Sáng 10/2, tại Chợ phiên Nga My (nằm dọc Quốc lộ 48, thuộc địa phận bản Bay), UBND xã Nga My (tỉnh Nghệ An) đã tổ chức phiên chợ Tết mang chủ đề “Sắc xuân vùng cao Nga My”.
Phiên chợ được tổ chức trở lại sau hơn 4 tháng dừng hoạt động bởi ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt cực đoan gây thiệt hại lớn trên địa bàn, trong đó cơ sở hạ tầng của Chợ phiên Nga My bị hư hại nặng nề. Đến Chợ phiên Nga My, ngoài việc mua sắm hàng hóa, thăm thân, du khách được vui chơi, trải nghiệm, hòa vào không gian văn hóa độc đáo, đa sắc, đặc trưng, hấp dẫn của chợ phiên vùng cao.
Sắc màu chợ phiên giữa thung lũng
Trong tâm thức của đồng bào các dân tộc, đi chợ không chỉ là để mua sắm mà còn là dịp để chơi, gặp gỡ bạn bè, người thân, họ hàng nên ai cũng lựa chọn cho mình những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất, mới nhất, với những họa tiết hoa văn, màu sắc độc đáo, bắt mắt.
Các gian hàng bày bán đồ gia dụng thu hút đông người dân đến mua để phục vụ nhu cầu sử dụng trong dịp Tết đến, Xuân về.
Gần 6 giờ sáng, sương đêm và hơi lạnh của núi rừng vẫn còn phủ kín những đỉnh đồi, lưng núi bao bọc quanh thung thũng Nga My. Từng dòng người, xe cộ đã ngược xuôi Quốc lộ 48 đổ về Chợ phiên Nga My nằm bên hạ nguồn suối Nậm Ngân. Tiếng động cơ xe máy của người dân ở các bản nằm sâu trong đại ngàn như Na Ngân, Na Kho, Xốp Kho đang vượt dốc trên dãy Pù Hiêng vang xa khắp núi rừng. Khi những tia nắng ấm áp vừa mọc lên, hé lộ từ đại ngàn Pu Pá, thắp sáng và dần sưởi ấm không gian bản làng, người dân đồng bào Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu đã đổ về đông kín cổng chợ.
Anh Lo Văn Hùng, dân tộc Ơ Đu, bản Văng Môn, xã Nga My cho biết, người dân rất vui mừng, háo hức khi chợ phiên được khôi phục, hoạt động trở lại. Hôm nay đi chợ phiên, ngoài việc mua một số lương thực, thực phẩm thiết yếu để gia đình chế biến các món ăn truyền thống của dân tộc Ơ Đu, sử dụng và tiếp khách trong dịp Tết, anh sẽ dành nhiều thời gian để tham quan các gian hàng, tìm gặp bạn bè, người thân thăm hỏi, trò chuyện, thắt chặt tình thân, tính cố kết cộng đồng bản làng.
Các vật dụng gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của người dân miền sơn cước như dao nhọn, dao quắm, dao cắt lúa, liềm cắt cỏ được bày bán nhiều ở khu vực cổng chợ.
Bước qua cổng vòm được thiết kế mang biểu tượng nhà sàn cách điệu, du khách sẽ “lạc" vào không gian trưng bày đa dạng các loại sản phẩm, mặt hàng từ gần 20 gian hàng của người dân, tiểu thương đến từ xã Nga My, các xã lân cận, các gian hàng lưu động của tiểu thương miền xuôi lên.
Điều dễ dàng nhận ra là các sản phẩm, mặt hàng trưng bày, giới thiệu, trao đổi, bán buôn tại chợ phiên mang đậm dấu ấn, nét văn hóa, sinh hoạt của người dân vùng cao gồm: sản phẩm dệt thổ cẩm của các dân tộc Ơ Đu, Thái, Mông như túi, trang phục, khăn quàng, khăn piêu, chân váy…; các vật dụng gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của người dân miền sơn cước như vật dụng bắt cá suối, dao nhọn, dao quắm, dao cắt lúa, liềm cắt cỏ, ghế mây, mâm mây, ép xôi, gùi... được bày bán khá nhiều.
