Ánh sáng đến với vùng biên
Dọc tuyến đường tuần tra biên giới qua địa phận ấp Thành Long, những chiếc đèn năng lượng mặt trời được lắp đặt nối tiếp nhau. Khi màn đêm buông xuống, ánh sáng từ những tấm pin năng lượng mặt trời soi rõ từng đoạn đường, những khu dân cư ven tuyến; xua đi bóng tối, mang đến cho người dân cảm giác an tâm hơn trong cuộc sống thường ngày.
Ông Danh Xà Rương, người có uy tín trong đồng bào dân tộc Khmer, ngụ ấp Thành Long, xã Ninh Điền chia sẻ: Bà con rất phấn khởi khi tuyến đường có thêm ánh sáng. Với người dân vùng biên, những thay đổi tưởng chừng giản dị ấy lại mang đến niềm vui và sự thuận tiện thiết thực.
"Trước đây một số đoạn đường thiếu ánh sáng khiến việc đi lại vào ban đêm còn nhiều bất tiện, nhất là đối với người lớn tuổi. Trẻ em đi học hoặc người dân đi làm, trở về nhà muộn cũng gặp không ít khó khăn. Có thêm ánh sáng, ban đêm đi lại dễ dàng hơn, người lớn tuổi cũng yên tâm hơn, con cháu đi học, đi về buổi tối cũng an toàn hơn. Một cây đèn có thể không phải là món quà lớn nhưng rất thiết thực với bà con vùng biên”, ông Danh Xà Rương bày tỏ.
Điều khiến ông Danh Xà Rương và bà con nơi đây phấn khởi hơn là phía sau những chiếc đèn còn là sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, các cơ quan, đơn vị và cộng đồng doanh nghiệp đối với đời sống người dân nơi biên cương. Sự sẻ chia ấy không chỉ mang lại ánh sáng cho những tuyến đường, còn góp phần củng cố niềm tin, khuyến khích người dân cùng chính quyền và lực lượng chức năng giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn.
"Chúng tôi sẽ sử dụng và giữ gìn những cây đèn được trao tặng thật tốt để công trình được sử dụng lâu dài”, ông Danh Xà Rương khẳng định.
Cách đó không xa, ông Nguyễn Văn Thuần, 60 tuổi, cũng cảm nhận rõ sự đổi thay khi tuyến đường trước nhà được thắp sáng. Với ông Thuần, niềm vui không chỉ đến từ việc đường làng sáng hơn, còn từ cảm giác bình yên khi đêm xuống.
“Kể từ khi có đèn đường, bà con về đêm bớt nhiều nỗi lo. Trẻ con có thêm không gian vui chơi, người lớn đi lại cũng thuận tiện hơn. Trước đây nhiều đoạn đường tối, nay có ánh sáng, bà con thấy yên tâm hơn rất nhiều”, ông Thuần nói.
Từ những sinh hoạt bình dị ấy, hiệu quả của công trình dần hiện hữu trong đời sống. Tuyến đường sáng hơn, khu dân cư cũng trở nên khang trang, gần gũi hơn; người dân có thêm điều kiện sinh hoạt, giao lưu vào buổi tối. Những chiếc đèn năng lượng mặt trời vì thế không chỉ xua đi bóng tối mà còn góp phần tạo nên một diện mạo mới cho vùng biên.
Bà Trần Thị Ngọc Nương, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Ninh Điền cho biết trước đây một số khu dân cư, tuyến đường về đêm còn thiếu ánh sáng, gây khó khăn cho người dân đi lại và công tác nắm tình hình địa bàn. Khi các tuyến đường được chiếu sáng, người dân thuận lợi hơn trong sinh hoạt, đồng thời có điều kiện quan sát, phát hiện những dấu hiệu bất thường. Đây cũng là yếu tố hỗ trợ lực lượng chức năng trong tuần tra, kiểm soát, chủ động phòng ngừa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.
Từ ánh sáng dân sinh đến sức mạnh bảo vệ biên cương
Vùng biên giới Tây Ninh có vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Toàn tỉnh có 19 xã biên giới giáp Campuchia, với đường biên giới dài gần 369 km. Cùng với đầu tư kết cấu hạ tầng, chăm lo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh luôn là nhiệm vụ được tỉnh quan tâm.
Cụ thể hóa chủ trương xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, UBND tỉnh giao Sở Công Thương vận động các doanh nghiệp, đơn vị tài trợ đóng góp nguồn lực đầu tư hệ thống chiếu sáng. Hơn 21 tỷ đồng được hỗ trợ đầu tư hệ thống chiếu sáng khoảng 230 km trong tổng số gần 347 km đường tuần tra biên giới; hơn 2,5 tỷ đồng hỗ trợ 1.131 hộ dân thuộc các xã có hộ dân sinh sống dọc tuyến, mỗi hộ một bộ đèn năng lượng mặt trời. Những nguồn lực này được hình thành từ sự đồng hành của các doanh nghiệp, tổ chức và hoạt động xã hội hóa do Sở Công Thương kết nối, từng bước biến sự sẻ chia thành những công trình thiết thực nơi biên cương.
Giám đốc Sở Công Thương Trương Tấn Sơn nêu rõ: Chương trình "Chung tay thắp sáng biên giới" không chỉ hướng đến việc đầu tư hệ thống chiếu sáng cho các tuyến đường vùng biên, còn lan tỏa tinh thần đoàn kết, trách nhiệm xã hội của cộng đồng doanh nghiệp. Qua đó, chương trình góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông, đồng thời chung tay xây dựng khu vực biên giới ngày càng phát triển.
Việc sử dụng đèn năng lượng mặt trời cũng phù hợp định hướng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, phát triển xanh và bền vững. Từ một công trình dân sinh, hệ thống chiếu sáng đã tạo thêm những giá trị thiết thực đối với công tác quản lý địa bàn, bảo đảm an ninh, trật tự.
Mỗi bóng đèn được thắp lên là thêm một điểm sáng trên tuyến biên giới, giúp lực lượng chức năng thuận lợi hơn trong tuần tra, kiểm soát, quản lý địa bàn, bảo vệ chủ quyền và an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời, ánh sáng góp phần củng cố thế trận biên phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; nâng cao ý thức của người dân trong chủ động phòng ngừa tội phạm, phát hiện và phối hợp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Minh Lâm cho biết, song song với sự quan tâm của tỉnh, sự sẻ chia, chung tay của các cấp, ngành, cộng đồng doanh nghiệp đối với nhân dân nơi biên cương đã góp phần đưa ánh sáng đến từng tuyến đường, từng khu dân cư; cải thiện điều kiện đi lại, sinh hoạt, tạo môi trường thuận lợi để người dân yên tâm lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, tiếp cận cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập và từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống.
Qua đó, không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội mà còn củng cố “thế trận lòng dân”, tăng cường sự gắn bó giữa chính quyền, lực lượng chức năng và Nhân dân, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, bình yên và phát triển.
Từ những công trình thiết thực đến sự chủ động, đồng lòng của mỗi người dân, sức mạnh đoàn kết đang ngày càng lan tỏa ở vùng biên. Chung một niềm tin, cùng chung sức, đồng bào dân tộc thiểu số và các tầng lớp nhân dân đang góp phần xây dựng Tây Ninh trở thành vùng biên ngày càng an toàn, văn minh, giàu sức sống và phát triển bền vững./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn