Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Nằm giữa vùng sơn cước, bản Bắc Hoa, xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đang từng bước chuyển mình từ một bản làng thuần nông trở thành điểm đến du lịch cộng đồng giàu bản sắc. Với hệ thống nhà cổ, đời sống văn hóa truyền thống của đồng bào Nùng còn được gìn giữ khá nguyên vẹn, cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, Bắc Hoa được kỳ vọng sẽ trở thành điểm nhấn mới trong phát triển du lịch văn hóa, sinh thái của tỉnh.

17 ngôi nhà cổ tại trung tâm bản Bắc Hoa, tỉnh Bắc Ninh.

17 ngôi nhà cổ tại trung tâm bản Bắc Hoa, tỉnh Bắc Ninh.

Bản sắc văn hóa Nùng - nền tảng hình thành điểm đến du lịch cộng đồng

Bản Bắc Hoa là một trong những địa bàn tiêu biểu của xã Tân Sơn, nơi cộng đồng người Nùng sinh sống lâu đời, lưu giữ hệ thống phong tục, tập quán và không gian cư trú mang đậm dấu ấn truyền thống. Toàn bản hiện có 160 hộ dân, trong đó khu nhà cổ với khoảng 17 hộ đã được quy hoạch làm trung tâm phát triển du lịch cộng đồng. Đây là những ngôi nhà trình tường đất, mái ngói âm dương đặc trưng của đồng bào Nùng, được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, gắn liền với không gian sinh hoạt gia đình và sản xuất nông nghiệp.

Đáng chú ý, nhiều hộ dân trong khu nhà cổ vẫn duy trì nếp sống truyền thống, mặc trang phục dân tộc trong sinh hoạt hằng ngày, sẵn sàng đón tiếp, giao lưu với du khách. Các câu lạc bộ văn nghệ dân gian, đặc biệt là hát dân ca Nùng, được duy trì thường xuyên, trở thành điểm nhấn quan trọng trong việc giới thiệu văn hóa bản địa.

Những nếp nhà trình tường đất với mái ngói âm dương của người dân tộc Nùng ở bản Bắc Hoa được gìn giữ khá nguyên vẹn.

Những nếp nhà trình tường đất với mái ngói âm dương của người dân tộc Nùng ở bản Bắc Hoa được gìn giữ khá nguyên vẹn.

Theo ông Vi Văn An, Chủ tịch UBND xã Tân Sơn, phát triển du lịch tại Bắc Hoa được xác định là hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. “Bắc Hoa có lợi thế lớn về không gian nhà cổ và bản sắc văn hóa dân tộc Nùng. Mục tiêu của xã là phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, để người dân vừa giữ được nếp sinh hoạt truyền thống, vừa có thêm sinh kế từ du lịch”, ông Vi Văn An cho biết.

Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa mục tiêu này cũng đặt ra không ít khó khăn. Theo lãnh đạo xã Tân Sơn, thách thức lớn nhất hiện nay là việc di dời, sắp xếp lại một số hộ dân nhằm bảo tồn nguyên vẹn khu nhà cổ theo quy hoạch, đồng thời đầu tư hạ tầng giao thông, chỉnh trang cảnh quan, tạo không gian sinh hoạt cộng đồng phục vụ khách du lịch. Địa phương đang xây dựng đề án tổng thể, đề xuất nguồn lực đầu tư từ cấp trên để từng bước tháo gỡ những “nút thắt” này.

Những nếp nhà trình tường đất với mái ngói âm dương của người dân tộc Nùng ở bản Bắc Hoa được gìn giữ khá nguyên vẹn.

Những nếp nhà trình tường đất với mái ngói âm dương của người dân tộc Nùng ở bản Bắc Hoa được gìn giữ khá nguyên vẹn.

Bắc Hoa không phải là điểm đến được “đánh thức” một cách tự phát. Việc xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch dân tộc Nùng tại đây được triển khai bài bản thông qua đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, do Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch Bắc Giang chủ trì thực hiện.

Thạc sĩ Lưu Xuân San, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch Bắc Giang, chủ nhiệm đề tài cho biết, quá trình nghiên cứu đã tập trung đánh giá toàn diện các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của người Nùng, điều kiện tự nhiên, cảnh quan, cũng như khả năng tham gia làm du lịch của cộng đồng dân cư. Bắc Hoa hội tụ khá đầy đủ các yếu tố để phát triển du lịch cộng đồng, từ không gian cư trú truyền thống, văn hóa dân gian, nghề thủ công đến cảnh quan nông nghiệp. Vấn đề quan trọng là phát triển theo hướng bền vững, lấy cộng đồng làm trung tâm.

