Ấm áp nghĩa tình nơi biên cương Tổ quốc

​Trong khuôn khổ chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng Việt Nam – Lào, sáng 8/7, Trạm Y tế Thanh Thủy, xã Kim Bảng (Nghệ An) rộn ràng như một ngày hội.

Ngay từ tờ mờ sáng, bà con các thôn bản đã tập trung đông đủ, chờ đón đoàn y bác sĩ của Bệnh viện Quân y 4. Các y, bác sĩ đã khám tổng quát, đo huyết áp, siêu âm, xét nghiệm, khám nội – ngoại khoa, tư vấn trực tiếp cách phòng chống những bệnh thường gặp ở vùng núi. Không chỉ nhận thuốc miễn phí, bà con còn được hướng dẫn cách sử dụng an toàn, hiệu quả.

kham2-8726.jpg
Đại tá Nguyễn An Giang, Giám đốc Bệnh viện Quân y 4 kiểm tra công tác khám chữa bệnh cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

Chỉ trong buổi sáng, hơn 700 lượt người dân được thăm khám và cấp thuốc miễn phí. Bà con cảm nhận rõ sự quan tâm, trách nhiệm và tình cảm của những người lính áo trắng của Bệnh viện Quân y 4 đối với đời sống sức khỏe cộng đồng. Đó không chỉ là hoạt động chuyên môn, mà còn là minh chứng sống động cho tinh thần bộ đội Cụ Hồ luôn gắn bó, đồng hành cùng người dân nơi phên dậu của Tổ quốc. Những cái bắt tay thân tình giữa đồng bào và bác sĩ cho thấy rõ sự gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân. Những hoạt động nhân văn này không chỉ chữa lành bệnh tật, mà còn mang đến niềm tin và hy vọng cho bà con vùng biên giới.

Thăm khám miễn phí cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

Thăm khám miễn phí cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

Chị Nguyễn Thị Thu, thôn Hà Lương, xúc động kể, chị đưa con gái 5 tuổi đi khám vì cháu ho, sốt cao nhiều ngày. Cuộc sống vùng núi khó khăn, mỗi lần con bệnh phải đi hơn 10km mới đến được cơ sở y tế, đường xa vất vả nên nhiều khi ngại đi khám, chỉ dùng lá thuốc dân gian. Hôm nay, được các bác sĩ Bệnh viện Quân y 4 về tận nơi thăm khám, cấp thuốc miễn phí, chị rất vui. Các bác sĩ tận tình, chu đáo, vừa khám vừa hướng dẫn cách chăm sóc sức khỏe. Việc khám và cấp thuốc miễn phí không chỉ giúp gia đình bớt khó khăn mà còn mang lại niềm tin, sự an tâm cho bà con vùng biên giới.

​Cùng chung niềm xúc động, ông Vi Văn Toàn, 65 tuổi, thôn Minh Đức chia sẻ, nhiều năm nay ông thường xuyên đau đầu, nhức mỏi, nhất là khi trái gió trở trời. Mỗi lần bệnh nặng, ông phải đi xuống trạm y tế xã cách nhà gần 15km, đường núi quanh co, đi lại rất vất vả. Hôm nay, khi nghe tin có đoàn bác sĩ Bệnh viện Quân y 4 về tận xã thăm khám, ông mừng lắm và mong rằng những chương trình như thế này sẽ được tổ chức thường xuyên, để bà con vùng biên giới luôn được quan tâm, chăm sóc.

