Khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng lập nghiệp của thanh niên dân tộc thiểu số

Thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với bảo đảm an sinh xã hội, tỉnh Tây Ninh tập trung khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng lập thân, lập nghiệp của thanh niên dân tộc thiểu số thông qua giáo dục, đào tạo nghề và hỗ trợ khởi nghiệp gắn với sinh kế truyền thống, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng trong tỉnh.

Phát triển toàn diện thanh niên dân tộc thiểu số

tay-nnh.jpg
Các chính sách hỗ trợ được triển khai đồng bộ giúp thanh niên dân tộc thiểu số ổn định đời sống, yên tâm lao động, học nghề và khởi nghiệp ngay tại địa phương.

Theo UBND tỉnh Tây Ninh, toàn tỉnh hiện có 17 dân tộc thiểu số với 35.589 người, chiếm 1,12% dân số. Các cộng đồng chủ yếu cư trú đan xen với người Kinh; giai đoạn 2020 – 2025 có 18 ấp, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một xã khu vực 1 vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Những năm qua, đời sống kinh tế, xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản ổn định. Trọng tâm các chính sách, chương trình, dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai đồng bộ, giúp sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt phát triển theo hướng bền vững. Công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần được chú trọng; các dịp lễ, Tết cổ truyền tổ chức an toàn, tiết kiệm; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Song song đó, hạ tầng giáo dục và đào tạo tiếp tục được củng cố. Toàn tỉnh có 74 trường Trung học phổ thông; 21 cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang hoạt động (5 trường cao đẳng, 9 trường trung cấp, 3 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 4 đơn vị tham gia giáo dục nghề nghiệp) cùng 1 Trường Cao đẳng Sư phạm tham gia đào tạo nghề. Hiện có 910 học sinh dân tộc thiểu số học trung học phổ thông và 23 học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và Trường Cao đẳng Sư phạm. Đây được xem là nguồn lực trẻ quan trọng cho phát triển lâu dài trên địa bàn tỉnh.

Cùng các chủ trương của Trung ương, tỉnh đã trình HĐND tỉnh Tây Ninh ban hành nghị quyết phát triển thanh niên đến năm 2030. Mục tiêu hướng đến xây dựng thế hệ thanh niên phát triển toàn diện: giàu lòng yêu nước, có lý tưởng, khát vọng vươn lên; có đạo đức, ý thức công dân, sức khỏe, lối sống lành mạnh; có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, việc làm bền vững; năng động, sáng tạo và sẵn sàng cống hiến.

Cũng theo UBND tỉnh Tây Ninh, dù chưa có chính sách đặc thù riêng cho khởi nghiệp sáng tạo của thanh niên dân tộc thiểu số, nhưng các nội dung hỗ trợ đã được lồng ghép trong Nghị quyết số 63/NQ-HĐND với các mục tiêu: Tuyên truyền pháp luật; nâng cao kiến thức, kỹ năng và cơ hội học tập; đào tạo nghề, tạo việc làm bền vững; nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ Trung học phổ thông và tương đương; 70% thanh niên dân tộc thiểu số đạt trình độ Trung học cơ sở; tạo việc làm ổn định cho trên 50% thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong triển khai, theo Tỉnh đoàn Tây Ninh, đơn vị đã cụ thể hóa chủ trương bằng nhiều hoạt động thiết thực như: Lồng ghép an sinh xã hội với chương trình công tác Đoàn; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội hóa; hỗ trợ thanh niên ổn định đời sống để yên tâm học nghề, lao động và khởi nghiệp. Chương trình phổ cập kỹ năng số giúp thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ, mở rộng thị trường, dịch vụ công và mô hình sản xuất mới. Tiêu biểu năm 2025, Đoàn Thanh niên xã Ninh Điền đã phổ cập kỹ năng số cho 100 người dân tộc Khmer.

Các “Ngày hội Thanh niên dân tộc, tôn giáo tỉnh Tây Ninh” được tổ chức định kỳ, tích hợp tư vấn hướng nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp, kết nối việc làm; tập huấn kiến thức, tuyên truyền chính sách; trao học bổng cho thanh niên khó khăn. 96/96 xã, phường chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn, Hội, Đội là người dân tộc thiểu số. Các sân chơi nâng cao ngoại ngữ, kỹ năng số như hội thi ngoại ngữ, “Rung chuông vàng”, tin học trẻ… góp phần mở rộng cơ hội lập nghiệp trong bối cảnh hội nhập.

