Không gian văn hóa đa sắc tại chợ Tết vùng cao Nga My

Sáng 10/2, tại Chợ phiên Nga My (nằm dọc Quốc lộ 48, thuộc địa phận bản Bay), UBND xã Nga My (tỉnh Nghệ An) đã tổ chức phiên chợ Tết mang chủ đề “Sắc xuân vùng cao Nga My”.

cho-phien-100226-1.jpg
Đại diện lãnh đạo chính quyền địa phương kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; thăm hỏi, động viên người dân, tiểu thương buôn bán ở chợ phiên Nga My.

Phiên chợ được tổ chức trở lại sau hơn 4 tháng dừng hoạt động bởi ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt cực đoan gây thiệt hại lớn trên địa bàn, trong đó cơ sở hạ tầng của Chợ phiên Nga My bị hư hại nặng nề. Đến Chợ phiên Nga My, ngoài việc mua sắm hàng hóa, thăm thân, du khách được vui chơi, trải nghiệm, hòa vào không gian văn hóa độc đáo, đa sắc, đặc trưng, hấp dẫn của chợ phiên vùng cao.

Sắc màu chợ phiên giữa thung lũng

Trong tâm thức của đồng bào các dân tộc, đi chợ không chỉ là để mua sắm mà còn là dịp để chơi, gặp gỡ bạn bè, người thân, họ hàng nên ai cũng lựa chọn cho mình những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất, mới nhất, với những họa tiết hoa văn, màu sắc độc đáo, bắt mắt.

Các gian hàng bày bán đồ gia dụng thu hút đông người dân đến mua để phục vụ nhu cầu sử dụng trong dịp Tết đến, Xuân về.

Các gian hàng bày bán đồ gia dụng thu hút đông người dân đến mua để phục vụ nhu cầu sử dụng trong dịp Tết đến, Xuân về.

Gần 6 giờ sáng, sương đêm và hơi lạnh của núi rừng vẫn còn phủ kín những đỉnh đồi, lưng núi bao bọc quanh thung thũng Nga My. Từng dòng người, xe cộ đã ngược xuôi Quốc lộ 48 đổ về Chợ phiên Nga My nằm bên hạ nguồn suối Nậm Ngân. Tiếng động cơ xe máy của người dân ở các bản nằm sâu trong đại ngàn như Na Ngân, Na Kho, Xốp Kho đang vượt dốc trên dãy Pù Hiêng vang xa khắp núi rừng. Khi những tia nắng ấm áp vừa mọc lên, hé lộ từ đại ngàn Pu Pá, thắp sáng và dần sưởi ấm không gian bản làng, người dân đồng bào Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu đã đổ về đông kín cổng chợ.

Anh Lo Văn Hùng, dân tộc Ơ Đu, bản Văng Môn, xã Nga My cho biết, người dân rất vui mừng, háo hức khi chợ phiên được khôi phục, hoạt động trở lại. Hôm nay đi chợ phiên, ngoài việc mua một số lương thực, thực phẩm thiết yếu để gia đình chế biến các món ăn truyền thống của dân tộc Ơ Đu, sử dụng và tiếp khách trong dịp Tết, anh sẽ dành nhiều thời gian để tham quan các gian hàng, tìm gặp bạn bè, người thân thăm hỏi, trò chuyện, thắt chặt tình thân, tính cố kết cộng đồng bản làng.

Các vật dụng gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của người dân miền sơn cước như dao nhọn, dao quắm, dao cắt lúa, liềm cắt cỏ được bày bán nhiều ở khu vực cổng chợ.

Các vật dụng gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của người dân miền sơn cước như dao nhọn, dao quắm, dao cắt lúa, liềm cắt cỏ được bày bán nhiều ở khu vực cổng chợ.

Bước qua cổng vòm được thiết kế mang biểu tượng nhà sàn cách điệu, du khách sẽ “lạc" vào không gian trưng bày đa dạng các loại sản phẩm, mặt hàng từ gần 20 gian hàng của người dân, tiểu thương đến từ xã Nga My, các xã lân cận, các gian hàng lưu động của tiểu thương miền xuôi lên.

Điều dễ dàng nhận ra là các sản phẩm, mặt hàng trưng bày, giới thiệu, trao đổi, bán buôn tại chợ phiên mang đậm dấu ấn, nét văn hóa, sinh hoạt của người dân vùng cao gồm: sản phẩm dệt thổ cẩm của các dân tộc Ơ Đu, Thái, Mông như túi, trang phục, khăn quàng, khăn piêu, chân váy…; các vật dụng gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của người dân miền sơn cước như vật dụng bắt cá suối, dao nhọn, dao quắm, dao cắt lúa, liềm cắt cỏ, ghế mây, mâm mây, ép xôi, gùi... được bày bán khá nhiều.

Các sản phẩm, dụng cụ truyền thống, được đan lát, chế tác bằng vật liệu từ rừng (mây, tre) gắn liền với đời sống, sinh hoạt hằng ngày của đồng bào dân tộc Thái, Khơ Mú, Ơ Đu bày bán rất nhiều trong chợ phiên.

Các sản phẩm, dụng cụ truyền thống, được đan lát, chế tác bằng vật liệu từ rừng (mây, tre) gắn liền với đời sống, sinh hoạt hằng ngày của đồng bào dân tộc Thái, Khơ Mú, Ơ Đu bày bán rất nhiều trong chợ phiên.

Phiên chợ còn gồm những sản vật, hàng hóa do đồng bào dân tộc tự tay sản xuất, gieo trồng trên núi cao hoặc thu hái trong rừng như: các loại gia vị, rau, củ, quả như hạt dổi, mắc khén, lá dong, măng, nấm... Đặc biệt, các sản phẩm ẩm thực truyền thống như thịt chua, thịt giàng, cá giàng, cá nướng, moọc, nhoọc, rượu cần, rượu siêu, rượu cẩm, lạp xưởng, thịt trâu gác bếp, thịt lợn sấy khô…, cũng được các tiểu thương chú trọng trưng bày, giới thiệu và được người đi chợ mua nhiều.

Các khu vực, gian hàng bày bán sản phẩm hàng hóa từ hoạt động chăn nuôi của người dân địa phương như cá trắm, cá vược, vịt bầu, lợn đen, gà đen... cũng tạo nên sự đa dạng sản phẩm đặc trưng của phiên chợ vùng cao Nga My.

Một điểm nhấn độc đáo, thu hút du khách đến với Chợ phiên Nga My là mọi người đi chợ đều có thể hòa mình vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, chơi các trò chơi dân gian, thưởng thức những làn điệu dân ca truyền thống của các dân tộc do các Câu lạc bộ dân ca, dân vũ và các nghệ nhân trong và ngoài xã thể hiện.

Khôi phục sinh kế, tạo đà phát triển ổn định

Món thịt chua được ủ ướp trong ống nứa mang nét văn hóa ẩm thực đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái, Khơ Mú được bày bán ở chợ phiên Nga My.

Món thịt chua được ủ ướp trong ống nứa mang nét văn hóa ẩm thực đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái, Khơ Mú được bày bán ở chợ phiên Nga My.

Ông Lương Tuấn Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Nga My cho biết, dân số địa phương có hơn 8.460 người, thuộc các dân tộc Kinh, Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu... sinh sống ở 16 bản trên diện tích hơn 302 km2. Trong đó có nhiều bản nằm xa trung tâm xã, đường giao thông đi lại rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa. Đặc biệt, có nhiều bản làng - nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Thái - nằm sâu trong đại ngàn Pù Huống như Na Ngân, Na Kho, Xốp Kho... Tại những bản làng này, đời sống kinh tế của người dân còn khó khăn, việc tiêu thụ sản phẩm nông sản gặp khó do không có địa điểm bán buôn, tiêu thụ. Khi Chợ phiên Nga My hình thành, đi vào hoạt động từ tháng 9/2022, đã “hóa giải” được khó khăn cho người dân ở các bản biệt lập, xa trung tâm xã trong việc tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa.