Chuẩn bị thuốc để cấp phát miễn phí cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

Chuẩn bị thuốc để cấp phát miễn phí cho người dân. Ảnh: Văn Tý/TTXVN

​Ông Đặng Văn Tuấn, Phó Chủ tịch xã Kim Bảng thông tin: Địa bàn miền núi biên giới nên đời sống bà con vốn nhiều khó khăn. Đồng bào ở đây chủ yếu là dân tộc Thái, Khơ Mú… sống rải rác, xa trung tâm xã nên việc tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng không hề dễ dàng. Mỗi lần đi khám, bà con phải vượt hàng chục km đường núi, vừa tốn kém vừa vất vả. Chính vì vậy, việc các bác sĩ Bệnh viện Quân y 4 về tận nơi thăm khám, cấp thuốc miễn phí đã giúp bà con giảm bớt gánh nặng, yên tâm hơn trong việc chăm sóc sức khỏe. Hoạt động này không chỉ mang lại niềm tin, sự an tâm cho đồng bào mà còn góp phần thắt chặt tình đoàn kết quân dân nơi biên giới.

​Đại tá Nguyễn An Giang, Giám đốc Bệnh viện Quân y 4 nêu rõ, hoạt động khám, tư vấn sức khỏe và cấp thuốc miễn phí cho người dân vùng biên giới không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là tình cảm, sự sẻ chia của đội ngũ y bác sĩ đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa. Đây là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần tương thân, tương ái và tình đoàn kết quân – dân sâu nặng. Quãng đường hành quân gần 100km, địa hình núi rừng hiểm trở, điều kiện đi lại khó khăn, song với quyết tâm cao và lòng nhiệt huyết, đội ngũ y tế của Bệnh viện Quân y 4 vẫn mang đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho nhân dân. Từ đầu năm đến nay, Bệnh viện Quân y 4 đã triển khai 3 đoàn khám, tư vấn sức khỏe và cấp thuốc miễn phí cho người dân tỉnh Nghệ An, với sự tham gia của 100 lượt cán bộ, nhân viên y tế, tổng trị giá gần 300 triệu đồng. Dù ở bất cứ nơi đâu, Bệnh viện Quân y 4 luôn hướng tới mục tiêu vì sức khỏe cộng đồng, vì sự bình yên nơi biên cương./.

Dân tộc Khơ Mú

Tên tự gọi: Kmụ, Kưm Mụ.

Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.

Dân số: 72.929 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Khơ Mú là một trong những cư dân đã cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc Việt Nam. Bộ phận Khơ Mú cư trú tại miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An do chuyển cư từ Lào sang.

Hoạt động sản xuất: Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy nên được gọi là "Xá ăn lửa". Ngoài hình thái du canh du cư là chủ yếu, bộ phận định cư thường canh tác nương theo chu trình vòng tròn khép kín. Cây trồng ngoài lúa ngô ra còn có bầu bí, đỗ và các loại cây có củ. Công cụ sản xuất gồm rìu, dao, cuốc, trong đó đáng lưu ý nhất là chiếc gậy chọc lỗ. Hoặc gậy đơn hoặc gậy kép (bịt sắt) có thể dùng nhiều năm. Hái lượm và săn bắn vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Nghề phụ gia đình chủ yếu là đan lát đồ gia dụng. Một số nơi biết thêm nghề rèn, mộc, dệt vải. Việc trao đổi, mua bán chủ yếu là hình thức hàng đổi hàng. Vỏ ốc "kxoong" trước kia được coi như vật ngang giá. Người Khơ Mú chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà phục vụ sức kéo và nhu cầu tiêu dùng, tín ngưỡng.

Ăn: Người Khơ Mú thường đồ xôi hay đồ ngô, độn sắn. Họ thích ăn những món có vị cay, chua, đắng, các thức ăn nướng có mùi như chẻo, nậm pịa, cá chua...

Mặc: Người Khơ Mú mặc giống người Thái, nhưng có điều khác là cách trang trí những hàng tiền bạc và vỏ ốc ở phía thân áo của phụ nữ. Ngày nay, phần lớn người Khơ Mú, nhất là nam giới đều ăn mặc theo người Việt.

: Hiện nay họ cư trú tại các tỉnh: Yên Bái, Sơn La, Lai Châu. Vì điều kiện du canh, du cư nên bản làng thường nhỏ bé, rải rác. Nhà sàn chủ yếu dùng cột không ngoãm, vách phên, sàn bương. Hiện nay nhiều nơi đã làm nhà khang trang, vững chãi hơn.

Phương tiện vận chuyển: Cơ bản là gùi có dây đeo trên trán, có ách và các loại túi đeo, bộ phận người Khơ Mú làm ruộng dùng thêm sọt gánh.

Quan hệ xã hội: Người Khơ Mú quan hệ chặt chẽ giữa những người đồng tộc và những người láng giềng, nhất là người Thái. Mỗi bản gồm nhiều gia đình thuộc các dòng họ khác nhau. Mỗi họ có trưởng họ. Người dân bản trong bản đã có phân hoá giàu nghèo. Những dòng họ người Khơ Mú đều mang tên thú, chim, cây cỏ... có thể chia làm 3 nhóm tên họ. Nhóm tên thú gồm hổ, chồn, cầy hương... Nhóm tên chim gồm phượng hoàng đất, chìa vôi, cuốc, bìm bịp... Nhóm tên cây gồm guột, rau đớn, dương xỉ, tỏi ... Ngoài ra còn một số họ mang tên vật vô tri như: rọ lợn, môi múc canh...

Cưới xin: Hôn nhân theo nguyên tắc thuận chiếu, đặc biệt trong phạm vi một dòng họ. Trong hôn nhân, nhiều tàn dư mẫu hệ còn tồn tại như tục ở rể, chồng mang họ vợ, hôn nhân anh em vợ, chị em chồng... Ðám cưới được tiến hành qua các khâu dạm hỏi, ở rể, lễ cưới ở bên nhà vợ và lễ đón dâu... Trai gái được tự do tìm hiểu nhưng quyền quyết định do bố mẹ, đặc biệt là ông cậu. Ông cậu là người có ý kiến quyết định tiền thách cưới, đồ sính lễ.

Ma chay: Ðám ma của người Khơ Mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng. Ðặc biệt bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ sau đó mới đem thi hài đi chôn.

Nhà mới: Lên nhà mới là dịp vui của gia đình và cả bản. Chủ nhà thường mổ lợn thiết đãi bà con xóm giềng. Ðây là dịp dân bản trình diễn các sinh hoạt văn nghệ có tính cộng đồng.

vna_potal_dien_bien_doc_dao_sac_mau_khong_gian_van_hoa_cac_cong_dong_dan_toc_trong_le_hoi_hoa_ban_nam_2023_6626009.jpg
Không gian văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khơ-mú. Ảnh: Xuân Tiến – TTXVN

Lễ tết: Ngoài tết Nguyên đán ra, người Khơ Mú còn ăn tết cơm mới. Tết được tổ chức sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Ðây là dịp vui của cả bản sau một thời gian lao động mệt nhọc. Tết cơm mới của người Khơ Mú thể hiện hiện sắc thái văn hoá tộc người đậm nét. Họ còn duy trì nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, trồng trọt.

Thờ cúng: Người Khơ Mú quan niệm có 5 loại ma quan trọng nhất là: ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên và ma nhà. Ðó là các loại ma mang điều lành cho con người nhưng đôi khi giận dữ có thể gây tai hoạ trừng phạt con người.

Ngoài lễ cúng mường, người Khơ Mú còn lễ cúng bản, đặc biệt là lễ cúng ma nhà trong các dịp tết và khi con cháu trong nhà đau ốm. Bàn thờ ma nhà đặt trên gác bếp, còn ông bà thờ ở một gian riêng kín đáo và rất kiêng kỵ đối với người ngoài. Mỗi dòng họ vẫn duy trì tục thờ ma dòng họ với nghi thức và các động tác mang tính đặc trưng riêng.

Lịch: Ngoài theo lịch Thái, người Khơ Mú phổ biến cách tính ngày giờ căn cứ theo bảng cà la để vận dụng trong việc dựng nhà, cưới gả...

Học: Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.

Văn nghệ: Làn điệu dân ca quen thuộc nhiều người ưa thích là Tơm. Làn điệu này mang đậm tính sử thi, trữ tình. Cách hát theo kiểu đối đáp. Người Khơ Mú thích xoè, múa, thổi các loại sáo, các bộ gõ bằng tre, nứa tự tạo, đặc biệt là thổi kèn môi.

