Hòa chung không khí mừng Quốc khánh 2/9, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, thể dục thể thao sôi nổi. Không chỉ tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống cùng các giá trị lịch sử, chuỗi sự kiện còn góp phần quảng bá và kích cầu du lịch địa phương.
Lễ hội rượu cần của người M’nông bên Hồ Lắk tại xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk giới thiệu đến du khách một không gian văn hóa đa dạng, sống động về đất và người M’nông.
Hoạt động trải nghiệm văn hóa đậm bản sắc
Dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 năm nay, Bảo tàng Đắk Lắk tổ chức chuỗi hoạt động trải nghiệm với chủ đề “Ký ức độc lập”. Đến đây, du khách có thể tìm hiểu về Chiến thắng Buôn Ma Thuột (10/3/1975) qua tư liệu, hình ảnh, video và sa bàn; trải nghiệm dệt thổ cẩm Ê Đê; khám phá câu chuyện về cây Kơ Nia; tham gia workshop thủ công “Quê hương ta ơi”; thưởng thức các chương trình nghệ thuật trình diễn dân ca Quan họ Bắc Ninh, Chèo, xòe Thái, hát Then - đàn Tính và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên… Qua đó, du khách không chỉ tham quan đơn thuần mà như được “chạm” vào lịch sử và trải nghiệm văn hóa một cách chân thực, gần gũi.
Anh Nguyễn Thiên Long, du khách đến từ Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, là một người trẻ, anh luôn muốn tìm hiểu và trải nghiệm văn hóa bản địa. Qua sách báo, anh Long được biết Đắk Lắk là nơi hội tụ 45 dân tộc anh em cùng sinh sống, với bản sắc văn hóa đa dạng, phong phú. Đến bảo tàng Đắk Lắk dịp này, từ kiến trúc nhà dài, từ hương vị ẩm thực đến từng khúc dân ca, âm hưởng nhạc cụ dân tộc đều khiến anh Long bất ngờ, thích thú và rất ấn tượng.
Biểu diễn cồng chiêng và múa xoang phục vụ nhân dân và du khách trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 tại Bảo tàng Đắk Lắk.
Đưa hai con nhỏ đến tham quan trong dịp nghỉ lễ, anh Nguyễn Văn Minh, xã Quảng Phú, tỉnh Đắk Lắk chia sẻ, các hoạt động tại bảo tàng rất trực quan, sinh động, giúp các bé tiếp thu lịch sử một cách nhẹ nhàng và giúp ươm mầm tình yêu quê hương đất nước. Tại bảo tàng, các bé còn được tìm hiểu về hạt Kơ Nia, thổ cẩm Ê Đê, thưởng thức cơm nắm nuôi quân, cùng nhảy sạp và xem biểu diễn nghệ thuật, từ đó thêm hiểu về văn hóa và bồi đắp niềm tự hào dân tộc.
Cũng trong dịp nghỉ Lễ, UBND xã Liên Sơn Lắk tổ chức Lễ hội Rượu cần của người M’nông bên Hồ Lắk năm 2026. Lễ hội mang đến nhiều hoạt động đặc sắc như: diễu hành voi và thuyền độc mộc; tiệc buffet cho voi; cuộc thi “Vua rượu cần”; trình diễn nghề gốm truyền thống của người M’nông; không gian “con đường rượu cần”; trò chơi dân gian… Thông qua các hoạt động, lễ hội đã giới thiệu đến du khách một không gian văn hóa đa dạng, sống động về đất và người M’nông ở xã Liên Sơn Lắk.
Nhân dân và du khách trải nghiệm đánh đàn đá tại Bảo tàng Đắk Lắk trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9.
Tại lễ hội, chị Lê Thị Hường, đến từ phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk ấn tượng nhất là cuộc thi “Vua rượu cần” và workshop làm men, ủ rượu cần. Đây những hoạt động hay, là điểm nhấn văn hóa cần được phát huy. Qua các hoạt động tại lễ hội, chị Hường được trực tiếp tương tác và hiểu sâu hơn về câu chuyện văn hóa phía sau mỗi phong tục, mỗi ché rượu cần. Chị hiểu được mỗi ché rượu cần không chỉ chứa đựng hương vị của núi rừng, mà còn mang đậm bản sắc văn hóa của cộng đồng M’nông. Đặc biệt, hoạt động trải nghiệm làm nghề gốm đã mang lại cho chị và hai con nhỏ có thêm những kỷ niệm đẹp trong dịp nghỉ lễ.
Theo ông Nguyễn Anh Tú, Chủ tịch UBND xã Liên Sơn Lắk, Trưởng Ban Tổ chức lễ hội, người M'nông tại địa phương qua nhiều thế hệ đã gìn giữ kho tàng văn hóa phong phú từ tiếng nói, trang phục, cồng chiêng, dân ca, dân vũ, nghề thủ công truyền thống cho đến những phong tục tập quán trong đời sống cộng đồng. Rượu cần luôn hiện diện trong những dịp lễ hội, những cuộc gặp gỡ, đón khách, những sự kiện quan trọng của buôn làng. Các hoạt động tại lễ hội đã góp phần đưa văn hóa truyền thống đến gần hơn với du khách, chuyển dịch mạnh mẽ từ việc “xem văn hóa” sang “trải nghiệm văn hóa”, mở ra hướng phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng bền vững trên địa bàn.
“Cờ đỏ sao vàng” lan tỏa niềm tự hào
Lễ hội rượu cần của người M’nông bên Hồ Lắk tại xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk giới thiệu đến du khách một không gian văn hóa đa dạng, sống động về đất và người M’nông. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN Nhân dân và du khách trải nghiệm đánh đàn đá bên lề Lễ hội Rượu cần của người M’nông bên Hồ Lắk năm 2026, xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
Bên cạnh hoạt động văn hóa, các sự kiện thể thao trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 cũng thu hút đông đảo người dân hưởng ứng. Chương trình đi bộ “Cùng Việt Nam tiến bước” năm 2026 tại Quảng trường 10/3, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã thu hút hơn 4.000 cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân tham gia. Hình ảnh hàng ngàn người dân khoác lên mình chiếc áo cờ đỏ sao vàng, đi bộ tại các tuyến đường trung tâm Buôn Ma Thuột đã tạo nên không khí sôi động, thể hiện lòng tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước. Cùng với điểm cầu cấp tỉnh, 102 xã, phường trên địa bàn cũng đồng loạt tổ chức đi bộ theo khung giờ chung.
Em Bùi Phạm Gia Hân, sinh viên đang học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, mặc chiếc áo cờ đỏ sao vàng, hòa cùng dòng người đi bộ trong ngày nghỉ lễ tại quê nhà Buôn Ma Thuột mang lại cho em cảm xúc rất đặc biệt. Đây không chỉ là hoạt động rèn luyện sức khỏe mà còn nhắc nhở thế hệ trẻ về lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm sống tích cực trong thời bình.
Trình diễn hát Then – đàn Tính phục vụ nhân dân và du khách trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 tại Bảo tàng Đắk Lắk.
Hòa chung không khí thể thao rèn luyện sức khỏe dịp nghỉ lễ, Giải chạy Tuy Hòa 2026 “Đón bình minh trên biển” đã thu hút sự tham gia của hơn 3.000 vận động viên chuyên nghiệp và phong trào. Tham gia Giải chạy ở cự ly 21km, anh Bùi Thanh Quốc (đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh) chia sẻ, đây là giải chạy đáng nhớ vì vừa đón bình minh, vừa được ngắm biển Tuy Hòa. Đặc biệt, giải chạy được tổ chức tại phường Tuy Hòa - ngay tại địa phương anh Quốc sinh ra và lớn lên, do đó mang đến những cảm xúc khác biệt, giúp anh tận hưởng từng khoảnh khắc, tận hưởng không khí quê nhà và những cung đường biển rợp cờ hoa trong ngày Quốc khánh.
Không dừng lại ở các sự kiện cộng đồng, một số trung tâm thể dục thể thao ở phường Buôn Ma Thuột còn hưởng ứng bằng cách mặc trang phục bộ đội hoặc áo cờ đỏ sao vàng, đồng diễn các bài nhảy trên nền nhạc cách mạng và đăng tải lên mạng xã hội. Chị Cao Thúy Liễu, một huấn luyện viên Fitness tại phường Buôn Ma Thuột cho biết, nhân dịp Lễ Quốc khánh 2/9, việc biên soạn các bài tập trên nền nhạc cách mạng là cách chị cùng học viên lan tỏa năng lượng tích cực của tuổi trẻ. Những động tác thể thao khỏe khoắn kết hợp cùng giai điệu tự hào không chỉ khuyến khích cộng đồng rèn luyện thể lực mà còn truyền đi thông điệp yêu nước một cách tự nhiên, gần gũi. Hoạt động này không chỉ nhận được sự hưởng ứng sôi nổi từ học viên mà còn lan tỏa, nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ cộng đồng trên các nền tảng mạng xã hội.
Du khách, nhân dân cùng nhảy sạp trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 tại Bảo tàng Đắk Lắk.
Khép lại kỳ nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9, những hoạt động văn hóa, thể thao sôi nổi không chỉ mang đến không khí vui tươi, phấn khởi cho nhân dân và du khách, mà còn khẳng định sức hút của du lịch Đắk Lắk thông qua các sản phẩm trải nghiệm thực tế. Bằng sự sáng tạo trong cách làm du lịch gắn với trải nghiệm văn hóa - thể thao, Đắk Lắk đã và đang để lại ấn tượng về một điểm đến an toàn, thân thiện, giàu bản sắc, lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống và khơi dậy tình yêu quê hương đất nước trên vùng đất giàu truyền thống cách mạng./.
Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.
Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan...
Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.
Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.
Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.
Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.
Ở: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.
Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.
Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.
Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.
Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.
Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.
Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.
Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.
Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.
Theo cema.gov.vn