Ông Lữ Văn Uôn, Trưởng bản Na Kho, xã Nga My cho biết, nhiều năm qua, từ khi có Chợ phiên Nga My, việc tiêu thụ các sản phẩm truyền thống, thế mạnh của người dân trong bản như nấm, mộc nhĩ, măng khô, lợn, gà thả đồi, đặc biệt là sản phẩm vịt bầu nổi tiếng do người dân trong bản nuôi đã tiêu thụ dễ dàng hơn, giá trị hàng hóa cũng nâng cao rõ rệt.

Với vị trí nằm cạnh quốc lộ 48 khá thuận lợi, Chợ phiên Nga My không chỉ đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu thụ, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tiểu thương, các cơ sở kinh doanh, hợp tác xã tại các xã lân cận như Yên Hòa, Bình Chuẩn... tìm đến mua sắm, mở rộng thị trường.

Nga My là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai cực đoan xảy ra từ cuối tháng 9/2025. Thời gian qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn về điều kiện tổ chức, cơ sở vật chất còn hạn chế, nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, sự nỗ lực của chính quyền địa phương và tinh thần đồng hành, chung tay của người dân các dân tộc trên địa bàn, Chợ phiên Nga My được sửa chữa, khôi phục trở lại. Đây là niềm vui, sự mong mỏi của người dân ở các bản làng.

Chợ phiên Nga My (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) có gần 20 gian hàng của người dân đến từ 16 bản trong xã và các tiểu thương các xã lân cận trưng bày, giới thiệu, bán sản phẩm.

Chợ phiên Nga My (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) có gần 20 gian hàng của người dân đến từ 16 bản trong xã và các tiểu thương các xã lân cận trưng bày, giới thiệu, bán sản phẩm.

Ông Lương Tuấn Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Nga My cho biết, chợ phiên được hoạt động trở lại đã thể hiện quyết tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc khôi phục hoạt động thương mại - dịch vụ sau thiên tai, từng bước ổn định đời sống nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy nét đẹp truyền thống của chợ quê. Việc tổ chức phiên chợ ngày 10/2 còn nhằm quy định thống nhất ngày họp chợ hàng tháng trong thời gian tới.

Để phiên chợ được duy trì bền vững và ngày càng phát huy hiệu quả, trở thành điểm đến quen thuộc, chính quyền địa phương đề nghị các hộ kinh doanh, các đơn vị tham gia phiên chợ tích cực, chủ động đưa các sản phẩm bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, có nguồn gốc rõ ràng đến chợ phiên, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng; thực hiện nghiêm các quy định về giá cả trong việc giao thương, tiêu thụ hàng hóa, nông sản và giữ gìn nếp sinh hoạt chợ văn minh./.

Dân tộc Khơ Mú

Tên tự gọi: Kmụ, Kưm Mụ.

Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.

Dân số: 72.929 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Khơ Mú là một trong những cư dân đã cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc Việt Nam. Bộ phận Khơ Mú cư trú tại miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An do chuyển cư từ Lào sang.

Hoạt động sản xuất: Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy nên được gọi là "Xá ăn lửa". Ngoài hình thái du canh du cư là chủ yếu, bộ phận định cư thường canh tác nương theo chu trình vòng tròn khép kín. Cây trồng ngoài lúa ngô ra còn có bầu bí, đỗ và các loại cây có củ. Công cụ sản xuất gồm rìu, dao, cuốc, trong đó đáng lưu ý nhất là chiếc gậy chọc lỗ. Hoặc gậy đơn hoặc gậy kép (bịt sắt) có thể dùng nhiều năm. Hái lượm và săn bắn vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Nghề phụ gia đình chủ yếu là đan lát đồ gia dụng. Một số nơi biết thêm nghề rèn, mộc, dệt vải. Việc trao đổi, mua bán chủ yếu là hình thức hàng đổi hàng. Vỏ ốc "kxoong" trước kia được coi như vật ngang giá. Người Khơ Mú chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà phục vụ sức kéo và nhu cầu tiêu dùng, tín ngưỡng.

Ăn: Người Khơ Mú thường đồ xôi hay đồ ngô, độn sắn. Họ thích ăn những món có vị cay, chua, đắng, các thức ăn nướng có mùi như chẻo, nậm pịa, cá chua...

Mặc: Người Khơ Mú mặc giống người Thái, nhưng có điều khác là cách trang trí những hàng tiền bạc và vỏ ốc ở phía thân áo của phụ nữ. Ngày nay, phần lớn người Khơ Mú, nhất là nam giới đều ăn mặc theo người Việt.

: Hiện nay họ cư trú tại các tỉnh: Yên Bái, Sơn La, Lai Châu. Vì điều kiện du canh, du cư nên bản làng thường nhỏ bé, rải rác. Nhà sàn chủ yếu dùng cột không ngoãm, vách phên, sàn bương. Hiện nay nhiều nơi đã làm nhà khang trang, vững chãi hơn.

Phương tiện vận chuyển: Cơ bản là gùi có dây đeo trên trán, có ách và các loại túi đeo, bộ phận người Khơ Mú làm ruộng dùng thêm sọt gánh.

Quan hệ xã hội: Người Khơ Mú quan hệ chặt chẽ giữa những người đồng tộc và những người láng giềng, nhất là người Thái. Mỗi bản gồm nhiều gia đình thuộc các dòng họ khác nhau. Mỗi họ có trưởng họ. Người dân bản trong bản đã có phân hoá giàu nghèo. Những dòng họ người Khơ Mú đều mang tên thú, chim, cây cỏ... có thể chia làm 3 nhóm tên họ. Nhóm tên thú gồm hổ, chồn, cầy hương... Nhóm tên chim gồm phượng hoàng đất, chìa vôi, cuốc, bìm bịp... Nhóm tên cây gồm guột, rau đớn, dương xỉ, tỏi ... Ngoài ra còn một số họ mang tên vật vô tri như: rọ lợn, môi múc canh...

Cưới xin: Hôn nhân theo nguyên tắc thuận chiếu, đặc biệt trong phạm vi một dòng họ. Trong hôn nhân, nhiều tàn dư mẫu hệ còn tồn tại như tục ở rể, chồng mang họ vợ, hôn nhân anh em vợ, chị em chồng... Ðám cưới được tiến hành qua các khâu dạm hỏi, ở rể, lễ cưới ở bên nhà vợ và lễ đón dâu... Trai gái được tự do tìm hiểu nhưng quyền quyết định do bố mẹ, đặc biệt là ông cậu. Ông cậu là người có ý kiến quyết định tiền thách cưới, đồ sính lễ.

Ma chay: Ðám ma của người Khơ Mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng. Ðặc biệt bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ sau đó mới đem thi hài đi chôn.

Nhà mới: Lên nhà mới là dịp vui của gia đình và cả bản. Chủ nhà thường mổ lợn thiết đãi bà con xóm giềng. Ðây là dịp dân bản trình diễn các sinh hoạt văn nghệ có tính cộng đồng.

vna_potal_dien_bien_doc_dao_sac_mau_khong_gian_van_hoa_cac_cong_dong_dan_toc_trong_le_hoi_hoa_ban_nam_2023_6626009.jpg
Không gian văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khơ-mú. Ảnh: Xuân Tiến – TTXVN

Lễ tết: Ngoài tết Nguyên đán ra, người Khơ Mú còn ăn tết cơm mới. Tết được tổ chức sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Ðây là dịp vui của cả bản sau một thời gian lao động mệt nhọc. Tết cơm mới của người Khơ Mú thể hiện hiện sắc thái văn hoá tộc người đậm nét. Họ còn duy trì nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, trồng trọt.

Thờ cúng: Người Khơ Mú quan niệm có 5 loại ma quan trọng nhất là: ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên và ma nhà. Ðó là các loại ma mang điều lành cho con người nhưng đôi khi giận dữ có thể gây tai hoạ trừng phạt con người.

Ngoài lễ cúng mường, người Khơ Mú còn lễ cúng bản, đặc biệt là lễ cúng ma nhà trong các dịp tết và khi con cháu trong nhà đau ốm. Bàn thờ ma nhà đặt trên gác bếp, còn ông bà thờ ở một gian riêng kín đáo và rất kiêng kỵ đối với người ngoài. Mỗi dòng họ vẫn duy trì tục thờ ma dòng họ với nghi thức và các động tác mang tính đặc trưng riêng.

Lịch: Ngoài theo lịch Thái, người Khơ Mú phổ biến cách tính ngày giờ căn cứ theo bảng cà la để vận dụng trong việc dựng nhà, cưới gả...

Học: Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.

Văn nghệ: Làn điệu dân ca quen thuộc nhiều người ưa thích là Tơm. Làn điệu này mang đậm tính sử thi, trữ tình. Cách hát theo kiểu đối đáp. Người Khơ Mú thích xoè, múa, thổi các loại sáo, các bộ gõ bằng tre, nứa tự tạo, đặc biệt là thổi kèn môi.

Chơi: Trong các ngày lễ tết, trẻ em hay đánh cầu lông làm bằng lông gà, đánh quay và các trò chơi dân gian khác.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khơ Mú
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Trong khuôn khổ chương trình “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, ngày 28/2, đồng bào dân tộc Cao Lan (Phú Thọ) đã tổ chức Lễ hội xuống đồng, hay còn gọi là Lễ hội Lồng tồng, một nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh và văn hóa lâu đời.

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Lần đầu tiên, xã vùng cao Thanh Bồng (Quảng Ngãi) tái hiện phong tục Đắp chăn (hay còn gọi là Hoi P’hiết Xol) - một nghi thức đắp đập, ngăn dòng suối để bắt cá của đồng bào Co với quy mô lớn chưa từng có. Đây không chỉ là hoạt động lao động sản xuất đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, có sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người dân địa phương.

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa chằn, còn gọi là Rôbăm Yeak Roăm, là một hình thức sân khấu hóa dựa trên sử thi Riêm Kê, là một loại hình vũ kịch dân gian độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer tại Nam Bộ. Không chỉ là giải trí, múa Chằn còn mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, cầu mong bình an và may mắn cho phum, sóc, thường được tổ chức tại các ngôi chùa Khmer vào các dịp lễ lớn.

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Những ngày Tết Bính Ngọ 2026, về làng Chăm ở xã Châu Phong (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), dọc hai bên đường rợp một màu đỏ tươi mới cờ Đảng, cờ Tổ quốc. Năm nay, Tết gần như trùng với lịch Tháng ăn chay Ramadan năm 2026 - Hồi lịch 1447 của đồng bào theo đạo Hồi Islam. Đây là thời điểm quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với mỗi tín đồ Hồi giáo và đời sống văn hóa tinh thần chung của cộng đồng.

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Lạng Sơn, vùng đất địa đầu của Tổ quốc không chỉ nổi tiếng về sự nhộn nhịp, sầm uất trong kinh doanh thương mại, mà còn là nơi được biết đến với phong cảnh hùng vĩ, nên thơ và ẩm thực độc đáo.

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi có 145 hộ dân với 602 nhân khẩu; trong đó có 90% là người dân tộc Mường từ tỉnh Hòa Bình vào làm ăn, sinh sống từ năm 1991. Trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, vất vả, đến nay, đời sống của người dân tại đây đã dần ổn định, phát triển. Trong nhiều năm qua, những nét văn hóa độc đáo trong ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của người Mường luôn được bà con nhân dân thôn Hào Lý bảo tồn, giữ gìn, tạo nên một vẻ đẹp văn hóa đặc trưng trong những ngày Tết ở xã biên giới Sa Loong.

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Hòa chung niềm vui đón Xuân mới Bính Ngọ 2026, trong ba ngày 16, 17 và 18/2, Tết cổ truyền Ramưvan của đồng bào Chăm Hồi giáo Bàni và Hồi giáo Islam ở tỉnh Khánh Hòa cũng diễn ra đồng thời, tạo thêm không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới; qua đó cùng chung tay xây dựng quê hương, góp sức đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xã Đất Mũi là đơn vị hành chính cuối cùng ở cực Nam Tổ quốc, cách trung tâm tỉnh Cà Mau hơn 110 km. Người dân nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng và khai thác thủy hải sản. Mùa xuân ở vùng đất này không chỉ có sắc mai vàng mà còn mang theo hương vị mặn mòi của biển cả, mùi thơm của những mẻ cá khô và niềm hy vọng mãnh liệt về sự khởi sắc của quê hương.

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Miền Tây miệt vườn từ lâu đã được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ruộng vườn bạt ngàn, sản vật phong phú. Ở đó, cư dân đã hình thành nên một không gian văn hóa đặc trưng, trong đó Tết Nguyên đán là một nét chấm phá thấm đẫm chất miền Tây sông nước.

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Những ngày cuối năm, khi gió bấc se sắt thổi, khi những mái ngói rêu phong quanh đền Đô trầm mặc trong làn sương mỏng, làng nghề bánh phu thê Đình Bảng (nay thuộc phường Từ Sơn, Bắc Ninh) lại bừng lên nhịp điệu riêng của mùa Xuân. Tết ở vùng đất Kinh Bắc không chỉ hiện diện trong sắc đào phai trước hiên nhà, trong không khí rộn ràng chợ Tết, mà còn lan tỏa từ những gian bếp đỏ lửa, nơi những mẻ bánh phu thê đang lặng lẽ tỏa hương.

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Bánh tráng Cù lao Mây - một đặc sản nổi tiếng của làng nghề có lịch sử hơn 100 năm của xã Lục Sỹ Thành, tỉnh Vĩnh Long. Làng nghề truyền thống này hiện có 71 hộ sản xuất; trong đó, 14 hộ tham gia hợp tác xã với 2 hộ có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP. Làng nghề hoạt động quanh năm nhưng nhộn nhịp nhất vào dịp Tết Nguyên đán.

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Dịp Tết Nguyên đán năm nay, nhiều hộ đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đón Xuân mới trong niềm vui trúng mùa, được giá khi các mô hình sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu quả, năng suất và giá bán đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

Nghề dệt của người La Chí - Giá trị di sản trong đời sống cộng đồng

Nghề dệt của người La Chí - Giá trị di sản trong đời sống cộng đồng

Giữa những bản làng vùng cao của xã Xuân Giang và xã Bản Máy, nơi cộng đồng người La Chí sinh sống lâu đời, nghề dệt truyền thống vẫn được duy trì như một phần tất yếu của đời sống văn hóa. Không ồn ào, không phô trương, nghề dệt tồn tại bền bỉ qua nhiều thế hệ, gắn với quan niệm sống, chuẩn mực đạo đức và bản sắc tộc người.

Đồng bào Dao giữ gìn nét đẹp văn hóa đón Tết truyền thống

Đồng bào Dao giữ gìn nét đẹp văn hóa đón Tết truyền thống

Tết của người Dao ở phường Thống Nhất, tỉnh Phú Thọ thường diễn ra vào đầu tháng 12 âm lịch kéo dài đến Tết Nguyên đán với nét đẹp văn hóa dân gian độc đáo và giàu bản sắc, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, tín ngưỡng, phong tục tập quán được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Đồng bào Bahnar hân hoan đón nhà Rông mới

Đồng bào Bahnar hân hoan đón nhà Rông mới

Chiều 31/1, UBND xã Ngọk Bay, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Lễ khánh thành nhà Rông văn hóa thôn Kon Rơ Bang 2. Đây là hoạt động nhằm bảo tồn nét văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số Bahnar, bà con có nhà Rông mới để tổ chức lễ hội cùng các hoạt động chung của làng.