Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh

Các đội tham gia thi đấu tại Lễ hội đua ghe Ngo. Ảnh: An Hiếu
Các đội tham gia thi đấu tại Lễ hội đua ghe Ngo. Ảnh: An Hiếu

Sáng ngày 23-4, tại TP. HCM, chín đội đua ghe Ngo đến từ năm tỉnh thành đã tranh tài sôi nổi trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, tuyến kênh chảy qua khu vực trung tâm của thành phố. Phóng viên Báo ảnh Dân tộc và Miền núi đã ghi nhận những hình ảnh về hoạt động này.

9 đội ghe đến Bình Dương, Tây Ninh, Kiên Giang, Bình Phước và Tp. Hồ Chí Minh đã tham gia Lễ hội đua ghe Ngo mở rộng lần thứ nhất năm 2023.

Lễ hội nhằm góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa đồng bào Khmer Nam bộ. Tăng cường giao lưu văn hóa, học tập, trao đổi kinh nghiệm giữa các dân tộc, quảng bá tiềm năng và lợi thế hình ảnh du lịch thành phố Hồ Chí Minh, điểm đến an toàn, thân thiện, nghĩa tình cho bạn bè trong nước và quốc tế.

Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 1Tiết mục múa Khmer truyền thống tại buổi khai mạc Lễ hội đua ghe Ngo lần thứ nhất tại Tp. Hồ Chí Minh. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 2Các đội ghe tham gia Lễ hội đua ghe Ngo lần thứ nhất tại Tp. Hồ Chí Minh. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 3Các đội ghe tranh tài trên kênh Nhiêu Lộc, đoạn từ cầu Công Lý đến cầu Lê Văn Sỹ (Quận 3). Ảnh An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 4Các đội tham gia thi đấu tại Lễ hội đua ghe Ngo. Ảnh: An Hiếu 
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 5Lễ hội đua ghe Ngo thu hút hàng trăm người dân Tp. Hồ Chí Minh đến cổ vũ. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 6Đồng bào Khmer thích thú xem đua ghe Ngo tại Lễ hội đua ghe Ngo tại Tp. Hồ Chí Minh. Ảnh: An Hiếu 
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 7Quang cảnh Lễ hội đua ghe Ngo lần thứ nhất được diễn ra tại Tp. Hồ Chí Minh. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 8Người dân Tp. Hồ Chí Minh cổ vũ cho các đội đua tại Lễ hội đua ghe Ngo lần thứ nhất. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 9Các vận động viên hai đội bức tốc về đích tại Lễ hội đua ghe Ngo. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 10Các vận động viên tranh tài tại Lễ Lễ hội đua ghe Ngo. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 11Trao thưởng cho các đội đạt giải khuyết khích tại Lễ hội đua ghe Ngo. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 12Trao phần thưởng cho đội ghe đạt giải ba. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 13Đội Thôn Dôn đến từ Rạch Giá, Kiên Giang về nhì. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 14Ban tổ chức trao giải nhất cho đội Kha Lang Mương đến từ huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Ảnh: An Hiếu
Hội ghe Ngo giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh ảnh 15Niềm vui nhận được giải nhất của đội Kha Lang Mương đến từ huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Ảnh: An Hiếu 

Đua ghe ngo nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2023), Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khmer, Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4).

An Hiếu (thực hiện)

(Báo ảnh DT&MN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Mẫu Sơn là dãy núi cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn với đỉnh Phjia Mè cao 1.520 m so với mực nước biển. Nhờ khí hậu mát mẻ quanh năm và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, từ thời Pháp thuộc, nơi đây đã được biết đến là điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng ở miền Bắc.

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Nằm cách đất liền khoảng 24km, xã Nhơn Châu, tỉnh Gia Lai, thường được biết đến với tên gọi Cù Lao Xanh, đang từng bước chuyển mình từ một làng đảo chủ yếu sống bằng nghề biển thành điểm đến du lịch giàu tiềm năng. Giữa nhịp phát triển mới, Cù Lao Xanh vẫn giữ nguyên vẻ yên bình với phiên chợ sớm, âu thuyền tấp nập, những tuyến bờ kè hướng biển và cuộc sống mộc mạc của người dân nơi đầu sóng. 

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, rừng Bầu Đá (xã Hòa Thịnh) được xem là cánh rừng ngập nước duy nhất nơi đây. Không chỉ gây ấn tượng bởi những tán rừng trải dài soi bóng dưới làn nước tĩnh lặng, rừng ngập nước Bầu Đá còn là mái nhà của nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Địa phương đang nỗ lực gìn giữ giá trị và phát huy tiềm năng du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Ở miền Tây Nghệ An, những chợ phiên vùng cao, biên giới nổi tiếng như Mường Quạ (xã Môn Sơn), Mường Chon (xã Bình Chuẩn), Tri Lễ (xã Tri Lễ), Nga My (xã Nga My), Nhôn Mai (xã Nhôn Mai)… không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là không gian văn hóa sống động, đặc sắc, nơi lưu giữ phong tục, tập quán và bản sắc đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Thái, Đan Lai, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu...

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Trong chiến lược phát triển du lịch, ngoài khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, nhiều xã, phường của tỉnh Thanh Hóa đang kiến tạo những không gian trải nghiệm mới, hấp dẫn, từ du lịch sinh thái đến khám phá đời sống văn hóa cộng đồng, ẩm thực địa phương, tạo sức hút để nâng tầm du lịch Thanh Hóa trong giai đoạn mới.