Các sản phẩm, dụng cụ truyền thống, được đan lát, chế tác bằng vật liệu từ rừng (mây, tre) gắn liền với đời sống, sinh hoạt hằng ngày của đồng bào dân tộc Thái, Khơ Mú, Ơ Đu bày bán rất nhiều trong chợ phiên.
Phiên chợ còn gồm những sản vật, hàng hóa do đồng bào dân tộc tự tay sản xuất, gieo trồng trên núi cao hoặc thu hái trong rừng như: các loại gia vị, rau, củ, quả như hạt dổi, mắc khén, lá dong, măng, nấm... Đặc biệt, các sản phẩm ẩm thực truyền thống như thịt chua, thịt giàng, cá giàng, cá nướng, moọc, nhoọc, rượu cần, rượu siêu, rượu cẩm, lạp xưởng, thịt trâu gác bếp, thịt lợn sấy khô…, cũng được các tiểu thương chú trọng trưng bày, giới thiệu và được người đi chợ mua nhiều.
Các khu vực, gian hàng bày bán sản phẩm hàng hóa từ hoạt động chăn nuôi của người dân địa phương như cá trắm, cá vược, vịt bầu, lợn đen, gà đen... cũng tạo nên sự đa dạng sản phẩm đặc trưng của phiên chợ vùng cao Nga My.
Một điểm nhấn độc đáo, thu hút du khách đến với Chợ phiên Nga My là mọi người đi chợ đều có thể hòa mình vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, chơi các trò chơi dân gian, thưởng thức những làn điệu dân ca truyền thống của các dân tộc do các Câu lạc bộ dân ca, dân vũ và các nghệ nhân trong và ngoài xã thể hiện.
Khôi phục sinh kế, tạo đà phát triển ổn định
Món thịt chua được ủ ướp trong ống nứa mang nét văn hóa ẩm thực đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái, Khơ Mú được bày bán ở chợ phiên Nga My.
Ông Lương Tuấn Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Nga My cho biết, dân số địa phương có hơn 8.460 người, thuộc các dân tộc Kinh, Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu... sinh sống ở 16 bản trên diện tích hơn 302 km2. Trong đó có nhiều bản nằm xa trung tâm xã, đường giao thông đi lại rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa. Đặc biệt, có nhiều bản làng - nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Thái - nằm sâu trong đại ngàn Pù Huống như Na Ngân, Na Kho, Xốp Kho... Tại những bản làng này, đời sống kinh tế của người dân còn khó khăn, việc tiêu thụ sản phẩm nông sản gặp khó do không có địa điểm bán buôn, tiêu thụ. Khi Chợ phiên Nga My hình thành, đi vào hoạt động từ tháng 9/2022, đã “hóa giải” được khó khăn cho người dân ở các bản biệt lập, xa trung tâm xã trong việc tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa.
Ông Lữ Văn Uôn, Trưởng bản Na Kho, xã Nga My cho biết, nhiều năm qua, từ khi có Chợ phiên Nga My, việc tiêu thụ các sản phẩm truyền thống, thế mạnh của người dân trong bản như nấm, mộc nhĩ, măng khô, lợn, gà thả đồi, đặc biệt là sản phẩm vịt bầu nổi tiếng do người dân trong bản nuôi đã tiêu thụ dễ dàng hơn, giá trị hàng hóa cũng nâng cao rõ rệt.
Với vị trí nằm cạnh quốc lộ 48 khá thuận lợi, Chợ phiên Nga My không chỉ đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu thụ, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tiểu thương, các cơ sở kinh doanh, hợp tác xã tại các xã lân cận như Yên Hòa, Bình Chuẩn... tìm đến mua sắm, mở rộng thị trường.
Nga My là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai cực đoan xảy ra từ cuối tháng 9/2025. Thời gian qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn về điều kiện tổ chức, cơ sở vật chất còn hạn chế, nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, sự nỗ lực của chính quyền địa phương và tinh thần đồng hành, chung tay của người dân các dân tộc trên địa bàn, Chợ phiên Nga My được sửa chữa, khôi phục trở lại. Đây là niềm vui, sự mong mỏi của người dân ở các bản làng.
Chợ phiên Nga My (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) có gần 20 gian hàng của người dân đến từ 16 bản trong xã và các tiểu thương các xã lân cận trưng bày, giới thiệu, bán sản phẩm.
Ông Lương Tuấn Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Nga My cho biết, chợ phiên được hoạt động trở lại đã thể hiện quyết tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc khôi phục hoạt động thương mại - dịch vụ sau thiên tai, từng bước ổn định đời sống nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy nét đẹp truyền thống của chợ quê. Việc tổ chức phiên chợ ngày 10/2 còn nhằm quy định thống nhất ngày họp chợ hàng tháng trong thời gian tới.
Để phiên chợ được duy trì bền vững và ngày càng phát huy hiệu quả, trở thành điểm đến quen thuộc, chính quyền địa phương đề nghị các hộ kinh doanh, các đơn vị tham gia phiên chợ tích cực, chủ động đưa các sản phẩm bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, có nguồn gốc rõ ràng đến chợ phiên, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng; thực hiện nghiêm các quy định về giá cả trong việc giao thương, tiêu thụ hàng hóa, nông sản và giữ gìn nếp sinh hoạt chợ văn minh./.
Tên tự gọi: Kmụ, Kưm Mụ.
Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.
Dân số: 72.929 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Khơ Mú là một trong những cư dân đã cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc Việt Nam. Bộ phận Khơ Mú cư trú tại miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An do chuyển cư từ Lào sang.
Hoạt động sản xuất: Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy nên được gọi là "Xá ăn lửa". Ngoài hình thái du canh du cư là chủ yếu, bộ phận định cư thường canh tác nương theo chu trình vòng tròn khép kín. Cây trồng ngoài lúa ngô ra còn có bầu bí, đỗ và các loại cây có củ. Công cụ sản xuất gồm rìu, dao, cuốc, trong đó đáng lưu ý nhất là chiếc gậy chọc lỗ. Hoặc gậy đơn hoặc gậy kép (bịt sắt) có thể dùng nhiều năm. Hái lượm và săn bắn vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Nghề phụ gia đình chủ yếu là đan lát đồ gia dụng. Một số nơi biết thêm nghề rèn, mộc, dệt vải. Việc trao đổi, mua bán chủ yếu là hình thức hàng đổi hàng. Vỏ ốc "kxoong" trước kia được coi như vật ngang giá. Người Khơ Mú chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà phục vụ sức kéo và nhu cầu tiêu dùng, tín ngưỡng.
Ăn: Người Khơ Mú thường đồ xôi hay đồ ngô, độn sắn. Họ thích ăn những món có vị cay, chua, đắng, các thức ăn nướng có mùi như chẻo, nậm pịa, cá chua...
Mặc: Người Khơ Mú mặc giống người Thái, nhưng có điều khác là cách trang trí những hàng tiền bạc và vỏ ốc ở phía thân áo của phụ nữ. Ngày nay, phần lớn người Khơ Mú, nhất là nam giới đều ăn mặc theo người Việt.
Ở: Hiện nay họ cư trú tại các tỉnh: Yên Bái, Sơn La, Lai Châu. Vì điều kiện du canh, du cư nên bản làng thường nhỏ bé, rải rác. Nhà sàn chủ yếu dùng cột không ngoãm, vách phên, sàn bương. Hiện nay nhiều nơi đã làm nhà khang trang, vững chãi hơn.
Phương tiện vận chuyển: Cơ bản là gùi có dây đeo trên trán, có ách và các loại túi đeo, bộ phận người Khơ Mú làm ruộng dùng thêm sọt gánh.
