Phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với bà Trương Thị Thanh về những nỗ lực bảo tồn tiếng nói, làn điệu Soọng cô và phát huy vai trò của người có uy tín trong gìn giữ văn hóa truyền thống ở cộng đồng dân tộc Sán Dìu.
Thưa bà, điều gì thôi thúc bà dành nhiều năm sưu tầm lời hát cổ, truyền dạy tiếng Sán Dìu và hát Soọng cô cho thế hệ trẻ?
Điều khiến tôi trăn trở nhất là tiếng nói và những làn điệu Soọng cô quý báu của dân tộc mình có nguy cơ mai một khi lớp trẻ ngày càng ít sử dụng tiếng mẹ đẻ, chưa hiểu hết giá trị văn hóa truyền thống. Tôi luôn nghĩ tiếng nói là cội nguồn bản sắc, còn Soọng cô chứa đựng tâm tư, tình cảm, đạo lý và kinh nghiệm sống của cha ông.
Vì vậy, tôi dành nhiều năm sưu tầm, ghi chép lời hát cổ, những câu chuyện dân gian và kiên trì truyền dạy cho thế hệ sau. Tôi mong các cháu không chỉ biết nói tiếng dân tộc, biết hát Soọng cô mà còn hiểu ý nghĩa nhân văn, tình yêu quê hương và tình nghĩa con người gửi gắm trong từng lời ca.
Với tôi, giữ gìn tiếng Sán Dìu và hát Soọng cô chính là giữ gìn cội nguồn, để con cháu dù đi đâu cũng biết mình là ai và tự hào về dân tộc mình.
Trong quá trình truyền dạy, bà đã chứng kiến những chuyển biến nào ở lớp trẻ, nhất là với những người ban đầu chưa biết tiếng dân tộc?
Tôi từng gặp những cháu là người Sán Dìu nhưng gần như không biết nói tiếng dân tộc, cũng chưa hiểu những câu hát Soọng cô mà ông bà thường ngân nga. Khi tham gia sinh hoạt câu lạc bộ, các cháu được hướng dẫn từ những câu chào hỏi đơn giản, cách phát âm đến nghe, nhớ và hát từng câu dân ca.
Ban đầu, các cháu còn ngượng ngùng, phát âm chưa chuẩn, chưa hiểu hết ý nghĩa lời hát. Nhưng nhờ sự kiên trì của người dạy và tinh thần ham học hỏi, các cháu dần tiến bộ. Điều khiến tôi vui nhất là khi các cháu chủ động tìm hiểu ý nghĩa câu hát, hỏi ông bà về phong tục và tự hào giới thiệu văn hóa dân tộc mình với bạn bè.
Qua đó, tôi càng tin rằng nếu được tạo điều kiện học tập bằng tình yêu thương và sự kiên nhẫn, người trẻ hoàn toàn có thể trở thành những người tiếp nối, gìn giữ di sản của cha ông.
Từng là người có uy tín trong cộng đồng, bà thấy vai trò của những người am hiểu phong tục, tiếng nói và văn hóa dân tộc quan trọng như thế nào trong việc vận động người dân bảo tồn di sản?
Theo tôi, những người am hiểu phong tục, tiếng nói và văn hóa dân tộc có vai trò quan trọng bởi họ không chỉ nắm giữ tri thức truyền thống mà còn là cầu nối giữa các thế hệ. Muốn vận động bà con bảo tồn di sản, trước hết phải hiểu phong tục, tôn trọng nếp sống và giải thích để mọi người nhận thức được giá trị những điều cha ông để lại.
Bằng uy tín, sự gương mẫu và cách nói gần gũi, chúng tôi có thể khuyến khích các gia đình sử dụng tiếng Sán Dìu trong sinh hoạt, động viên con cháu học hát Soọng cô, tham gia các hoạt động văn hóa tại địa phương.
Tuy nhiên, bảo tồn di sản không thể chỉ dựa vào một vài cá nhân mà cần sự chung tay của gia đình, nhà trường, chính quyền và toàn thể cộng đồng. Mỗi người dân vừa là người thụ hưởng, vừa có trách nhiệm gìn giữ, trao truyền những giá trị văn hóa quý báu cho thế hệ mai sau.
Bà từng tham gia giao lưu với các câu lạc bộ Sán Dìu ở nhiều địa phương. Những hoạt động này có ý nghĩa như thế nào đối với việc bảo tồn Soọng cô và kết nối cộng đồng?
Tôi có dịp tham gia giao lưu với các câu lạc bộ Sán Dìu ở Bắc Ninh, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên và nhận thấy đây là hoạt động rất ý nghĩa. Qua những buổi gặp gỡ, chúng tôi có cơ hội trao đổi lời hát cổ, cách hát, cách phát âm và tìm hiểu những nét phong tục riêng của từng vùng, từ đó bổ sung kiến thức, làm phong phú thêm vốn di sản của mình.
Những cuộc giao lưu cũng tạo điều kiện để người cao tuổi truyền dạy kinh nghiệm, còn lớp trẻ có môi trường thực hành, tự tin thể hiện khả năng và thêm yêu văn hóa dân tộc. Dù sinh sống ở những địa phương khác nhau, khi cùng cất lên làn điệu Soọng cô, chúng tôi nhận ra sự gắn bó về tiếng nói, văn hóa và cội nguồn.
Tôi mong các hoạt động giao lưu được duy trì thường xuyên, không chỉ để những câu hát Soọng cô tiếp tục vang lên mà còn góp phần thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó giữa đồng bào Sán Dìu ở các địa phương.
Ở tuổi ngoài 70, điều bà lo lắng nhất và mong muốn lớn nhất đối với việc gìn giữ tiếng nói, hát Soọng cô của thế hệ trẻ là gì?
Điều tôi lo lắng nhất là những người còn nhớ nhiều tiếng nói cổ, lời hát cổ và phong tục truyền thống ngày càng ít đi, trong khi việc trao truyền cho lớp trẻ vẫn còn khó khăn. Nếu người trẻ không thường xuyên sử dụng tiếng Sán Dìu, không được tiếp cận với Soọng cô, những giá trị quý báu ấy có thể dần bị lãng quên.
Tôi mong các cháu biết yêu tiếng mẹ đẻ, chủ động học hát Soọng cô và hiểu rằng văn hóa dân tộc không phải điều gì xa vời mà hiện diện trong chính gia đình, quê hương và đời sống hằng ngày. Tôi cũng mong các cấp, các ngành quan tâm tạo điều kiện để các lớp truyền dạy, câu lạc bộ và hoạt động giao lưu được duy trì lâu dài, giúp người cao tuổi có cơ hội trao truyền vốn quý cho thế hệ kế tiếp.
Tôi không mong điều gì lớn lao, chỉ mong sau này, khi chúng tôi không còn đủ sức cất lời ca, vẫn có những người trẻ tiếp tục hát Soọng cô bằng niềm tự hào và tình yêu đối với dân tộc mình, để tiếng nói và hồn cốt văn hóa Sán Dìu được gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ.
Xin trân trọng cảm ơn bà!
Việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết và văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số được thể hiện trong Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 127/2024/NĐ-CP. Cùng với đó, Nghị quyết số 46/2026/QH16 của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035 đặt ra khuôn khổ chính sách cho việc phát triển văn hóa và nâng cao đời sống đồng bào, góp phần quan trọng vào việc trao truyền tiếng mẹ đẻ, làn điệu dân ca, gìn giữ bản sắc dân tộc qua các thế hệ.
Tên tự gọi: San Déo Nhín (Sơn Dao Nhân).
Tên gọi khác: Trại, Trại Ðất, Mán Quần cộc, Mán Váy xẻ...
Ngôn ngữ: Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Ðông (ngữ hệ Hán - Tạng).
Dân số: 146.821 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Lịch sử: Người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay.
Hoạt động sản xuất: Người Sán Dìu có làm ruộng nước nhưng không nhiều, canh tác ruộng khô là chính. Ngoài các loại cây trồng thường thấy ở nhiều vùng như lúa, ngô, khoai, sắn... họ còn trồng nhiều cây có củ.
Từ rất lâu họ biết dùng phân bón ruộng. Nhờ đắp thêm mũi phụ, lưỡi cày của họ trở nên bền, sắc và thích hợp hơn với việc cày ở nơi đất cứng, nhiều sỏi đá.
Ăn: Người Sán Dìu ăn cơm tẻ là chính, có độn thêm khoai sắn. Sau bữa ăn, họ thường húp thêm bát cháo loãng như người Nùng.
Mặc: Bộ Y phục truyền thống của phụ nữ gồm khăn đen, áo dài (đơn hoặc kép), nếu là áo kép thì bao giờ chiếc bên trong cũng màu trắng còn chiếc bên ngoài màu chàm dài hơn một chút; yếm màu đỏ; thắt lưng màu trắng, hồng hay xanh lơ; váy là hai mảnh rời cùng chung một cạp, chỉ dài quá gối có màu chàm; xà cạp màu chàm; xà cạp màu trắng. Ðồ trang trí gồm vòng cổ, vòng tay, hoa tai và dây xà tích bằng bạc.
Nam giới ăn mặc như người Việt: búi tóc vấn khăn hoặc đội khăn xếp, áo dài thâm, quần trắng.