Chơi: Trong các ngày lễ tết, trẻ em hay đánh cầu lông làm bằng lông gà, đánh quay và các trò chơi dân gian khác.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khơ Mú
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Tăng tốc xây dựng Trường nội trú liên cấp Sơn Vĩ

Tăng tốc xây dựng Trường nội trú liên cấp Sơn Vĩ

Những ngày đầu tháng 7, trên công trường xây dựng Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Sơn Vĩ, xã Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang, không khí thi công diễn ra khẩn trương. Từng dãy nhà lớp học, hiệu bộ, ký túc xá, nhà ăn, nhà đa năng đang dần thành hình giữa vùng biên, mở ra kỳ vọng về một môi trường học tập, sinh hoạt tốt hơn cho học sinh nơi đây.

Lai Châu khẩn trương khắc phục thiệt hại do mưa lũ

Lai Châu khẩn trương khắc phục thiệt hại do mưa lũ

Mưa lớn từ tối 7/7 đến sáng nay tiếp tục gây thiệt hại về nhà ở, hoa màu và hạ tầng giao thông tại nhiều địa phương của tỉnh Lai Châu. Hiện cấp ủy, chính quyền và lực lượng chức năng đang khẩn trương triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả, đảm bảo giao thông thông suốt và hỗ trợ người dân sớm ổn định cuộc sống.

Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp

Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp

Tỉnh Đồng Tháp có đường biên giới đất liền dài hơn 50 km, tiếp giáp tỉnh Prey Veng (Vương quốc Campuchia) với 6 xã, phường biên giới. Được sự quan tâm hỗ trợ của các cấp và các ngành, tình hình kinh tế - xã hội khu vực biên giới ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,42%; thu nhập bình quân đầu người các xã, phường biên giới đạt từ 64 - 84 triệu đồng/năm; an ninh trật tự, an ninh biên giới ổn định.

Mưa lũ gây sạt lở nhiều nơi tại Lai Châu

Mưa lũ gây sạt lở nhiều nơi tại Lai Châu

Sau những ngày mưa lớn, nhiều xã ở Lai Châu như: Nậm Mạ, Nậm Cuổi, Pu Sam Cáp, Than Uyên, Sìn Hồ… bị sạt lở nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến hạ tầng giao thông, ruộng vườn, hoa màu, nhà cửa của người dân.

Tổng lực hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng cao

Tổng lực hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng cao

Nhờ nỗ lực thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hàng ngàn hộ dân đã được hỗ trợ đất, giải quyết sinh kế, chuyển đổi nghề ổn định cuộc sống. Chính sách đã góp phần giảm nghèo bền vững và tạo động lực phát triển cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Các xã miền núi phía Tây Quảng Ngãi chủ động ứng phó nguy cơ sạt lở

Các xã miền núi phía Tây Quảng Ngãi chủ động ứng phó nguy cơ sạt lở

Hiện nay, phía Tây Quảng Ngãi đang bắt đầu bước vào mùa mưa. Tại một số địa phương thường xuyên xảy ra sạt lở đất như Đăk Plô, Măng Ri, Tu Mơ Rông,… nhiều điểm sạt lở đã được chính quyền địa phương chủ động xử lý, nhằm phòng, chống sạt lở cũng như giảm nguy cơ thiệt hại về người và tài sản do sạt lở gây ra. Bên cạnh đó, nhiều điểm có nguy cơ sạt lở cao cũng được chính quyền địa phương thực hiện cảnh báo để người dân nắm bắt, đề phòng.

Thanh Hóa: Chuyển đổi số trong Đảng - nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở

Thanh Hóa: Chuyển đổi số trong Đảng - nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở

Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các đảng bộ xã trên địa bàn Thanh Hóa từng bước đưa chuyển đổi số vào sinh hoạt chi bộ ở các thôn. Từ những buổi sinh hoạt vốn gắn với sổ sách, giấy tờ, nhiều chi bộ đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ số trong điều hành, quản lý và triển khai nghị quyết.

Hoàn thiện khu tái định cư cho đồng bào dân tộc

Hoàn thiện khu tái định cư cho đồng bào dân tộc

Ngày 7/7, Đoàn công tác Hội đồng Dân tộc của Quốc hội do bà Cao Thị Xuân, Phó Chủ tịch Hội đồng làm Trưởng đoàn đã khảo sát thực tế việc thực hiện các kiến nghị của Hội đồng Dân tộc liên quan đến kết quả giải quyết đơn thư của đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ.

Xây dựng mô hình nhân đạo thống nhất, nâng cao hiệu quả trợ giúp người yếu thế miền núi

Xây dựng mô hình nhân đạo thống nhất, nâng cao hiệu quả trợ giúp người yếu thế miền núi

“Đối với Lạng Sơn, một tỉnh miền núi, biên giới có nhiều xã vùng cao và đồng bào dân tộc thiểu số, hoạt động nhân đạo cần chuyển mạnh từ hỗ trợ trước mắt sang hỗ trợ phát triển; từ "trao quà" sang "trao cơ hội"; từ giúp một hoàn cảnh sang tạo sinh kế cho cả cộng đồng”. Đây là chỉ đạo của Chủ tịch Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Đỗ Thị Thu Thảo tại Đại hội đại biểu Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tỉnh Lạng Sơn lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031, diễn ra sáng 7/7.

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bảo vệ chất lượng, giữ giá trị thương hiệu cho na Chi Lăng

Bảo vệ chất lượng, giữ giá trị thương hiệu cho na Chi Lăng

Những vườn na trên địa bàn xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đang bước vào giai đoạn nuôi quả. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng xen kẽ mưa rào, độ ẩm cao đã tạo điều kiện để nhiều đối tượng gây hại cho cây na như nhện đỏ, rệp sáp, bọ trĩ và đặc biệt là ruồi vàng phát triển. Ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương đã khẩn trương triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo vệ sản lượng, chất lượng na, giữ gìn thương hiệu đặc sản địa phương.

Cây mắc ca tạo sinh kế bền vững cho vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Cây mắc ca tạo sinh kế bền vững cho vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Từ một xã biên giới đặc biệt khó khăn ở phía Tây tỉnh Lâm Đồng, Quảng Trực đang từng bước chuyển mình nhờ phát huy lợi thế đất đỏ bazan để phát triển cây mắc ca, cà phê gắn với liên kết sản xuất, đầu tư hạ tầng và xây dựng các điểm dân cư biên giới. Những đổi thay này không chỉ tạo sinh kế bền vững cho người dân mà còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên tuyến biên giới Tây Nam.

Hoàn lưu bão số 1 gây nhiều thiệt hại tại Lào Cai, Cao Bằng

Hoàn lưu bão số 1 gây nhiều thiệt hại tại Lào Cai, Cao Bằng

Từ đêm ngày 4 - 6/7, hoàn lưu bão số 1 đã gây mưa lớn, dông lốc kèm sạt lở đất trên diện rộng tại tỉnh Lào Cai, để lại hậu quả nặng nề về tài sản và hạ tầng giao thông. Nhờ chủ động phương án ứng phó, địa phương không ghi nhận thương vong về người. Tổng thiệt hại sơ bộ ước tính lên tới gần 6,3 tỷ đồng.

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Giữa không gian thanh bình của núi đồi và những nếp nhà sàn truyền thống dân tộc Tày, thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân, mô hình này còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.

