Không ít địa phương sở hữu cảnh quan đẹp, di sản quý hay những lễ hội đặc sắc nhưng không phải nơi nào cũng có thể biến những giá trị ấy thành động lực phát triển kinh tế bền vững. Với Tuyên Quang, văn hóa không còn chỉ hiện diện trong các bảo tàng, lễ hội hay ký ức cộng đồng mà đang từng bước khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho du lịch.
Những ngôi nhà trình tường của người Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn, lễ cúng rừng của người Nùng, điệu múa của người Pà Thẻn, tiếng trống đồng của người Lô Lô, những đồi chè Shan tuyết cổ thụ hay các bản du lịch cộng đồng giữa núi rừng... đang được kết nối thành trải nghiệm giàu bản sắc, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.
Những giá trị được gìn giữ qua nhiều thế hệ
Hầu hết các điểm đến hấp dẫn nhất của Tuyên Quang là đều mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa. Du khách tìm đến Lũng Cú không chỉ để chạm tay vào cột cờ nơi địa đầu Tổ quốc mà còn để ngủ trong những ngôi nhà trình tường của người Lô Lô, nghe câu chuyện về chiếc váy thêu thủ công, thưởng thức bữa cơm truyền thống và cảm nhận nhịp sống bình yên giữa bản làng. Đến Khâu Vai, điều níu chân du khách không chỉ là cảnh sắc miền đá mà còn là sức sống của chợ phong lưu đã trở thành biểu tượng văn hóa độc đáo của vùng cao. Về Hoàng Su Phì hay Xín Mần, ngoài những thửa ruộng bậc thang kỳ vĩ là không gian văn hóa của đồng bào Dao, Nùng, La Chí được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Điều làm nên sức hút ấy không phải những công trình được xây dựng mới mà chính là các giá trị nguyên bản vẫn được cộng đồng bảo tồn trong đời sống hằng ngày. Từ nếp nhà, trang phục, tiếng nói, lễ hội đến nghề thủ công truyền thống, tất cả đều là chất liệu tạo nên những sản phẩm du lịch khác biệt. Du khách ngày nay không chỉ muốn ngắm cảnh mà còn mong được sống trong không gian văn hóa của điểm đến, được trực tiếp trải nghiệm, lắng nghe những câu chuyện gắn với con người bản địa. Chính xu hướng ấy mở ra cơ hội để các địa phương chuyển hóa di sản văn hóa thành lợi thế cạnh tranh.
Những năm gần đây, Tuyên Quang xác định phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Thay vì khai thác đơn lẻ từng danh lam hay lễ hội, nhiều địa phương chú trọng xây dựng không gian trải nghiệm, nơi văn hóa hiện diện trong từng hoạt động của người dân. Từ những homestay mang kiến trúc truyền thống, các làng nghề, sản phẩm OCOP đến chương trình biểu diễn dân ca, dân vũ, tất cả đều góp phần kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao giá trị chi tiêu của du khách.
Thiếu nữ dân tộc Lô Lô trong trang phục truyền thống, điểm tô nét duyên dáng cho làng du lịch cộng đồng nơi cực Bắc Tổ quốc. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN
Quan điểm phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế, xã hội, khai thác giá trị di sản đi đôi với bảo tồn luôn được lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh trong nhiều nghị quyết, chương trình và các kỳ họp HĐND tỉnh. Theo ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên Quang, phát triển du lịch phải dựa trên nền tảng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, để mỗi di sản không chỉ được gìn giữ mà còn trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.
Đáng chú ý, nhiều giá trị từng đứng trước nguy cơ mai một nay lại có cơ hội hồi sinh nhờ du lịch. Nghề dệt lanh của người Lô Lô, nghề chế biến chè Shan tuyết, nghề chạm bạc của người Dao, các nghi lễ truyền thống, những làn điệu dân ca… không chỉ được bảo tồn mà còn tạo thêm sinh kế cho người dân. Khi một sản phẩm văn hóa có thể tạo thu nhập, cộng đồng sẽ có thêm động lực để gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau. Đó là mối quan hệ hai chiều giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế mà nhiều địa phương đang hướng tới.
Một góc làng du lịch cộng đồng Lô Lô Chải nhộn nhịp, thu hút du khách đến tham quan, trải nghiệm. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN
Là người gắn bó nhiều năm với công tác bảo tồn văn hóa của đồng bào Nùng, bà Lù Thị Chỉnh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Pờ Ly Ngài cho rằng, phát triển du lịch chỉ thực sự bền vững khi các giá trị truyền thống vẫn được cộng đồng gìn giữ bằng sự tự nguyện và lòng tự hào. Theo bà Chỉnh, lễ cúng rừng, những làn điệu dân ca hay các phong tục truyền thống không phải là “tiết mục biểu diễn” mà là một phần đời sống của người dân. Khi du khách đến để tìm hiểu, trân trọng và cùng gìn giữ những giá trị ấy, văn hóa sẽ có thêm sức sống, đồng thời tạo thêm sinh kế cho người dân địa phương.
Sáu tháng đầu năm 2026, Tuyên Quang đón hơn 2,09 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt gần 5.857 tỷ đồng. Những con số ấy phản ánh sự tăng trưởng của ngành du lịch nhưng điều quan trọng hơn là cho thấy bản sắc văn hóa ngày càng trở thành yếu tố quyết định sức hấp dẫn của điểm đến. Trong bối cảnh nhiều địa phương cùng đầu tư hạ tầng và dịch vụ, chính sự khác biệt về văn hóa là lợi thế khó sao chép.
Kiến tạo hệ sinh thái du lịch từ bản sắc văn hóa
Nếu trước đây du lịch chủ yếu khai thác từng điểm đến riêng lẻ, hiện nay, Tuyên Quang đang từng bước hình thành hệ sinh thái du lịch dựa trên sự kết nối giữa thiên nhiên, văn hóa và cộng đồng. Một hành trình có thể bắt đầu từ hồ Na Hang, tiếp nối với những bản làng du lịch cộng đồng, khám phá vùng chè Shan tuyết cổ thụ, trải nghiệm các lễ hội truyền thống rồi kết thúc trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Mỗi điểm đến đều mang dấu ấn riêng nhưng được liên kết bằng câu chuyện chung về văn hóa và con người.
Theo ông Lê Quang Huy, Quản lý vận hành Panhou Retreat - một trong những khu nghỉ dưỡng sinh thái tiêu biểu của tỉnh, điều khiến nhiều du khách trong và ngoài nước lựa chọn quay trở lại không chỉ là cảnh quan thiên nhiên mà còn bởi những trải nghiệm văn hóa bản địa. Từ kiến trúc mang đậm dấu ấn người Dao, ẩm thực truyền thống, tắm lá thuốc đến những câu chuyện về phong tục, tập quán của đồng bào đều trở thành một phần trong hành trình khám phá. Theo ông Huy, khi văn hóa được gìn giữ nguyên bản và được kể bằng chính người địa phương, đó sẽ là sản phẩm du lịch có giá trị lâu bền nhất.
Cùng với đầu tư hạ tầng, tỉnh chú trọng phát triển sản phẩm du lịch gắn với nông nghiệp, văn hóa và sinh thái. Những sản phẩm OCOP không chỉ xuất hiện trên kệ hàng mà mang theo câu chuyện của vùng đất. Những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi không chỉ tạo ra sản phẩm đạt chuẩn quốc gia mà còn mở ra các tour trải nghiệm từ nương chè đến bàn trà. Những lễ hội truyền thống không còn diễn ra khép kín trong cộng đồng mà trở thành sự kiện thu hút du khách, đồng thời vẫn giữ được giá trị nguyên gốc.
Chuyển đổi số đang góp phần đưa văn hóa đến gần hơn với du khách. Hoạt động quảng bá trên nền tảng số, các sản phẩm truyền thông đa phương tiện, bản đồ du lịch thông minh, cùng sự tham gia ngày càng tích cực của người dân và doanh nghiệp giúp hình ảnh Tuyên Quang lan tỏa rộng hơn. Khi mỗi người dân trở thành một "đại sứ" giới thiệu văn hóa quê hương, sức hấp dẫn của điểm đến không chỉ đến từ phong cảnh mà còn từ sự thân thiện, hiếu khách và những câu chuyện giàu bản sắc.
Điều đáng mừng là tư duy phát triển du lịch của nhiều địa phương đã có sự thay đổi. Thay vì chạy theo những công trình nhân tạo hay sản phẩm na ná nhau, các địa phương chú trọng khai thác lợi thế riêng, lấy văn hóa làm nền tảng để tạo dấu ấn. Chính cách làm ấy giúp mỗi vùng đất giữ được bản sắc, đồng thời tránh nguy cơ đồng nhất hóa sản phẩm du lịch.
Chỉ khi những giá trị truyền thống tiếp tục được gìn giữ trong đời sống cộng đồng, được trao truyền qua nhiều thế hệ và mang lại sinh kế cho chính người dân, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển bền vững. Bảo tồn và phát triển không còn là hai mục tiêu tách biệt mà bổ trợ cho nhau, cùng tạo nên sức sống lâu dài cho điểm đến.
Có thể thấy, khi những giá trị văn hóa được gìn giữ trong đời sống cộng đồng, được kể bằng chính con người đang sống cùng di sản và chuyển hóa thành trải nghiệm chân thực cho du khách, văn hóa sẽ không chỉ là ký ức mà trở thành nguồn lực cho hiện tại và tương lai. Đó cũng là con đường để du lịch Tuyên Quang phát triển bền vững bằng chính bản sắc riêng của mình./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn
Tên tự gọi: Nồng.
Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...
Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...
Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.
Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.
Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.
Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.
Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.
Ở: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.
Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.
Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.
Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.
Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.
Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.
Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.
Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.
Lịch: Người Nùng theo âm lịch.
Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.
Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.
Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...
Theo cema.gov.vn