Quan hệ xã hội: Người Khơ Mú quan hệ chặt chẽ giữa những người đồng tộc và những người láng giềng, nhất là người Thái. Mỗi bản gồm nhiều gia đình thuộc các dòng họ khác nhau. Mỗi họ có trưởng họ. Người dân bản trong bản đã có phân hoá giàu nghèo. Những dòng họ người Khơ Mú đều mang tên thú, chim, cây cỏ... có thể chia làm 3 nhóm tên họ. Nhóm tên thú gồm hổ, chồn, cầy hương... Nhóm tên chim gồm phượng hoàng đất, chìa vôi, cuốc, bìm bịp... Nhóm tên cây gồm guột, rau đớn, dương xỉ, tỏi ... Ngoài ra còn một số họ mang tên vật vô tri như: rọ lợn, môi múc canh...
Cưới xin: Hôn nhân theo nguyên tắc thuận chiếu, đặc biệt trong phạm vi một dòng họ. Trong hôn nhân, nhiều tàn dư mẫu hệ còn tồn tại như tục ở rể, chồng mang họ vợ, hôn nhân anh em vợ, chị em chồng... Ðám cưới được tiến hành qua các khâu dạm hỏi, ở rể, lễ cưới ở bên nhà vợ và lễ đón dâu... Trai gái được tự do tìm hiểu nhưng quyền quyết định do bố mẹ, đặc biệt là ông cậu. Ông cậu là người có ý kiến quyết định tiền thách cưới, đồ sính lễ.
Ma chay: Ðám ma của người Khơ Mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng. Ðặc biệt bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ sau đó mới đem thi hài đi chôn.
Nhà mới: Lên nhà mới là dịp vui của gia đình và cả bản. Chủ nhà thường mổ lợn thiết đãi bà con xóm giềng. Ðây là dịp dân bản trình diễn các sinh hoạt văn nghệ có tính cộng đồng.
Lễ tết: Ngoài tết Nguyên đán ra, người Khơ Mú còn ăn tết cơm mới. Tết được tổ chức sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Ðây là dịp vui của cả bản sau một thời gian lao động mệt nhọc. Tết cơm mới của người Khơ Mú thể hiện hiện sắc thái văn hoá tộc người đậm nét. Họ còn duy trì nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, trồng trọt.
Thờ cúng: Người Khơ Mú quan niệm có 5 loại ma quan trọng nhất là: ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên và ma nhà. Ðó là các loại ma mang điều lành cho con người nhưng đôi khi giận dữ có thể gây tai hoạ trừng phạt con người.
Ngoài lễ cúng mường, người Khơ Mú còn lễ cúng bản, đặc biệt là lễ cúng ma nhà trong các dịp tết và khi con cháu trong nhà đau ốm. Bàn thờ ma nhà đặt trên gác bếp, còn ông bà thờ ở một gian riêng kín đáo và rất kiêng kỵ đối với người ngoài. Mỗi dòng họ vẫn duy trì tục thờ ma dòng họ với nghi thức và các động tác mang tính đặc trưng riêng.
Lịch: Ngoài theo lịch Thái, người Khơ Mú phổ biến cách tính ngày giờ căn cứ theo bảng cà la để vận dụng trong việc dựng nhà, cưới gả...
Học: Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.
Văn nghệ: Làn điệu dân ca quen thuộc nhiều người ưa thích là Tơm. Làn điệu này mang đậm tính sử thi, trữ tình. Cách hát theo kiểu đối đáp. Người Khơ Mú thích xoè, múa, thổi các loại sáo, các bộ gõ bằng tre, nứa tự tạo, đặc biệt là thổi kèn môi.
Chơi: Trong các ngày lễ tết, trẻ em hay đánh cầu lông làm bằng lông gà, đánh quay và các trò chơi dân gian khác.
Theo cema.gov.vn
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn