Từng phải vượt hàng chục km đường núi để giải quyết một thủ tục hành chính, người dân ở nhiều thôn vùng cao Quảng Ngãi nay chỉ cần đến điểm hỗ trợ ngay tại địa phương để được hướng dẫn, tiếp nhận và xử lý hồ sơ.
Việc đưa dịch vụ hành chính công đến gần người dân không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu, nhất là với người già, đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa.
Vượt qua trở ngại
Xã Thanh Bồng, tỉnh Quảng Ngãi có diện tích hơn 133 km²; quy mô dân số trên 1.500 hộ với hơn 7.400 nhân khẩu; đồng bào dân tộc thiểu số Cor chiếm khoảng 99% dân số. Địa hình bị chia cắt bởi nhiều dãy núi và khe suối, khiến việc đi lại từ các thôn đến trung tâm xã hết sức cách trở, nhất là vào mùa mưa lũ. Việc thực hiện các thủ tục hành chính của người dân vì thế cũng gặp nhiều trở ngại.
Không chỉ chịu ảnh hưởng bởi khoảng cách địa lý, điều kiện tiếp cận công nghệ cũng là một rào cản lớn ở xã miền núi Thanh Bồng. Phần lớn người dân là đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều người chưa có điện thoại thông minh hoặc chưa quen sử dụng các nền tảng số. Mặc dù dịch vụ công trực tuyến đã được triển khai nhưng không phải ai cũng có thể tự thao tác để nộp hồ sơ.
Ông Hồ Văn Trường, Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Bồng cho biết, sau khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động, cấp ủy, chính quyền xã Thanh Bồng nhanh chóng kiện toàn tổ chức, ổn định bộ máy và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; trong đó, cải cách hành chính được xác định là khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Xác định muốn cải cách hành chính thực sự hiệu quả thì không thể chỉ ngồi chờ người dân đến làm thủ tục mà chính quyền phải chủ động mang dịch vụ đến gần người dân, giải quyết công việc ngay tại cơ sở. Với tinh thần ấy, mô hình "Điểm hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính tại thôn" được triển khai thí điểm tại hai thôn Trà Thanh và Hà Doi - những địa bàn xa xôi nhất, cách trung tâm xã hơn 30 km.
Đến với mô hình, người dân thôn Trà Thanh được thành viên Tổ công tác lưu động hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính.
Để mô hình vận hành hiệu quả, UBND xã Thanh Bồng đã thành lập các tổ công tác lưu động gồm: Công chức Tư pháp - Hộ tịch, Địa chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Đoàn Thanh niên, Tổ công nghệ số cộng đồng. Nhà văn hóa thôn được lựa chọn làm nơi tiếp nhận hồ sơ. Tại đây, cán bộ trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra giấy tờ và giải quyết ngay các thủ tục phát sinh thường xuyên như chứng thực, đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử hoặc hỗ trợ lập hồ sơ hưởng trợ cấp hưu trí xã hội cho người cao tuổi.
Đối với những thủ tục cần thẩm định theo quy định, cán bộ hỗ trợ người dân hoàn thiện hồ sơ trên Cổng dịch vụ công. Sau khi được giải quyết, kết quả được chuyển trả tận nhà thông qua hệ thống bưu chính hoặc cán bộ thôn. Nhờ đó, người dân không còn phải nhiều lần vượt quãng đường xa chỉ để bổ sung giấy tờ hay nhận kết quả.
Kiên trì hướng dẫn
Điểm nổi bật của mô hình là không chỉ giải quyết thủ tục hành chính mà còn giúp người dân từng bước làm quen với môi trường số. Thay vì làm thay, cán bộ kiên trì hướng dẫn từng bước theo phương châm "cầm tay chỉ việc". Từ việc tạo tài khoản, đăng nhập Cổng dịch vụ công đến cách nộp hồ sơ trực tuyến, mọi thao tác đều được hướng dẫn trực tiếp. Qua mỗi lần hỗ trợ, người dân không chỉ hoàn thành thủ tục mà còn tích lũy thêm kỹ năng sử dụng công nghệ, tạo nền tảng để chủ động thực hiện các dịch vụ công trong tương lai.
“Điều quan trọng hơn cả là mô hình đã tạo nên sự thay đổi trong tư duy phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính quyền địa phương. Mỗi hồ sơ được giải quyết nhanh chóng, mỗi chuyến công tác xuống thôn đều cho thấy tinh thần gần dân, sát dân và phục vụ dân bằng những hành động cụ thể”, ông Hồ Văn Trường nói.
Người dân quét mã truy cập thực hiện thủ tục hành chính.
Nhờ đó, từ ngày 1/7/2025 đến nay, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã đã tiếp đón hơn 1.200 lượt công dân, tiếp nhận gần 1.300 hồ sơ thông qua Cổng dịch vụ công. Các thủ tục được giải quyết chủ yếu gồm chứng thực, đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử và lập hồ sơ hưởng trợ cấp hưu trí xã hội cho người cao tuổi. Qua thống kê, toàn bộ hồ sơ đã được xử lý, đạt tỷ lệ 100%; có 1.264 hồ sơ được trả trước hạn hoặc đúng hạn, đạt hơn 99%. Kết quả này phản ánh sự quyết tâm của chính quyền địa phương trong việc xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch và phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.
Anh Hồ Văn Bình (39 tuổi), trú thôn Trà Thanh cho biết, anh và bà con trong thôn rất vui mừng trước sự tận tâm của đội ngũ cán bộ xã khi không quản đường sá xa xôi, chủ động đến từng thôn để hướng dẫn bà con thực hiện thủ tục hành chính. Từ việc kê khai thông tin, chuẩn bị giấy tờ đến hoàn thiện hồ sơ, mọi nội dung đều được giải thích rõ ràng, dễ hiểu, giúp mọi người không còn lúng túng khi tiếp cận các dịch vụ công. Sự gần gũi, trách nhiệm của các cán bộ đã giúp bà con thêm tin tưởng, yên tâm hơn vào chủ trường, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Mô hình "Điểm hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính tại thôn" của xã Thanh Bồng là minh chứng sinh động cho cách làm sáng tạo, phù hợp với điều kiện miền núi. Cải cách hành chính không còn là khẩu hiệu suông mà đã trở thành những đổi thay có thể cảm nhận rõ trong cuộc sống hằng ngày. Đó cũng chính là mục tiêu cao nhất của nền hành chính phục vụ: Ở đâu có người dân, ở đó có sự đồng hành của chính quyền./.
Tên tự gọi: Cor, Col.
Tên gọi khác: Cua, Trầu.
Dân số: 33.817 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi các dân tộc khác trong vùng bắc Tây Nguyên và lân cận như: Hrê, Xơ Ðăng, Ba Na... Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975 trên cơ sở dùng chữ cái La-tinh. Hiện nay chữ viết này không không phổ biến nữa.
Lịch sử: Người Co cư trú rất lâu đời ở tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam.
Hoạt động sản xuất: Kinh tế rẫy là nguồn sống chủ yếu, lúa rẫy là nguồn lương thực chính. Canh tác theo hình thức phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống, tuốt lúa bằng tay. Kỹ thuật xen canh - đa canh trên từng đám rẫy và luân canh giữa các đám rẫy. Trầu không và quế của người Co nổi tiếng lâu đời. Ðặc biệt quế quý và nhiều là một nguồn lợi lớn: quế rừng và quế trồng. Rẫy quế của mỗi gia đình là loại tài sản quan trọng, thường 10 năm trở lên mới được thu hoạch. Nhờ bán quế, các gia đình có tiền mua sắm các gia sản được ưa chuộng (cồng, chiêng, ché, trâu, v.v... và nay thì xe, đài, đồng hồ, xây nhà, đóng đồ gỗ), đồng thời cũng chi dùng vào việc ăn uống, mặc, v.v... Hình thức dùng vật đổi vật được ưa thích.
Chăn nuôi: Trâu, lợn, gà trước hết để cúng tế; chó hầu như nhà nhà đều có. Nghề dệt và rèn không phát triển. Ðồ đan đẹp và phong phú. Sản phẩm hái lượm và săn bắt có ý nghĩa không nhỏ trong đời sống người Co.
Ăn: Bữa ăn thông thường là cơm gạo tẻ, muối ớt, các loại rau rừng và thịt cá kiếm được. Trước kia, đồng bào quen ăn bốc. Ðồ uống là nước lã, rượu cần, nay nhiều người đã dùng nước chín, nước chè xanh, rượu cất. Tục ăn trầu cau chỉ được duy trì ở lớp người lớn tuổi, nhưng tục hút thuốc lá vẫn còn phổ biến.
Ở: Người Co sống tập trung ở Trà Bồng và Trà Mi thuộc tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam. Nhà sàn dài, cửa ra vào ở hai đầu hồi. Trong nhà chia dọc thành 3 phần: lối đi ở giữa, một bên được ngăn thành từng buồng nhỏ cho các gia đình sinh hoạt riêng, còn một bên dùng làm nơi sinh hoạt chung (tiếp khách, họp bàn, tổ chức lễ hội, ăn uống đông người, đan lát, vui chơi...). Xưa kia thường mỗi làng ở tập trung trong một vài ngôi nhà kiểu này, dài có khi hàng trăm mét, bên ngoài có rào chắn và bố trí vũ khí để phòng vệ. Gần đây, khắp vùng người Co phát triển trào lưu từng gia đình tách ra làm nhà ở riêng, nhà trệt, dựng theo kiểu nhà người Việt ở địa phương, đã có nhiều nhà lợp tôn, lợp ngói, cả nhà xây nữa.
Mặc: Ðồ mặc của người Co chủ yếu mua của người Xơ Ðăng và người Việt. Theo nếp truyền thống, nam đóng khố, ở trần, nữ quấn váy, mặc áo cộc tay; mùa lạnh thì khoác tấm vải choàng. Bộ quần áo dài với khăn xếp du nhập từ đồng bằng lên từng được dùng trưng diện trong ngày lễ hội, nhất là những bô lão khá giả. Ngày nay, quần áo người Việt được dùng lan tràn, váy còn thấy một số phụ nữ mặc nhưng đều dùng vải công nghiệp. Các loại vòng trang sức cũng chỉ bắt gặp thưa thớt, đơn giản, không dễ tìm được những phụ nữ quấn nhiều chuỗi hạt cườm quanh đầu, quanh cổ tay, cổ chân, trước ngực và quanh thắt lưng như trước kia nữa.
Phương tiện vận chuyển: Người Co có các loại gùi tự đan dùng để vận chuyển rất tiện lợi, thích hợp với điều kiện đất dốc, rừng núi và suối. Mọi thứ đều bỏ trong gùi và gùi được cõng trên lưng, có 2 quai quàng qua đôi vai.
Quan hệ xã hội: Mỗi làng có ông "già làng" được mọi người kính trọng và nghe theo. Dân làng sinh sống trên một địa vực ổn định có ranh giới, việc chuyển dịch cư trú của làng cũng chỉ trong vùng lãnh thổ ấy. Trong làng thường có quan hệ thân thuộc qua lại với nhau: hoặc về huyết thống, hoặc do hôn nhân. Tuy mỗi gia đình làm ăn riêng, chiếm hữu riêng đất rẫy, nhưng tính cộng đồng làng khá cao. Xã hội truyền thống Co đã nảy sinh giàu - nghèo khác nhau, nhưng chưa phát triển các hình thức bóc lột: nô lệ gia đình, cho vay nặng lãi...
Cưới xin: Hình thức hôn nhân cư trú đằng chồng là phổ biến. Phong tục cho phép nếu vợ chết có thể lấy tiếp em hoặc chị của vợ, nhưng vợ goá không thể lấy em chồng; nếu 2 anh em trai lấy 2 chị em gái thì phải anh lấy chị, em lấy em; nếu con gái nhà này đã làm dâu nhà kia thì 2 - 3 đời sau nhà kia mới gả con gái cho nhà này. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung cha mẹ đều không được lấy nhau. Cùng một gốc sinh thành, nếu là anh em trai thì đời chắt của họ hoặc sau đó nữa mới có thể lấy nhau, song nếu là chị em gái hay một gái một bên trai thì cháu hoặc chắt của họ có thể lấy nhau. Ðám cưới đơn giản, gọn nhẹ, không tốn kém nhiều, chỉ là dịp mọi người uống rượu vui chứng kiến đôi trai gái thành vợ, thành chồng.
Ma chay: Quan tài gỗ, đẽo theo kiểu độc mộc. Người chết được chôn trong bãi mộ của làng, đặt không xa chỗ ở. Tang gia "chia của" cho người mới chết, đưa ra mộ không chỉ vật dụng và tư trang của người ấy, mà cả ché, chiêng...
Thờ cúng: Những đỉnh núi cao được người Co gọi là núi Ông núi Bà. Họ cho rằng có "thần linh" trú ngụ ở đó. Hệ thống "ma" (ka muych) và "thần" (kơi, ma) rất đông: ma người chết bình thường, ma người chết bất bình thường, ma quế, ma cây đa, ma nước, thần bếp lửa... Bởi vậy, người ra có nhiều kiêng cữ và cúng quải gắn với sản xuất và đời sống.
Lễ tết: Người Co có nhiều lễ, lớn nhất là lễ có đâm trâu tế thần - đây cũng là ngày hội lớn trong làng. Ngoài ra, tết gắn với sự kết thúc một mùa lúa rẫy là dịp sinh hoạt nhộn nhịp. Trong hai dịp đó, các món ăn dân tộc, nghệ thuật dân tộc và trang phục dân tộc được thể hiện tập trung, khơi dậy văn hoá truyền thống.
Lịch: Cách tính ngày tháng tương đương với âm lịch của người Việt, nhưng chỉ có 10 tháng, tiếp đến là thời gian nghỉ ngơi sau vụ canh tác. Bên cạnh đó, người Co coi trọng việc xác định ngày tốt, xấu để thực hiện các công việc khác nhau.
Văn nghệ: Ưa thích âm nhạc, dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ biến: nhạc cụ còn có trống, các loại đàn nhị. Múa chỉ xuất hiện trong lễ đâm trâu. Các điệu dân ca Xru (Klu), Agiới được lưu truyền rộng rãi. Vốn truyện cổ khá phong phú, có huyền thoại, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn... Nghệ thuật trang trí tập trung nhất ở cây cột lễ và cái "gu" trong lễ hội đâm trâu.
Theo cema.gov.vn