Dự án hồ thủy lợi gần 1.500 tỷ đồng vẫn nhiều lần lỡ hẹn

Dự án hồ thủy lợi gần 1.500 tỷ đồng vẫn nhiều lần lỡ hẹn

Dự án Hồ thủy lợi Ea Tam được kỳ vọng trở thành công trình thủy lợi mang tính chiến lược nhằm phục vụ tưới tiêu và tạo cảnh quan, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực đô thị Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, dù đã quá tiến độ nhưng dự án vẫn ngổn ngang và “lỡ hẹn” về đích từ năm này qua năm khác. Sự “ì ạch” kéo dài không chỉ làm chậm hiệu quả công trình mà còn gây lãng phí nguồn lực xã hội, nhất là nguồn vốn đầu tư công.

Hoàn lưu bão số 1 gây sạt lở nhiều tuyến đường ở Điện Biên

Hoàn lưu bão số 1 gây sạt lở nhiều tuyến đường ở Điện Biên

Do ảnh hưởng của hoàn lưu cơn bão số 1, mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở tại một số tuyến giao thông trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Các đơn vị quản lý đường bộ đang huy động máy móc, nhân lực khẩn trương khắc phục, bảo đảm giao thông. Đến 15 giờ ngày 6/7, chỉ còn tuyến Huổi Só - Huổi Lóng và Đèo Gió - Tả Sìn Thàng vẫn chưa thể lưu thông do nhiều điểm sạt lở lớn.

Lai Châu: Mưa lớn gây nhiều thiệt hại, một người bị nước lũ cuốn trôi

Lai Châu: Mưa lớn gây nhiều thiệt hại, một người bị nước lũ cuốn trôi

Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 1, từ chiều 5/7 đến sáng 6/7, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có mưa vừa đến mưa rất to, lượng mưa phổ biến từ 100-200mm, riêng xã Hua Bum ghi nhận lượng mưa lên tới 275mm. Mưa lớn kéo dài đã gây ngập úng diện rộng, sạt lở trên nhiều tuyến giao thông, làm hư hỏng một số công trình hạ tầng và ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người dân.

Mang nguồn nước sạch về bản làng vùng cao Tà Rụt

Mang nguồn nước sạch về bản làng vùng cao Tà Rụt

Giữa núi rừng Trường Sơn điệp trùng, cuộc sống của người dân vùng cao xã Tà Rụt (tỉnh Quảng Trị) đang đổi thay từng ngày nhưng nước sạch phục vụ sinh hoạt vẫn còn là một khó khăn. Để mang dòng nước sạch về bản làng có sự chung tay góp sức từ cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức và nhất là sự xung kích, tinh thần trách nhiệm của người trẻ.

Giữ nhịp xây dựng trường nội trú liên cấp trong mùa mưa lũ

Giữ nhịp xây dựng trường nội trú liên cấp trong mùa mưa lũ

Điện Biên đang bước vào mùa mưa, cũng là thời điểm các dự án trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới bước vào giai đoạn nước rút để kịp đón năm học mới 2026-2027. Trước những diễn biến bất lợi của thời tiết, các nhà thầu đang linh hoạt điều chỉnh phương án tổ chức sản xuất, siết chặt các biện pháp bảo đảm an toàn lao động và chất lượng công trình, quyết tâm giữ vững tiến độ đã đề ra.

Khoa học công nghệ mở đường cho cực tăng trưởng mới

Khoa học công nghệ mở đường cho cực tăng trưởng mới

Sau hợp nhất, tỉnh Phú Thọ không chỉ mở rộng quy mô địa lý, dân số mà còn đứng trước yêu cầu tái cấu trúc toàn diện mô hình phát triển. Từ một địa phương có những thế mạnh riêng biệt, Phú Thọ hôm nay đang hướng tới mục tiêu hình thành cực tăng trưởng mới của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Biên giới vững chắc từ lòng dân

Biên giới vững chắc từ lòng dân

Mô hình “Địa phương, đơn vị phía sau hỗ trợ địa phương, đơn vị phía trước” cùng Đề án “Xây dựng điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới” ở thành phố Đồng Nai giai đoạn 2019 - 2025 đã tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân vùng biên giới và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân. Những điểm dân cư mới hình thành đã góp phần giữ đất, giữ biên cương và trở thành điểm tựa vững chắc nơi phên dậu Tổ quốc.