Người dân sinh sống trong khu nhà cổ ở bản Bắc Hoa vẫn duy trì trang phục dân tộc trong sinh hoạt hằng ngày.

Người dân sinh sống trong khu nhà cổ ở bản Bắc Hoa vẫn duy trì trang phục dân tộc trong sinh hoạt hằng ngày.

Trong khuôn khổ đề tài, nhiều hoạt động cụ thể đã được triển khai như tổ chức tập huấn nghiệp vụ du lịch cộng đồng cho người dân, truyền dạy dân ca, nghề dệt thổ cẩm truyền thống, xây dựng các sản phẩm truyền thông quảng bá điểm đến, lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn vào bản Bắc Hoa... Những hoạt động này không chỉ góp phần bảo tồn giá trị văn hóa mà còn từng bước nâng cao nhận thức, kỹ năng làm du lịch cho người dân địa phương.Theo Thạc sĩ Lưu Xuân San, việc phát triển du lịch cộng đồng tại Bắc Hoa cần được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, gắn với xây dựng nông thôn mới và bảo tồn văn hóa dân tộc. Nếu làm tốt, du lịch sẽ trở thành động lực để người dân chủ động gìn giữ nhà cổ, trang phục, tiếng nói, làn điệu dân ca, thay vì để các giá trị này dần mai một.

Doanh nghiệp du lịch đồng hành mở rộng thị trường

Nghề dệt thổ cẩm thủ công là một trong những nét văn hóa của người dân địa phương ở bản Bắc Hoa, Bắc Ninh.

Nghề dệt thổ cẩm thủ công là một trong những nét văn hóa của người dân địa phương ở bản Bắc Hoa, Bắc Ninh.

Bên cạnh vai trò của chính quyền và các nhà nghiên cứu, sự tham gia của doanh nghiệp du lịch được xem là yếu tố quan trọng để Bắc Hoa từng bước tiếp cận thị trường. Thực tế cho thấy, xu hướng du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng ngày càng được du khách trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt là những điểm đến còn giữ được bản sắc văn hóa nguyên gốc.

Chị Khúc Thị Nga, Phó Giám đốc Hợp tác xã Thương mại và Du lịch An Phú xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh cho rằng, Bắc Hoa có nhiều tiềm năng để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù. Điểm mạnh của Bắc Hoa là không gian nhà cổ và đời sống văn hóa Nùng vẫn hiện hữu trong sinh hoạt hàng ngày. Du khách đến đây không chỉ tham quan mà còn có thể "sống cùng bản, nghe dân ca, thưởng thức ẩm thực truyền thống, trải nghiệm lao động nông nghiệp”.

Táo là một trong những sản vật của địa phương.

Táo là một trong những sản vật của địa phương.

Theo chị Nga, nếu địa phương tiếp tục đầu tư hạ tầng, chuẩn hóa dịch vụ homestay và xây dựng các tour trải nghiệm gắn với bản sắc văn hóa, doanh nghiệp sẵn sàng đưa Bắc Hoa vào tuyến du lịch kết nối với các điểm đến lân cận trong khu vực. Điều này không chỉ giúp tăng lượng khách mà còn tạo đầu ra ổn định cho các sản phẩm du lịch cộng đồng của người dân.

Với định hướng rõ ràng, sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, giới nghiên cứu và doanh nghiệp, du lịch cộng đồng bản Bắc Hoa đang đứng trước cơ hội phát triển. Quan trọng hơn, quá trình này được xây dựng trên nền tảng bảo tồn văn hóa, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư.

Các câu lạc bộ văn nghệ dân gian, đặc biệt là hát dân ca Nùng, được duy trì thường xuyên, trở thành điểm nhấn quan trọng trong việc giới thiệu văn hóa địa phương.

Các câu lạc bộ văn nghệ dân gian, đặc biệt là hát dân ca Nùng, được duy trì thường xuyên, trở thành điểm nhấn quan trọng trong việc giới thiệu văn hóa địa phương.

Phát triển du lịch không chỉ mang lại nguồn thu mới mà còn góp phần nâng cao đời sống tinh thần, củng cố niềm tự hào văn hóa của người Nùng tại Bắc Hoa. Nếu được đầu tư đúng hướng và phát triển bền vững, Bắc Hoa hoàn toàn có thể trở thành mô hình tiêu biểu về du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc, đóng góp tích cực vào bức tranh du lịch của tỉnh trong thời gian tới./.

Dân tộc Nùng

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Nùng

Có thể bạn quan tâm

Giữ hồn nương rẫy trong nghi thức thu thóc của người Khơ Mú

Giữ hồn nương rẫy trong nghi thức thu thóc của người Khơ Mú

Gắn bó mật thiết với nương rẫy và núi rừng Tây Bắc, đồng bào dân tộc Khơ Mú từ bao đời nay vẫn gìn giữ nghi thức thu thóc cầu mùa bội thu như một sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng quan trọng. Không chỉ thể hiện niềm tin vạn vật hữu linh, Lễ cầu mùa còn là dịp để cộng đồng bày tỏ lòng biết ơn trời đất, tổ tiên, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bản làng no ấm và đoàn kết.

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang

Nép mình nơi ngã ba sông ở đầu nguồn châu thổ Cửu Long, nơi dòng nước mát lành của sông Hậu và sông Châu Đốc cùng in bóng những thánh đường Hồi giáo cổ kính hòa quyện tiếng đọc kinh Quan âm vang như nhịp đập của xóm người Chăm, nghề dệt thổ cẩm truyền thống theo đạo Hồi giáo Islam ở An Giang đã và đang được hồi sinh mạnh mẽ dưới đôi tay của những người phụ nữ xóm Chăm ở ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Lễ cầu hôn theo chế độ mẫu hệ của người Jrai

Lễ cầu hôn theo chế độ mẫu hệ của người Jrai

Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc bản địa, gắn với phát triển du lịch cộng đồng, Lễ cầu hôn (Lễ ăn hỏi) truyền thống của người Jrai vừa được phục dựng tại làng Ơp, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai. Lễ phục dựng không chỉ tái hiện sinh động một nghi lễ tiêu biểu trong đời sống hôn nhân của người Jrai theo chế độ mẫu hệ, mà còn góp phần giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng cư dân bản địa trên cao nguyên Gia Lai đến với du khách.

Rộn ràng tái hiện Lễ cưới của đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Rộn ràng tái hiện Lễ cưới của đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Ngày 1/1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), diễn ra hoạt động tái hiện Lễ cưới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đang hoạt động tại Làng. Lễ cưới không chỉ thể hiện tập quán truyền thống của các dân tộc vùng Trường Sơn Tây Nguyên: đồng bào dân tộc Xơ Đăng, Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Ba Na, Tà Ôi, Cơ Tu khi trai, gái đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình mà còn là một ngày hội gắn kết cộng đồng trong buôn làng.

Mâm cơm cuối năm gắn kết cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa

Mâm cơm cuối năm gắn kết cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa

Chiều 28/12, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, cộng đồng các dân tộc đang sinh hoạt thường xuyên đã tổ chức giới thiệu mâm cơm sum họp ngày cuối năm. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện tháng 12 với chủ đề “Chào năm mới 2026”, góp phần làm rõ vai trò của ẩm thực truyền thống trong đời sống văn hóa xã hội của đồng bào các dân tộc.

Yên Lạc “giữ lửa” nghề chằm áo tơi truyền thống

Yên Lạc “giữ lửa” nghề chằm áo tơi truyền thống

Chiếc áo mộc mạc, được làm từ những tàu lá cọ khô, không chỉ là vật dụng che mưa nắng quen thuộc của người dân thôn Yên Lạc (xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh) suốt hàng trăm năm, mà còn là biểu tượng của sự cần cù, khéo léo và nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc. Giữa nhịp sống hối hả, nghề chằm áo tơi truyền thống vẫn được người dân lặng lẽ “giữ lửa”, trao truyền qua bao thế hệ, bảo tồn một phần hồn quê hương trong từng sợi lá.

Bảo tồn không gian văn hóa của người Xơ Đăng

Bảo tồn không gian văn hóa của người Xơ Đăng

Trong hai ngày 11 và 12/12, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi tổ chức bàn giao mô hình bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của dân tộc Xơ Đăng (nhóm Tơ Đ’ră) tại xã Ngọc Réo và dân tộc Xơ Đăng (nhóm Mơ Nâm) tại xã Kon Plông.

Sắc màu hội tụ và lan tỏa bản sắc 49 dân tộc tỉnh Lâm Đồng

Sắc màu hội tụ và lan tỏa bản sắc 49 dân tộc tỉnh Lâm Đồng

Chiều 12/12, tại Nhà truyền thống tổ dân phố N’Jriêng (phường Đông Gia Nghĩa), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng tổ chức lễ bế mạc Liên hoan các câu lạc bộ cồng chiêng tỉnh lần thứ nhất, năm 2025 với chủ đề “Sắc màu hội tụ và lan tỏa”.

Độc đáo lễ mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu

Độc đáo lễ mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu

Trong không gian nhà sàn trầm ấm thoảng hương lúa mới, lễ cúng mừng cơm mới của đồng bào Thái ở Mai Châu, Phú Thọ từ nhiều đời nay vẫn được gìn giữ như một nghi lễ thiêng liêng. Lễ cúng mừng cơm mới là lời tri ân mùa màng, biểu tượng của văn hóa nông nghiệp lúa nước, là sợi dây gắn kết gia đình, dòng họ, cộng đồng người Thái trong hành trình lao động và gìn giữ bản sắc dân tộc.

Bảo tồn, gìn giữ giá trị Lễ mừng lúa mới của đồng bào Giẻ Triêng

Bảo tồn, gìn giữ giá trị Lễ mừng lúa mới của đồng bào Giẻ Triêng

Từ ngày 4 - 6/12/2025, Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức truyền dạy và phục dựng Lễ mừng lúa mới của dân tộc Giẻ Triêng, nhằm mục tiêu bảo tồn, gìn giữ những giá trị văn hóa của nghi lễ đặc trưng này, trong bối cảnh có nguy cơ bị mai một theo thời gian.

Tiếp tục khơi dòng chảy văn hóa bản địa đặc sắc của người Ê Đê

Tiếp tục khơi dòng chảy văn hóa bản địa đặc sắc của người Ê Đê

Người Ê Đê sinh sống tại huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên cũ) nay thuộc các xã: Sông Hinh, Đức Bình, Ea Ly, Ea Bá (tỉnh Đắk Lắk) hiện còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống bản địa đặc sắc, độc đáo. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, chính quyền địa phương đã nỗ lực phát huy những giá trị đó trở thành điểm nhấn trong dòng chảy văn hóa địa phương, tạo thêm nhiều việc làm mới tăng thu nhập cho người Ê Đê thông qua các đề án phát triển du lịch cộng đồng.

Âm vang trống đồng trong đời sống người Lô Lô

Âm vang trống đồng trong đời sống người Lô Lô

Khi ánh mặt trời đầu ngày vừa chạm lên những mái trình tường vàng nơi bản Lô Lô Chải, sương vẫn còn quấn quanh triền núi, tiếng trống đồng bỗng ngân lên - trầm, vang, dội vào vách đá rồi lan ra thung sâu như một luồng sinh khí đánh thức cả cao nguyên. Đấy không chỉ là âm thanh mở đầu của lễ hội, mà là nhịp đập của bao thế hệ người Lô Lô, là lời khẳng định rằng giữa đại ngàn đá xám gió ngàn, bản làng này vẫn giữ trọn linh hồn văn hóa tự ngàn xưa.

Khát vọng vươn lên của xã miền núi Phú Thọ

Khát vọng vươn lên của xã miền núi Phú Thọ

Xã Liên Sơn nằm trong nhóm 5 xã có quy mô lớn nhất tỉnh Phú Thọ, sở hữu địa hình đa dạng, nguồn tài nguyên phong phú và nền văn hóa bản địa giàu bản sắc của đồng bào Mường.

Sắc màu văn hoá của đồng bào Chăm

Sắc màu văn hoá của đồng bào Chăm

Không gian văn hóa đền tháp của đồng bào Chăm tỉnh Khánh Hòa là điểm nhấn đặc sắc nằm trong chuỗi các hoạt động của Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản Văn hóa Việt Nam” (18 - 24/11/2025) đang được giới thiệu tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội).

Sắc màu dân tộc thiểu số ở Bắc Ninh

Sắc màu dân tộc thiểu số ở Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh có trên 39 vạn người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (chiếm 11,02% dân số toàn tỉnh) với nhiều thành phần dân tộc, trong đó có 7 thành phần dân tộc thiểu số chủ yếu gồm: Nùng, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Sán Chí, Dao (chiếm 97,78% tổng số người dân tộc thiểu số). Mỗi dân tộc có trang phục, tập quán riêng tạo sự khác biệt và đa dạng văn hóa cho vùng đất này.

Quảng bá thương hiệu trà Shan tuyết

Quảng bá thương hiệu trà Shan tuyết

Ngày 5/11, tại Nhà văn hóa Trung tâm, phường An Tường (Tuyên Quang), Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội thi sản phẩm trà Shan tuyết và kỹ thuật pha chế trà năm 2025.

Lễ hội Cơm mới Đền Đông Cuông

Lễ hội Cơm mới Đền Đông Cuông

Hằng năm, vào ngày Mão tháng 9 âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai rộn ràng tổ chức Lễ hội Cơm mới Đền Đông Cuông. Đây là hoạt động truyền thống nhằm tổng kết một năm lao động, sản xuất, những người con quê hương, du khách bày tỏ lòng tri ân với Mẫu Thượng Ngàn, các đấng siêu nhiên phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.