Ở: Họ sống tập trung ở trung du Bắc bộ, trong vùng từ tả ngạn sông Hồng đổ về phía Ðông. Làng xóm của họ tựa như làng người Việt, có luỹ tre bao bọc và giữa các nhà thường có tường hay hàng rào. Ở nhà đất trình tường hay thưng ván.
Phương tiện vận chuyển: Ngoài gánh còn sử dụng xe quệt như là một phương tiện vận chuyển chính. Xe làm bằng tre, gỗ do trâu kéo, dùng để vận chuyển chính. Xe làm bằng tre, gỗ do trâu kéo, dùng để vận chuyển tất cả mọi thứ, từ thóc lúa, củi đuốc cho đến phân bón. Do không có bánh bên xe quệt có thể sử dụng ở nhiều loại địa hình khác nhau.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, ruộng đất đã tư hữu hoá và xã hội đã có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Ðịa chủ và phú nông nắm giữ nhiều ruộng đất và bóc lột các tầng lớp nông dân lao động dưới hình thức phát canh thu tô, thuê mướn nhân công và cho vay nặng lãi.
Bên cạnh bộ máy chính quyền, ở các làng còn có người đứng đầy làng do dân bầu ra để quản lý công việc chung.
Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương nhưng có thành vợ thành chồng hay không họ lại tuỳ thuộc vào "số mệnh" và sự quyết định của bố mẹ.
Ðám cưới gồm nhiều nghi lễ. Ðáng chú ý nhất có lễ khai hoa tửu diễn ra tại nhà gái, trước hôm cô dâu về nhà chồng. Người ra lấy một bình rượu và một cái đĩa, trên đĩa lót hai miếng giấy cắt hoa, miếng trắng để dưới, miếng đỏ để trên, đặt lên trên đĩa hai quả trứng luộc có xâu chỉ đỏ và buộc ở mỗi bên trứng hai đồng xu. Sau khi cúng thì bóc trứng lấy lòng đỏ hoà với rượu để mọi người uống mừng hạnh phúc của cô dâu, chú rể.
Ma chay: Khi hạ huyệt, con cái phải từ phía chân quan tài bò một vòng quanh miệng huyệt. Con trai bò từ trái sang phải còn con gái bò từ phải sang trái, vừa bò vừa xô đất lấp huyệt. Lúc đứng dậy, mỗi người vốc một nắm đất và chạy thật nhanh về nhà bỏ vào chuồng trâu, chuồng lợn... với ý nghĩa cho gia súc sinh sôi, nảy nở. Tiếp đó chạy vào nhà và ngồi xuống thúng thóc với quan niệm ai dính nhiều thóc là may mắn. Cuối cùng, mỗi người tự xé lấy một miếng thịt gà luộc để ăn, ai đến trước nhất được mào gà, tiếp theo được đầu, cổ, cánh... Nhà mồ có mái bằng, lợp lá rừng. Khi cải táng, xương được xếp vào tiểu hoặc chum theo tư thế ngồi và nếu chưa chọn được ngày tốt thì chôn tạm ở chân đồi hay bờ ruộng.
Nhà mới: Mỗi khi có ai làm nhà thì mọi người trong họ, trong làng tự đến giúp đỡ, chủ nhân không cần phải mời giúp. Trong lễ lên nhà mới chủ nhà mời người cao tuổi trong họ đem lửa, bình vôi, ít hạt giống vào nhà.
Thờ cúng: Trên bàn thờ thường đặt ba bát hương thờ tổ tiên, pháp sư và táo quân. Nếu chủ nhà chưa được cấp sắc thì chỉ có hai bát hương. Những người mới chết chưa kịp làm ma cũng đặt bát hương lên bàn thờ nhưng để thấp hơn. Ngoài ra, người Sán Dìu còn thờ thổ thần ở miếu thờ thành hoàng ở đình.
Lễ tết: Có những ngày tết như nhiều dân tộc ở trong vùng. Riêng tết Ðông chí còn mang thêm ý nghĩa cầu mong có con đàn, cháu đống. Những người đã lấy nhau lâu mà vẫn chưa có con thì sau khi ăn tết xong người vợ về nhà bố mẹ đẻ ở. Người chồng cho ông mối đến hỏi và sau đó tổ chức cưới lại như là cưới vợ mới.
Lịch: Người Sán Dìu theo âm lịch.
Học: Trước kia, thanh niên thường học chữ Hán để làm thầy cúng nhưng hiện nay còn rất ít người biết chữ Hán.
Văn nghệ: Giống như ở nhiều dân tộc khác, người Sán Dìu cũng có hát giao duyên nam nữ mà họ gọi là soọng cô, thường được hát về đêm. Có những cuộc hát kéo dài suốt nhiều đêm.
Theo cema.gov.vn