào, sáng 8/7, Trạm Y tế Thanh Thủy, xã Kim Bảng (Nghệ An) rộn ràng như một ngày hội.

Ngay từ tờ mờ sáng, bà con các thôn bản đã tập trung đông đủ, chờ đón đoàn y bác sĩ của Bệnh viện Quân y 4. Các y, bác sĩ đã khám tổng quát, đo huyết áp, siêu âm, xét nghiệm, khám nội – ngoại khoa, tư vấn trực tiếp cách phòng chống những bệnh thường gặp ở vùng núi. Không chỉ nhận thuốc miễn phí, bà con còn được hướng dẫn cách sử dụng an toàn, hiệu quả.

kham2-8726.jpg
Đại tá Nguyễn An Giang, Giám đốc Bệnh viện Quân y 4 kiểm tra công tác khám chữa bệnh cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

Chỉ trong buổi sáng, hơn 700 lượt người dân được thăm khám và cấp thuốc miễn phí. Bà con cảm nhận rõ sự quan tâm, trách nhiệm và tình cảm của những người lính áo trắng của Bệnh viện Quân y 4 đối với đời sống sức khỏe cộng đồng. Đó không chỉ là hoạt động chuyên môn, mà còn là minh chứng sống động cho tinh thần bộ đội Cụ Hồ luôn gắn bó, đồng hành cùng người dân nơi phên dậu của Tổ quốc. Những cái bắt tay thân tình giữa đồng bào và bác sĩ cho thấy rõ sự gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân. Những hoạt động nhân văn này không chỉ chữa lành bệnh tật, mà còn mang đến niềm tin và hy vọng cho bà con vùng biên giới.

Thăm khám miễn phí cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

Thăm khám miễn phí cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

Chị Nguyễn Thị Thu, thôn Hà Lương, xúc động kể, chị đưa con gái 5 tuổi đi khám vì cháu ho, sốt cao nhiều ngày. Cuộc sống vùng núi khó khăn, mỗi lần con bệnh phải đi hơn 10km mới đến được cơ sở y tế, đường xa vất vả nên nhiều khi ngại đi khám, chỉ dùng lá thuốc dân gian. Hôm nay, được các bác sĩ Bệnh viện Quân y 4 về tận nơi thăm khám, cấp thuốc miễn phí, chị rất vui. Các bác sĩ tận tình, chu đáo, vừa khám vừa hướng dẫn cách chăm sóc sức khỏe. Việc khám và cấp thuốc miễn phí không chỉ giúp gia đình bớt khó khăn mà còn mang lại niềm tin, sự an tâm cho bà con vùng biên giới.

​Cùng chung niềm xúc động, ông Vi Văn Toàn, 65 tuổi, thôn Minh Đức chia sẻ, nhiều năm nay ông thường xuyên đau đầu, nhức mỏi, nhất là khi trái gió trở trời. Mỗi lần bệnh nặng, ông phải đi xuống trạm y tế xã cách nhà gần 15km, đường núi quanh co, đi lại rất vất vả. Hôm nay, khi nghe tin có đoàn bác sĩ Bệnh viện Quân y 4 về tận xã thăm khám, ông mừng lắm và mong rằng những chương trình như thế này sẽ được tổ chức thường xuyên, để bà con vùng biên giới luôn được quan tâm, chăm sóc.

Chuẩn bị thuốc để cấp phát miễn phí cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

Chuẩn bị thuốc để cấp phát miễn phí cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

​Ông Đặng Văn Tuấn, Phó Chủ tịch xã Kim Bảng thông tin: Địa bàn miền núi biên giới nên đời sống bà con vốn nhiều khó khăn. Đồng bào ở đây chủ yếu là dân tộc Thái, Khơ Mú… sống rải rác, xa trung tâm xã nên việc tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng không hề dễ dàng. Mỗi lần đi khám, bà con phải vượt hàng chục km đường núi, vừa tốn kém vừa vất vả. Chính vì vậy, việc các bác sĩ Bệnh viện Quân y 4 về tận nơi thăm khám, cấp thuốc miễn phí đã giúp bà con giảm bớt gánh nặng, yên tâm hơn trong việc chăm sóc sức khỏe. Hoạt động này không chỉ mang lại niềm tin, sự an tâm cho đồng bào mà còn góp phần thắt chặt tình đoàn kết quân dân nơi biên giới.

​Đại tá Nguyễn An Giang, Giám đốc Bệnh viện Quân y 4 nêu rõ, hoạt động khám, tư vấn sức khỏe và cấp thuốc miễn phí cho người dân vùng biên giới không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là tình cảm, sự sẻ chia của đội ngũ y bác sĩ đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa. Đây là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần tương thân, tương ái và tình đoàn kết quân – dân sâu nặng. Quãng đường hành quân gần 100km, địa hình núi rừng hiểm trở, điều kiện đi lại khó khăn, song với quyết tâm cao và lòng nhiệt huyết, đội ngũ y tế của Bệnh viện Quân y 4 vẫn mang đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho nhân dân. Từ đầu năm đến nay, Bệnh viện Quân y 4 đã triển khai 3 đoàn khám, tư vấn sức khỏe và cấp thuốc miễn phí cho người dân tỉnh Nghệ An, với sự tham gia của 100 lượt cán bộ, nhân viên y tế, tổng trị giá gần 300 triệu đồng. Dù ở bất cứ nơi đâu, Bệnh viện Quân y 4 luôn hướng tới mục tiêu vì sức khỏe cộng đồng, vì sự bình yên nơi biên cương./.

Dân tộc Khơ Mú

Tên tự gọi: Kmụ, Kưm Mụ.

Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.

Dân số: 72.929 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Khơ Mú là một trong những cư dân đã cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc Việt Nam. Bộ phận Khơ Mú cư trú tại miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An do chuyển cư từ Lào sang.

Hoạt động sản xuất: Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy nên được gọi là "Xá ăn lửa". Ngoài hình thái du canh du cư là chủ yếu, bộ phận định cư thường canh tác nương theo chu trình vòng tròn khép kín. Cây trồng ngoài lúa ngô ra còn có bầu bí, đỗ và các loại cây có củ. Công cụ sản xuất gồm rìu, dao, cuốc, trong đó đáng lưu ý nhất là chiếc gậy chọc lỗ. Hoặc gậy đơn hoặc gậy kép (bịt sắt) có thể dùng nhiều năm. Hái lượm và săn bắn vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Nghề phụ gia đình chủ yếu là đan lát đồ gia dụng. Một số nơi biết thêm nghề rèn, mộc, dệt vải. Việc trao đổi, mua bán chủ yếu là hình thức hàng đổi hàng. Vỏ ốc "kxoong" trước kia được coi như vật ngang giá. Người Khơ Mú chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà phục vụ sức kéo và nhu cầu tiêu dùng, tín ngưỡng.

Ăn: Người Khơ Mú thường đồ xôi hay đồ ngô, độn sắn. Họ thích ăn những món có vị cay, chua, đắng, các thức ăn nướng có mùi như chẻo, nậm pịa, cá chua...

Mặc: Người Khơ Mú mặc giống người Thái, nhưng có điều khác là cách trang trí những hàng tiền bạc và vỏ ốc ở phía thân áo của phụ nữ. Ngày nay, phần lớn người Khơ Mú, nhất là nam giới đều ăn mặc theo người Việt.

: Hiện nay họ cư trú tại các tỉnh: Yên Bái, Sơn La, Lai Châu. Vì điều kiện du canh, du cư nên bản làng thường nhỏ bé, rải rác. Nhà sàn chủ yếu dùng cột không ngoãm, vách phên, sàn bương. Hiện nay nhiều nơi đã làm nhà khang trang, vững chãi hơn.

Phương tiện vận chuyển: Cơ bản là gùi có dây đeo trên trán, có ách và các loại túi đeo, bộ phận người Khơ Mú làm ruộng dùng thêm sọt gánh.

Quan hệ xã hội: Người Khơ Mú quan hệ chặt chẽ giữa những người đồng tộc và những người láng giềng, nhất là người Thái. Mỗi bản gồm nhiều gia đình thuộc các dòng họ khác nhau. Mỗi họ có trưởng họ. Người dân bản trong bản đã có phân hoá giàu nghèo. Những dòng họ người Khơ Mú đều mang tên thú, chim, cây cỏ... có thể chia làm 3 nhóm tên họ. Nhóm tên thú gồm hổ, chồn, cầy hương... Nhóm tên chim gồm phượng hoàng đất, chìa vôi, cuốc, bìm bịp... Nhóm tên cây gồm guột, rau đớn, dương xỉ, tỏi ... Ngoài ra còn một số họ mang tên vật vô tri như: rọ lợn, môi múc canh...

Cưới xin: Hôn nhân theo nguyên tắc thuận chiếu, đặc biệt trong phạm vi một dòng họ. Trong hôn nhân, nhiều tàn dư mẫu hệ còn tồn tại như tục ở rể, chồng mang họ vợ, hôn nhân anh em vợ, chị em chồng... Ðám cưới được tiến hành qua các khâu dạm hỏi, ở rể, lễ cưới ở bên nhà vợ và lễ đón dâu... Trai gái được tự do tìm hiểu nhưng quyền quyết định do bố mẹ, đặc biệt là ông cậu. Ông cậu là người có ý kiến quyết định tiền thách cưới, đồ sính lễ.

Ma chay: Ðám ma của người Khơ Mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng. Ðặc biệt bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ sau đó mới đem thi hài đi chôn.

Nhà mới: Lên nhà mới là dịp vui của gia đình và cả bản. Chủ nhà thường mổ lợn thiết đãi bà con xóm giềng. Ðây là dịp dân bản trình diễn các sinh hoạt văn nghệ có tính cộng đồng.

vna_potal_dien_bien_doc_dao_sac_mau_khong_gian_van_hoa_cac_cong_dong_dan_toc_trong_le_hoi_hoa_ban_nam_2023_6626009.jpg
Không gian văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khơ-mú. Ảnh: Xuân Tiến – TTXVN

Lễ tết: Ngoài tết Nguyên đán ra, người Khơ Mú còn ăn tết cơm mới. Tết được tổ chức sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Ðây là dịp vui của cả bản sau một thời gian lao động mệt nhọc. Tết cơm mới của người Khơ Mú thể hiện hiện sắc thái văn hoá tộc người đậm nét. Họ còn duy trì nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, trồng trọt.

Thờ cúng: Người Khơ Mú quan niệm có 5 loại ma quan trọng nhất là: ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên và ma nhà. Ðó là các loại ma mang điều lành cho con người nhưng đôi khi giận dữ có thể gây tai hoạ trừng phạt con người.

Ngoài lễ cúng mường, người Khơ Mú còn lễ cúng bản, đặc biệt là lễ cúng ma nhà trong các dịp tết và khi con cháu trong nhà đau ốm. Bàn thờ ma nhà đặt trên gác bếp, còn ông bà thờ ở một gian riêng kín đáo và rất kiêng kỵ đối với người ngoài. Mỗi dòng họ vẫn duy trì tục thờ ma dòng họ với nghi thức và các động tác mang tính đặc trưng riêng.

Lịch: Ngoài theo lịch Thái, người Khơ Mú phổ biến cách tính ngày giờ căn cứ theo bảng cà la để vận dụng trong việc dựng nhà, cưới gả...

Học: Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.

Văn nghệ: Làn điệu dân ca quen thuộc nhiều người ưa thích là Tơm. Làn điệu này mang đậm tính sử thi, trữ tình. Cách hát theo kiểu đối đáp. Người Khơ Mú thích xoè, múa, thổi các loại sáo, các bộ gõ bằng tre, nứa tự tạo, đặc biệt là thổi kèn môi.

Chơi: Trong các ngày lễ tết, trẻ em hay đánh cầu lông làm bằng lông gà, đánh quay và các trò chơi dân gian khác.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khơ Mú
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Những điểm tựa không rời người dân vùng tâm lũ

Những điểm tựa không rời người dân vùng tâm lũ

Những ngày cuối tháng 8/2026, khi từng cơn mưa lớn kéo dài dai dẳng do ảnh hưởng của cơn bão số 4 dội xuống, nhiều khu vực dân cư trũng thấp ở tỉnh Lạng Sơn nhanh chóng chìm trong biển nước. Mưa lớn đã biến các con đường, những xóm làng bình yên trở thành những “lòng hồ” nước xiết. Trong vùng nước lũ cô lập hoàn toàn, cuộc sống của người dân vô vàn khó khăn, thiếu thốn song vẫn sáng tinh thần tương thân tương ái; đó là sự hy sinh thầm lặng của đội ngũ y bác sĩ cùng sự vào cuộc quyết liệt, không quản ngại nguy hiểm của chính quyền các địa phương.

Lạng Sơn: Dồn lực khắc phục hậu quả lũ lụt

Lạng Sơn: Dồn lực khắc phục hậu quả lũ lụt

Mưa như trút nước không dứt khiến nhiều khu dân cư tại phường trung tâm và các xã tại Lạng Sơn bị ngập sâu, cô lập, giao thông chia cắt. Bản tin thời tiết của Đài Khí tượng Thủy văn Lạng Sơn liên tục phát đi cảnh báo lũ trên các sông liên tục dâng cao và vượt ngưỡng báo động III khiến không ít người cảm thấy lo lắng. Tuy nhiên, khi nhận được tin các xã: Thất Khê, Tràng Định - được ví như "rốn lũ" của tỉnh ngập sâu. Hàng nghìn nhà dân bị ngập nước, trong đó nhiều hộ phải di dời, chúng tôi quyết định đi xuyên mưa bão để tiếp cận những địa phương này...

Thanh Hóa: Khẩn trương khắc phục sạt lở, thông tuyến giao thông sau bão số 4

Thanh Hóa: Khẩn trương khắc phục sạt lở, thông tuyến giao thông sau bão số 4

Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa do ảnh hưởng do bão số 4 nên nhiều địa phương miền núi đã xảy ra mưa lớn kéo dài, làm tăng nguy cơ sạt lở đất và ngập lụt tại nhiều khu vực miền núi. Trước diễn biến phức tạp của mưa lớn, các địa phương miền núi tại Thanh Hoá đã chủ động tổ chức di dời, sơ tán người dân từ vùng nguy hiểm đến nơi an toàn, đảm bảo an toàn cho người và tài sản người dân miền núi.

Tạo môi trường học tập toàn diện cho trẻ em vùng khó, đồng bào dân tộc thiểu số

Tạo môi trường học tập toàn diện cho trẻ em vùng khó, đồng bào dân tộc thiểu số

Chiều 24/8, tại tỉnh Tây Ninh, Bộ Công an phối hợp UBND tỉnh Tây Ninh tổ chức Lễ công bố Quyết định về thành lập Trường Văn hóa Công an nhân dân IV. Đây là mô hình giáo dục, đào tạo gắn với thực hiện chính sách an sinh xã hội, tạo môi trường học tập, rèn luyện toàn diện cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em dân tộc thiểu số và con em gia đình chính sách.

Mưa lũ chia cắt bản Na Ngân, gần 740 người bị “cô lập kép”

Mưa lũ chia cắt bản Na Ngân, gần 740 người bị “cô lập kép”

Chiều 24/8, ông Lương Văn Ùn, Trưởng bản Na Ngân, xã Nga My, tỉnh Nghệ An xác nhận, từ chiều 23 đến rạng sáng 24/8, mưa lớn kéo dài trên địa bàn khiến mực nước suối Nậm Ngân dâng cao nhanh, dòng chảy xiết, gây ngập toàn bộ khu vực bãi bờ đoạn chảy qua bản và chia cắt bản làng thành hai khu vực biệt lập.

Quân khu 7 đồng hành cùng nhân dân vùng biên Lâm Đồng

Quân khu 7 đồng hành cùng nhân dân vùng biên Lâm Đồng

Ngày 24/8, Đoàn công tác Bộ Tư lệnh Quân khu 7 do Trung tướng Trần Vinh Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu làm trưởng đoàn, đã đến kiểm tra lực lượng thi công các công trình trường nội trú liên cấp, nắm tình hình Điểm dân cư biên giới và thực hiện chuỗi hoạt động an sinh xã hội tại hai xã Quảng Trực, Thuận An, tỉnh Lâm Đồng. Đây là các địa bàn vùng sâu, vùng xa có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn.

Lạng Sơn không để người dân vùng ngập lụt, cô lập thiếu nhu yếu phẩm

Lạng Sơn không để người dân vùng ngập lụt, cô lập thiếu nhu yếu phẩm

Kiểm tra công tác ứng phó, khắc phục thiệt hại do cơn bão số 4 tại 2 xã miền núi biên giới Kiên Mộc và Khuất Xá ngày 24/8, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Trần Thanh Nhàn đề nghị các địa phương, cơ quan liên quan phải thực hiện đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản cho nhân dân; không được để bất kỳ ai ở khu vực bị ngập sâu, cô lập thiếu các điều kiện sinh hoạt cần thiết...

Nhiều tuyến đường bị hư hỏng nặng bởi thiên tai ở xã biên giới Thu Lũm

Nhiều tuyến đường bị hư hỏng nặng bởi thiên tai ở xã biên giới Thu Lũm

Những trận mưa lớn kéo dài trong thời gian tháng 7 và tháng 8 vừa qua đã gây nhiều thiệt hại về hạ tầng giao thông trên địa bàn xã biên giới Thu Lũm (Lai Châu). Nhiều tuyến đường bị sạt lở, đất đá tràn xuống mặt đường, ảnh hưởng trực tiếp đến việc đi lại, sản xuất và đời sống của người dân.

Tuổi trẻ góp sức đổi thay vùng biên

Tuổi trẻ góp sức đổi thay vùng biên

Từ những công trình, phần việc thiết thực đến hoạt động chăm lo thiếu nhi, hỗ trợ người dân, tuổi trẻ Tây Ninh đang phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, góp sức xây dựng quê hương biên giới ngày càng phát triển, văn minh, nghĩa tình.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Ngày 24/8, UBND thành phố Cần Thơ đã tổ chức hội nghị đẩy nhanh tiến độ và phát động thi đua thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 theo hình thức trực tiếp và trực tuyến đến các xã trên địa bàn.

Chiến khu Mường Diềm khai thác lợi thế, xây dựng quê hương

Chiến khu Mường Diềm khai thác lợi thế, xây dựng quê hương

Từ một vùng căn cứ cách mạng góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945, Mường Diềm hôm nay đang từng bước đổi thay. Phát huy truyền thống cách mạng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Quy Đức, tỉnh Phú Thọ tập trung khai thác tiềm năng, chuyển đổi sản xuất, đầu tư kết cấu hạ tầng và triển khai các chính sách hỗ trợ người dân, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội.

Những mái ấm - món quà ý nghĩa mừng Tết Độc lập

Những mái ấm - món quà ý nghĩa mừng Tết Độc lập

Những ngày này, các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cà Mau đang khẩn trương tổ chức bàn giao nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học gặp khó khăn về nhà ở.

Ký ức không quên về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lòng người dân Tam Kim

Ký ức không quên về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lòng người dân Tam Kim

Xã Tam Kim (tỉnh Cao Bằng) là nơi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Hình ảnh 34 chiến sĩ quân đội đầu tiên cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp là ký ức không thể quên với người dân nơi đây. Sau này, khi có dịp về thăm Tam Kim, Đại tướng đã dành thời gian trò chuyện, động viên người dân. Những tấm ảnh chụp chung với Đại tướng đã trở thành niềm vinh dự, tự hào để kể cho thế hệ trẻ về vị Đại tướng Nhân dân và vùng đất cách mạng.

Nghệ An: Nhịp sống bản Na Ngân sau 4 ngày cô lập giữa đại ngàn Pù Huống

Nghệ An: Nhịp sống bản Na Ngân sau 4 ngày cô lập giữa đại ngàn Pù Huống

Mưa lớn kéo dài từ chiều 19/8/2026 khiến nước suối dâng cao, hàng chục điểm sạt lở xuất hiện, đất đá và cây rừng tràn xuống đường, nhiều đoạn bị sụt lún, đứt gãy, bản làng bị cô lập. Sau 5 ngày, việc đi lại, vận chuyển lương thực, hàng hóa và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân vẫn gặp nhiều khó khăn. Trong đêm 23 và rạng sáng 24/8, mưa lớn tiếp tục, một số điểm sạt lở tái diễn, nước suối Nậm Ngân tại khu vực khe Đền dâng cao, khu vực này tiếp tục đối diện với nguy cơ bị chia cắt nếu mưa lũ kéo dài.

Ảnh hưởng bão số 4: Người dân khu vực ven sông Cầu (Thái Nguyên) cả đêm nỗ lực chống lũ

Ảnh hưởng bão số 4: Người dân khu vực ven sông Cầu (Thái Nguyên) cả đêm nỗ lực chống lũ

Từ ngày 21 đến ngày 24/8, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to, lượng mưa phổ biến 50-120mm, có nơi trên 200mm. Mưa lớn khiến mực nước các sông dâng cao, gây ngập úng cục bộ, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và tài sản của người dân, đặc biệt tại các khu vực ven sông Cầu.

Nghệ An: Bản Na Ngân 4 ngày bị cô lập, đường vào bản vẫn ngổn ngang sạt lở

Nghệ An: Bản Na Ngân 4 ngày bị cô lập, đường vào bản vẫn ngổn ngang sạt lở

Bản Na Ngân (xã Nga My, Nghệ An) có hơn 150 hộ với gần 740 nhân khẩu, đều là đồng bào dân tộc Thái, nằm biệt lập giữa đại ngàn Pù Huống. Bản cách trung tâm xã và Quốc lộ 48C hơn 20 km, chỉ có tuyến đường độc đạo xuyên rừng, men theo lưng đồi, lưng núi và suối Nậm Ngân. Sau những ngày mưa lớn kéo dài, tuyến đường xuất hiện hàng chục điểm sạt lở, sụt trượt, nhiều đoạn bị đứt gãy khiến bản Na Ngân bị cô lập từ chiều 19/8.

Đồng vốn nhỏ, sinh kế lớn ở vùng khó Phú Thọ

Đồng vốn nhỏ, sinh kế lớn ở vùng khó Phú Thọ

Từ những khoản vay ưu đãi được đưa đến tận cơ sở, nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách ở Phú Thọ có thêm nguồn lực đầu tư sản xuất, mở rộng sinh kế. Ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi người dân còn thiếu vốn và điều kiện tiếp cận thị trường, tín dụng chính sách đang trở thành điểm tựa giúp nhiều hộ mạnh dạn làm ăn, từng bước thoát nghèo bền vững.

Không để người dân vùng mưa lũ thiếu lương thực

Không để người dân vùng mưa lũ thiếu lương thực

Ngày 23/8, trước diễn biến phức tạp của mưa lớn gây ngập úng tại nhiều địa phương, các đoàn công tác của lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn đã trực tiếp đến kiểm tra thực tế, chỉ đạo công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và thăm hỏi, động viên, trao hỗ trợ cho người dân khu vực bị ảnh hưởng.

Lạng Sơn hỗ trợ khẩn cấp hơn 650 suất quà cho người dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 4

Lạng Sơn hỗ trợ khẩn cấp hơn 650 suất quà cho người dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 4

Ngày 23/8/2026, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Tỉnh đoàn và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức trao hơn 650 suất quà hỗ trợ khẩn cấp cho các hộ dân bị ảnh hưởng nặng do cơn bão số 4, mưa lũ tại các xã: Mẫu Sơn, Vạn Linh, Thất Khê, Tràng Định, Tân Đoàn và Quan Sơn. Các suất quà gồm nhu yếu phẩm thiết yếu như nước uống, lương khô, mì tôm… giúp người dân khắc phục khó khăn trước mắt, ổn định cuộc sống.

Lạng Sơn khắc phục hậu quả mưa lũ, cảnh báo tiếp tục nguy cơ lũ quét, sạt lở

Lạng Sơn khắc phục hậu quả mưa lũ, cảnh báo tiếp tục nguy cơ lũ quét, sạt lở

Theo báo cáo từ các địa phương tỉnh Lạng Sơn, tính đến 17 giờ ngày 23/8, mưa lớn kéo dài đã gây thiệt hại trên diện rộng, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, giao thông và nhiều công trình dân sinh. Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, các địa phương đang khẩn trương rà soát thiệt hại, tổ chức di dời người dân khỏi khu vực nguy hiểm, khắc phục hậu quả và chủ động các phương án ứng phó với nguy cơ tiếp tục xảy ra lũ quét, sạt lở đất.

Mưa lớn, dông lốc tại Cao Bằng gây thiệt hại khoảng 1,7 tỷ đồng

Mưa lớn, dông lốc tại Cao Bằng gây thiệt hại khoảng 1,7 tỷ đồng

Từ ngày 21 - 23/8, do ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới cùng cơn bão số 4 trên khu vực Vịnh Bắc Bộ, khu vực tỉnh Cao Bằng có mưa vừa, mưa to diện rộng, có nơi mưa rất to gây thiệt hại về nhà ở, công trình cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp. Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 1,7 tỷ đồng.

Xã vùng cao Ba Chẽ khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ

Xã vùng cao Ba Chẽ khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ

Do ảnh hưởng bão số 4, từ chiều tối 22/8, trên địa bàn xã Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã xuất hiện lũ từ thượng nguồn đổ mạnh về các sông, suối và các khu vực thấp trũng, gây ngập úng, bùn đất tràn ra một số tuyến đường, đặc biệt là các địa bàn thuộc khu vực thị trấn cũ làm ảnh hưởng việc đi lại và sinh hoạt của người dân.

Nâng cao thu nhập từ nuôi cá tầm

Nâng cao thu nhập từ nuôi cá tầm

Tận dụng lợi thế khí hậu mát mẻ, nguồn nước lạnh tự nhiên, người dân xã Cao Bồ (Tuyên Quang) đang từng bước phát triển nghề nuôi cá tầm theo hướng sản xuất hàng hóa, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đây được xem như hướng đi triển vọng trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.