Trọng tâm là khởi nghiệp tại chỗ

tay-ninh2.jpg
Khởi nghiệp tại chỗ, khởi nghiệp từ sinh kế truyền thống được tỉnh Tây Ninh định hướng là trọng tâm nhằm tạo sinh kế bền vững cho thanh niên dân tộc thiểu số.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Đoàn Trung Kiên, định hướng trọng tâm của tỉnh nhằm đẩy mạnh phong trào sáng tạo khởi nghiệp thanh niên dân tộc thiểu số là xuất phát từ thực tiễn cư trú xen kẽ, trình độ không đồng đều, quy mô sản xuất nhỏ lẻ; đồng thời khai thác lợi thế so sánh của tỉnh về nông nghiệp đặc thù, kinh tế cửa khẩu, thương mại biên giới, du lịch văn hóa – tâm linh và làng nghề truyền thống. Theo đó, trọng tâm là khởi nghiệp tại chỗ, khởi nghiệp từ sinh kế truyền thống; ưu tiên mô hình nhỏ và vừa, dễ triển khai, rủi ro thấp, có khả năng nhân rộng; gắn chặt với Chương trình mục tiêu quốc gia, OCOP, xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi số nông nghiệp và phát triển du lịch, bảo đảm đồng bộ, tránh dàn trải, hình thức.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, tỉnh ưu tiên hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số khởi nghiệp trong các lĩnh vực có lợi thế rõ rệt tại địa phương, gồm: Sản xuất, chế biến nông sản đặc trưng (mía, mì, cao su, mãng cầu, rau màu, dược liệu bản địa); chăn nuôi quy mô hộ, bán chăn thả gắn với an toàn sinh học; phát triển sản phẩm OCOP, thủ công truyền thống của đồng bào Khmer, Chăm; du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa – tâm linh gắn với Núi Bà Đen, di tích lịch sử, lễ hội dân tộc; dịch vụ thương mại nhỏ, logistics nông sản và dịch vụ hỗ trợ sản xuất tại nông thôn, vùng biên giới. Định hướng không chạy theo mô hình công nghệ cao phức tạp, mà tập trung đổi mới quy trình, bao bì, thương hiệu và kênh tiêu thụ - phù hợp trình độ, năng lực của thanh niên dân tộc thiểu số.

Cùng với đó, tỉnh tổ chức các hoạt động truyền cảm hứng khởi nghiệp tại cộng đồng; xây dựng và nhân rộng mô hình thanh niên dân tộc thiểu số khởi nghiệp tiêu biểu làm “hạt nhân lan tỏa”. Đào tạo, kèm cặp “cầm tay chỉ việc” tập trung vào khóa ngắn hạn, linh hoạt: lập kế hoạch kinh doanh đơn giản; quản lý chi phí, dòng tiền hộ kinh doanh; kỹ năng bán hàng trực tiếp và trực tuyến; đăng ký hộ kinh doanh, nhãn hiệu, tem truy xuất nguồn gốc; áp dụng mô hình “mỗi dự án - một cán bộ hướng dẫn”, kết nối thanh niên với khuyến nông, khuyến công, cán bộ Đoàn và doanh nghiệp địa phương để hỗ trợ thường xuyên.

Mặt khác, tỉnh cũng hỗ trợ vốn theo hướng phù hợp khả năng hoàn trả vốn vay nhỏ, lãi suất ưu đãi, thủ tục đơn giản; hỗ trợ một phần chi phí giống, vật tư, máy móc; hỗ trợ bao bì, nhãn hiệu, chứng nhận OCOP; lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ quốc gia về việc làm, qua đó giúp tránh chồng chéo, dàn trải. Tỉnh cũng hỗ trợ kết nối thị trường qua hội chợ, phiên chợ nông sản, tuần lễ OCOP; liên kết siêu thị, chợ đầu mối, điểm du lịch, khu cửa khẩu; đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử của tỉnh và các nền tảng số, gắn quảng bá với câu chuyện văn hóa dân tộc và nguồn gốc địa phương…

Với cách làm bài bản, sát thực, phong trào sáng tạo khởi nghiệp của thanh niên dân tộc thiểu số tại Tây Ninh hứa hẹn sẽ trở thành động lực quan trọng cho phát triển bền vững địa phương./.

Tin nguồn
Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Khám sàng lọc bệnh tim miễn phí cho trẻ em vùng cao

Khám sàng lọc bệnh tim miễn phí cho trẻ em vùng cao

Sáng 10/5, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh Điện Biên phối hợp với Bệnh viện Tim Hà Nội cùng các đơn vị liên quan tổ chức khám sàng lọc bệnh tim mạch miễn phí cho trẻ em ở tỉnh.

Quỹ Hỗ trợ nông dân - Điểm tựa giúp hội viên phát triển kinh tế bền vững

Quỹ Hỗ trợ nông dân - Điểm tựa giúp hội viên phát triển kinh tế bền vững

Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp còn nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, giá vật tư tăng cao và đầu ra nông sản thiếu ổn định, nguồn vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân đang trở thành “đòn bẩy” quan trọng giúp nhiều hội viên nông dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mạnh dạn đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và từng bước vươn lên làm giàu bền vững.

Lan tỏa hàng Việt trên 'chợ số'

Lan tỏa hàng Việt trên 'chợ số'

Đưa hàng Việt lên "chợ số" (thương mại điện tử) là chiến lược trọng tâm, kết hợp livestream, ứng dụng số và hỗ trợ của Chính phủ để nâng cao sức cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng và coi các nền tảng “chợ số” là xu hướng thời đại để lan tỏa hàng Việt.

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

Trong bối cảnh thu hút đầu tư ngoài ngân sách được xác định là động lực tăng trưởng, tỉnh Điện Biên tập trung tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính. Cơ chế “Luồng xanh” được triển khai nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục, góp phần cải thiện môi trường đầu tư.

Đẩy nhanh tiến độ thi công các trường học vùng biên

Đẩy nhanh tiến độ thi công các trường học vùng biên

Tỉnh Cao Bằng đang khẩn trương xây dựng 11 trường học tại các xã biên giới với quyết tâm hoàn thành trong năm 2026. Những công trình giáo dục này được kỳ vọng mở ra cơ hội học tập tốt hơn cho học sinh vùng cao, tạo nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và góp phần giữ vững thế trận quốc phòng - an ninh nơi phên dậu Tổ quốc.

80 năm công tác dân tộc: Hành trình kiến tạo niềm tin và khơi dậy sức mạnh nội sinh

80 năm công tác dân tộc: Hành trình kiến tạo niềm tin và khơi dậy sức mạnh nội sinh

Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58/SL thành lập Nha Dân tộc thiểu số - cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên về công tác dân tộc. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngay từ những ngày đầu lập nước. Trải qua 80 năm hình thành, phát triển, công tác dân tộc không ngừng được hoàn thiện cả về tư duy và thể chế, trở thành một trong những trụ cột quan trọng góp phần bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy phát triển bền vững đất nước.

Phú Thọ: Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển năng động hơn

Phú Thọ: Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển năng động hơn

Tỉnh Phú Thọ đã chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh kinh tế chuyển dịch mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Kết quả từ đầu năm 2026 đến nay cho thấy đây không chỉ là xu hướng tất yếu mà đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xã hội của địa phương.

Ngày đêm xây dựng trường nơi phên giậu Tổ quốc

Ngày đêm xây dựng trường nơi phên giậu Tổ quốc

Những ngày tháng tư, tại các xã biên giới Phiêng Khoài, Xuân Nha, Lóng Sập của tỉnh Sơn La, những công trường xây dựng các Trường nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở đang ngày đêm vang vọng tiếng máy xúc, tiếng đổ bê tông, tiếng hàn cắt thép… Các đơn vị thi công đang chạy đua với thời gian, quyết tâm về đích trong chiến dịch 100 ngày đêm xây dựng 13 điểm trường khu vực biên giới của tỉnh.

7 dự án trường nội trú biên giới ở Gia Lai gặp khó do thiếu nguồn lao động

7 dự án trường nội trú biên giới ở Gia Lai gặp khó do thiếu nguồn lao động

Mặc dù đã hoàn thiện thiết kế bản vẽ, đầy đủ mặt bằng thi công nhưng 7 dự án trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới của tỉnh Gia Lai lại chưa đảm bảo tiến độ đề ra. Nguyên nhân là do các dự án này đều nằm xa trung tâm, điều kiện sinh hoạt khó khăn nên rất khó thu hút nguồn lao động, nhất là lao động có tay nghề - yếu tố quyết định tiến độ các công trình vùng biên.

Giúp người dân biên giới giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh

Giúp người dân biên giới giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh

Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về "một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân", ngành Y tế tỉnh Cao Bằng đã cụ thể hóa, triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; đặc biệt là công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới.

Sau hơn hơn 1 năm, quyết định hỗ trợ hợp tác xã ở Quảng Ngãi vẫn chưa thể triển khai

Sau hơn hơn 1 năm, quyết định hỗ trợ hợp tác xã ở Quảng Ngãi vẫn chưa thể triển khai

Thực hiện Nghị quyết 106/NQ-CP của Chính phủ về phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định 641/QĐ-UBND ngày 30/9/2024 về phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ các hợp tác xã tham gia xây dựng mô hình hợp tác xã nông nghiệp phát triển bền vững, phù hợp với vùng miền, địa phương năm 2025. Tuy nhiên, đến nay, sau hơn 1 năm Quyết định được ban hành, nguồn lực hỗ trợ các hợp tác xã của tỉnh vẫn chưa được thực hiện.

Dấu ấn tổ công nghệ số cộng đồng trong chuyển đổi số quốc gia

Dấu ấn tổ công nghệ số cộng đồng trong chuyển đổi số quốc gia

Đối với người dân tại các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và người dân lớn tuổi, việc sử dụng thiết bị điện tử như điện thoại thông minh hay máy tính để nộp hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến gặp không ít khó khăn.

Tăng cường quản lý bảo vệ rừng giáp ranh giữa Đắk Lắk với Gia Lai

Tăng cường quản lý bảo vệ rừng giáp ranh giữa Đắk Lắk với Gia Lai

Liên quan đến tình trạng vi phạm Luật Lâm nghiệp mà báo chí phản ánh tại khu vực rừng giáp ranh giữa tỉnh Đắk Lắk với Gia Lai, ngày 23/4, ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk cho biết, đơn vị đã chỉ đạo các lực lượng trực thuộc tăng cường công tác kiểm tra, xác minh, xử lý tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật tại khu vực giáp ranh.

Điện Biên tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Điện Biên tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Việc tinh gọn bộ máy tại Điện Biên đã giúp giảm đầu mối, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo chuyển biến rõ nét trong phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương tiếp tục cải cách hành chính, hướng tới phát triển bền vững.

Đổi mới tuyên truyền, nâng cao ý thức, kéo giảm tai nạn giao thông

Đổi mới tuyên truyền, nâng cao ý thức, kéo giảm tai nạn giao thông

Thời gian qua, Công an tỉnh Tây Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm kiềm chế, kéo giảm tai nạn giao thông, trong đó nổi bật là các mô hình tuyên truyền trực quan, tác động trực tiếp đến nhận thức của người tham gia giao thông. Từ khu vực trung tâm đến vùng sâu, vùng biên giới, các cách làm mới, linh hoạt đang từng bước phát huy hiệu quả, góp phần hình thành văn hóa giao thông an toàn trong cộng đồng.

Gia Lai yêu cầu xác minh, xử lý vụ khai thác lâm sản trái phép vùng giáp ranh

Gia Lai yêu cầu xác minh, xử lý vụ khai thác lâm sản trái phép vùng giáp ranh

Trước diễn biến phức tạp về tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép khu vực giáp ranh, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai đã ban hành văn bản số 3968/SNNMT-KL yêu cầu xác minh, xử lý tình trạng khai thác, tập kết, vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra tại lâm phần Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Phú Nhơn và khu vực giáp ranh với tỉnh Đắk Lắk.

Nghệ An: Chung tay hỗ trợ 16 hộ dân về khu tái định cư tập trung

Nghệ An: Chung tay hỗ trợ 16 hộ dân về khu tái định cư tập trung

Trong 2 ngày 19 và 20/4, cấp ủy, chính quyền xã Nhôn Mai (tỉnh Nghệ An) đã huy động đông đảo cán bộ, công chức xã cùng lực lượng Biên phòng, Công an, Ban Chỉ huy quân sự xã; đoàn viên thanh niên và người dân tổ chức hỗ trợ tháo dỡ nhà, khiêng vác, vận chuyển đồ đạc và khung nhà ở cho 16 hộ dân bị trôi mất nhà cửa do thiên tai, phải di dời khẩn cấp từ bản Phá Mựt (cũ) đến Khu tái định cư tập trung Phá Mựt (bản Na Hỷ) - cách xa bản cũ khoảng gần 1,5 km.

Xã không ma túy - điểm sáng nơi vùng cao

Xã không ma túy - điểm sáng nơi vùng cao

Thời gian qua, các địa phương trong tỉnh Lào Cai tập trung triển khai nhiều giải pháp về xây dựng xã, phường không ma túy. Đến nay, với những cách làm linh hoạt, hiệu quả, nhiều địa phương đạt kết quả cao trong công tác này.

Ngăn ngừa buôn lậu tại điểm nóng Lao Bảo

Ngăn ngừa buôn lậu tại điểm nóng Lao Bảo

Xuất phát từ việc nhiều mặt hàng chính như đường kính, thuốc lá, gia súc, gia cầm và xăng dầu có tỷ giá chênh lệch cao, tình hình vận chuyển, buôn lậu trái phép hàng hóa qua biên giới Việt Nam - Lào đang có chiều hướng gia tăng trở lại, trọng điểm là xã Lao Bảo (Quảng Trị), tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.