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Mỗi hòn đảo tiền tiêu có một cách mưu sinh riêng, nhưng đều đứng trước cùng một bài toán: làm sao để người dân có thể sống được trên chính quê hương mình. Từ Cù Lao Xanh, Cù Lao Chàm đến Lý Sơn, hành trình tìm lời giải cho sinh kế bền vững không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế biển mà còn góp phần giữ những cộng đồng cư dân bám biển, bám đảo như những "phên dậu" vững chắc giữa trùng khơi.

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Du lịch Điện Biên đang đứng trước thời cơ phát triển mới khi lượng khách và doanh thu liên tục tăng trưởng sau nhiều năm tập trung đầu tư hạ tầng, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa.

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Việt Nam là một đất nước giàu bản sắc văn hóa với hàng nghìn năm lịch sử. Mỗi địa phương đều mang trong mình một câu chuyện riêng. Từ những phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, làng nghề lâu đời đến những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ, tất cả đã tạo nên một bức tranh văn hóa đặc sắc, tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Ngày 9/7, tại phường Quy Nhơn Nam, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã chính thức công bố, giới thiệu và trao Quyết định công nhận các Điểm du lịch của tỉnh. Đây là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam.

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Giữa không gian thanh bình của núi đồi và những nếp nhà sàn truyền thống dân tộc Tày, thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân, mô hình này còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.

Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Không ít địa phương sở hữu cảnh quan đẹp, di sản quý hay những lễ hội đặc sắc nhưng không phải nơi nào cũng có thể biến những giá trị ấy thành động lực phát triển kinh tế bền vững. Với Tuyên Quang, văn hóa không còn chỉ hiện diện trong các bảo tàng, lễ hội hay ký ức cộng đồng mà đang từng bước khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho du lịch. 

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn

Điểm du lịch sinh thái Hồ Rà Hách - Suối Ruông, thuộc thôn Bà He, xã Sơn Tây Hạ (Quảng Ngãi) vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ với làn nước trong xanh, mát lạnh quanh năm. Nơi đây có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng, sinh thái gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng người Ca Dong giữa đại ngàn Trường Sơn.

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Tại chương trình “Trải nghiệm Vô Tranh - Dấu ấn xứ Trà, hành trình một năm kiến tạo vươn tầm và phát triển”, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên đã giới thiệu tiềm năng, lợi thế trong phát triển kinh tế nông nghiệp, văn hóa trà và du lịch cộng đồng. Sự kiện là dịp quảng bá hình ảnh vùng chè Vô Tranh, đồng thời mở ra hướng đi mới trong khai thác giá trị cây chè gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xanh.

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Nằm tại xã Phong Quang, trên cung đường mới kết nối thành phố Bắc Kạn cũ với hồ Ba Bể, thác Lủng Páng đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn của du lịch Thái Nguyên, phù hợp với du khách yêu thiên nhiên, thích trekking và khám phá vẻ đẹp nguyên bản của vùng Việt Bắc.

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn tăng cao, đạt 25.370 tỷ đồng, xấp xỉ 50% kế hoạch năm. Con số này không chỉ phản ánh sức hút của du lịch Lào Cai đối với du khách trong và ngoài nước mà còn thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi tiêu dùng khi du khách, đặc biệt là khách nước ngoài sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các trải nghiệm hấp dẫn tại địa phương.

Đánh giá hiện trạng, bảo vệ di sản Công viên Địa chất UNESCO Đắk Nông

Đánh giá hiện trạng, bảo vệ di sản Công viên Địa chất UNESCO Đắk Nông

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng vừa phối hợp với Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam và đơn vị liên quan, chính quyền các địa phương khảo sát, đánh giá hiện trạng tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (thuộc khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng). Đây là công viên địa chất đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam lần 2 vào tháng 12/2024.

Khai thác tiềm năng du lịch khác biệt, giàu trải nghiệm

Khai thác tiềm năng du lịch khác biệt, giàu trải nghiệm

Sau sáp nhập, tỉnh Đắk Lắk có lợi thế vàng từ “biển - rừng - văn hóa” để khai thác, hình thành các sản phẩm du lịch đa dạng, khác biệt và giàu trải nghiệm. Hiện nay, tỉnh đang khẩn trương xây dựng “Đề án phát triển du lịch tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

Khẳng định vị thế điểm đến nơi cực Bắc

Khẳng định vị thế điểm đến nơi cực Bắc

Từ những lợi thế về cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa độc đáo, Lũng Cú (Tuyên Quang) đang từng bước trở thành điểm đến hấp dẫn của vùng cực Bắc. Sự phát triển mạnh của du lịch những năm gần đây không chỉ tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho địa phương.

Khai thác 'mỏ vàng' du lịch sau hợp nhất

Khai thác 'mỏ vàng' du lịch sau hợp nhất

Sau khi hợp nhất không gian phát triển của ba địa phương Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình trước đây, tỉnh Phú Thọ hiện nay sở hữu hệ sinh thái du lịch đa dạng, hội tụ các giá trị văn hóa, lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch cộng đồng. Đây được xem là lợi thế quan trọng, tạo nền tảng để địa phương bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm du lịch lớn của khu vực và cả nước.