Thái Nguyên không chỉ được biết đến là thủ phủ của trà, mà còn là nơi lưu giữ những kho tàng văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú của các dân tộc thiểu số. Tại xã miền núi Phong Quang, người Dao Tiền vẫn đang gìn giữ những nghi lễ tâm linh độc đáo, được xem là "tấm giấy thông hành" để mỗi cá nhân được cộng đồng và tổ tiên công nhận: Lễ cấp sắc và lễ cắt khẩu đường âm.
Độc đáo những nghi lễ tín ngưỡng
Xã Phong Quang, một xã miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên, có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó chủ yếu là đồng bào người Dao Tiền với những nét văn hóa đặc trưng không trộn lẫn. Trong tâm thức của người Dao Tiền nơi đây, lễ cấp sắc là tập quán xã hội quan trọng bậc nhất. Đây không đơn thuần là một nghi lễ tôn giáo mà là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành thực thụ của một người đàn ông trong gia đình và dòng tộc.
Ông Bàn Đức Minh - một người cao tuổi có uy tín tại xã Phong Quang cho biết: Theo quan niệm tâm linh của đồng bào, nếu một người đàn ông chưa trải qua lễ cấp sắc, thì dù tuổi cao sức yếu, tóc bạc phơ nhưng vẫn chưa được coi là trưởng thành. Người đó sẽ không được cộng đồng và tổ tiên công nhận đầy đủ tư cách để thực hiện các bổn phận tâm linh quan trọng hay gánh vác việc nối dõi tông đường.
Nghi lễ này thường được tổ chức vào dịp cuối năm, nhưng việc chuẩn bị phải bắt đầu từ nhiều tháng trước đó. Gia chủ cần chuẩn bị chu đáo lễ vật gồm ít nhất 2 con lợn nặng trên 80kg, rượu, đồ ăn chay, giấy bản, bạc trắng và tiền xu để dâng lên các vị thần linh. Trên bàn thờ chính, hai bộ tranh Tam thanh (vẽ các vị thần) được treo trang trọng để chứng giám cho buổi lễ. Lễ cấp sắc là một chuỗi các nghi thức nghiêm ngặt và đầy tính nghệ thuật. Người thực hành phải trải qua tuần tự 10 nghi lễ nhỏ: từ lễ ban mũ, trình diện, đến lễ lên đèn, đặt tên, qua cầu và kết thúc bằng lễ trả ơn Bàn Vương.
Trong đó, lễ lên đèn là khoảnh khắc thiêng liêng và quan trọng nhất. Người được cấp sắc sẽ ngồi trước bàn thờ tổ tiên, thầy lễ chính lần lượt đặt một chiếc đèn lên đầu và hai chiếc lên vai con hương. Giữa làn khói hương trầm mặc và tiếng trống, tiếng chiêng rộn rã của điệu múa Láp Miến, thầy lễ sẽ đọc 10 độ, 10 điều kiêng cấm và 10 lời thề. Những lời răn dạy này hướng con người đến đạo đức, lẽ phải và trách nhiệm với gia đình...
Một điểm đặc thù của người Dao Tiền tại khu vực này, chủ yếu là tại thôn Bản Lồm, Bản Chiêng là việc thụ đèn. Dù trong văn hóa Dao nói chung có các cấp 3, 7, 9 và cao nhất là 12 đèn, nhưng hiện nay người Dao Tiền xã Phong Quang chủ yếu thực hiện cấp 3 đèn. Lý do được các bậc cao niên giải thích rất giản đơn nhưng chặt chẽ: vì thế hệ trước mới chỉ được cấp đến 3 đèn, nên không thể cấp cao hơn cho thế hệ sau...
Bên cạnh lễ cấp sắc dành cho nam giới, người Dao Tiền tại thôn Nà Lồm (xã Phong Quang) còn duy trì một nghi lễ lạ lùng đối với người ngoài nhưng lại mang tính "pháp lý tâm linh" đối với họ: Lễ cắt khẩu đường âm. Nếu như lễ cưới là sự công nhận về mặt xã hội, thì lễ cắt khẩu đường âm là sự xác nhận về mặt tâm linh. Các cặp vợ chồng sau khi cưới vài năm, thậm chí vài chục năm, tùy điều kiện kinh tế sẽ tổ chức nghi lễ này.
Theo thầy cúng Bàn Phú Minh (thôn Nà Lồm), nếu chưa làm lễ này, người vợ dù sống nhà chồng cả đời vẫn bị coi là "tạm trú", là người "ăn nhờ ở đậu". Để thực hiện, gia đình phải mổ 2 con lợn: một con mang sang nhà gái và một con làm lễ tại nhà trai. Nghi thức xúc động nhất là khi vợ chồng trao nhau bát rượu hoa đã được thầy lễ làm phép. Sau khoảnh khắc đó, tên tuổi của người vợ chính thức được thay đổi trong sổ sách "đường âm", theo họ nhà chồng và nhận một tên âm mới, chính thức trở thành thành viên vĩnh viễn của dòng tộc nhà chồng...
Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Với những giá trị nhân văn sâu sắc, hướng con người tới cái thiện và nhắc nhở trách nhiệm cá nhân, năm 2022, Lễ cấp sắc của người Dao Tiền tại Phong Quang đã vinh dự được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Nhận thức được tiềm năng từ những nét văn hóa riêng có, bà Triệu Thi Thu Hoài, Bí thư Đảng ủy xã Phong Quang cho biết, địa phương đang nỗ lực đưa các giá trị bản địa này vào định hướng phát triển du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm. Thời gian vừa qua, đặc biệt sau Đại hội Đảng bộ xã Phong Quang lần thứ I, xã Phong Quang đã xác định đây là một trong năm nhiệm vụ trọng tâm trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trên địa bàn, được đưa vào các nhiệm vụ trong lãnh đạo, chỉ đạo để bảo tồn, giữ gìn các giá trị văn hóa đó. Những nghi lễ độc đáo của người Dao Tiền không chỉ là sợi dây kết nối giữa hiện tại và quá khứ, giữa con người và tổ tiên, mà còn đang trở thành một sản phẩm du lịch đặc sắc, hứa hẹn đưa hình ảnh đất và người Phong Quang vươn xa hơn trong tương lai...
Với những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Dao Tiền nói riêng và của cộng đồng các dân tộc đang sinh sống trên địa bàn xã, Đảng bộ, chính quyền xã Phong Quang đã và đang nỗ lực trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa bản địa, định hướng đưa văn hóa gắn với phát triển du lịch tại địa phương.
Trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ, chính quyền xã Phong Quang, xã có kế hoạch xây dựng những sản phẩm du lịch riêng có trên cơ sở các nét văn hóa đặc sắc bản địa, góp phần tích cực trong việc quảng bá hình ảnh đất và người Phong Quang đến với du khách thông qua các hoạt động du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng tại địa phương.../.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn