Nâng cao trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh

Trà Vinh là tỉnh có đồng bào dân tộc Khmer sinh sống cao nhất cả nước, chiếm gần 32% dân số của tỉnh. Các cấp ủy Đảng, chính quyền luôn chú trọng công tác giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer. Cùng với việc đầu tư, hoàn thiện mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học tại các trường, học sinh Khmer còn được “tiếp bước” đến trường bằng nhiều chế độ ưu đãi.

vna_potal_anh_kem_bai_phat_24_tren_220_tang_sinh_hoc_sinh_tot_nghiep_truong_trung_cap_pali-_khmer_tra_vinh__7301562.jpg
Một tiết học tại Trường Trung cấp Pali- Khmer Trà Vinh (phường 8, thành phố Trà Vinh). Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Trà Vinh hiện có trên 216.000 học sinh, trong đó học sinh dân tộc Khmer hơn 78.600 em, chiếm 36,4%. Toàn tỉnh có 8 trường phổ thông dân tộc nội trú, 1 Trường Trung cấp Pali-Khmer và Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh). Hiện nay, học sinh, tăng sinh, sinh viên học tại các trường này được tiếp cận nhiều chính sách hỗ trợ.

Các trường Phổ thông dân tộc nội trú trong tỉnh thuộc diện chính sách đặc biệt ưu tiên, đảm nhiệm nhiệm vụ “vừa nuôi - vừa dạy” học sinh Khmer, góp phần đào tạo nguồn cán bộ dân tộc Khmer trình độ cao cho tỉnh.

vna_potal_anh_kem_bai_phat_24_tren_220_tang_sinh_hoc_sinh_tot_nghiep_truong_trung_cap_pali-_khmer_tra_vinh__7301561.jpg
Trường Trung cấp Pali- Khmer Trà Vinh (phường 8, thành phố Trà Vinh). Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Hằng năm, Trà Vinh luôn ưu tiên bố trí nguồn lực để sửa chữa, nâng cấp, đầu tư thiết bị dạy học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú. Năm 2024, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn được bố trí gần 48,2 tỷ đồng để thực hiện Tiểu dự án Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó, ngân sách Trung ương hơn 35,5 tỷ đồng, vốn sự nghiệp trên 12,6 tỷ đồng.

Thầy Kim Chan Ta Na, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh cho biết, học sinh tại các trường phổ thông dân tộc nội trú được hưởng chế độ ưu đãi theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các chế độ gồm: miễn học phí, hằng tháng được nhận học bổng bằng 80% mức lương cơ bản, tương đương 1.440.000 đồng; được cấp thẻ bảo hiểm y tế, học phẩm hằng năm. Học sinh mới trúng tuyển vào trường cũng được cấp đầy đủ các vật dụng sinh hoạt, áo khoác, áo mưa, đồ đồng phục… Ngoài ra, học sinh còn được hỗ trợ tiền tàu xe, điện, nước sinh hoạt…

Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh có tổng số 413 học sinh. Hằng năm, nhà trường tuyển sinh chỉ tiêu 140 em là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào Khmer. Thầy Kim Chan Ta Na cho hay, những năm gần đây, trình độ học sinh Khmer trong tỉnh được nâng lên rõ rệt. Gần 20 năm qua, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của học sinh tại Trường luôn đạt 100%. Năm học 2022-2023, phổ điểm tốt nghiệp của nhà trường đứng hạng 3/46 trường trong tỉnh; hơn 71% học sinh của trường trúng tuyển vào các Trường Đại học top đầu toàn quốc; điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 đầu vào cũng rất cao so với các trường trong tỉnh.

vna_potal_cac_truong_dan_toc_noi_tru_tai_tra_vinh_gop_phan_dao_tao_nguon_can_bo_dan_toc_khmer_trinh_do_cao_7301496.jpg
Giờ học của học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN

Cùng được hưởng chế độ ưu đãi theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT, Trường Trung cấp Pali-Khmer Trà Vinh được thành lập năm 2014, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Trà Vinh. Trường đào tạo theo hình thức đặc thù gồm hệ giáo dục thường xuyên, tiếng Pali, ngữ văn Khmer và giáo lý Phật giáo cho tăng sinh, học sinh Khmer đã tốt nghiệp Trung học Cơ sở và Sơ cấp Pali-Khmer hoặc tương đương (Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình tiếng Khmer cấp Trung học Cơ sở); thời gian đào tạo 3 năm/khóa.

Khi mới thành lập, Trường mượn tạm cơ sở vật chất tại chùa Kompong, phường 1, thành phố Trà Vinh. Từ năm học 2019-2020, Trường khánh thành điểm mới tại phường 8, thành phố Trà Vinh. Ngoài cơ sở vật chất được đầu tư khang trang với nhiều khu, phòng, nhà trường còn có ký túc xá đảm bảo cho hơn 144 tăng sinh, học sinh Khmer ăn, nghỉ, sinh hoạt và học tập. Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã tuyển sinh được 8 khóa, với tổng số 300 tăng sinh, học sinh; trong đó, 221 tăng sinh, học sinh đã tốt nghiệp.

Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Pali-Khmer Lâm So Rone cho biết, việc thành lập Trường đã đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng lớn nhất của các vị cao tăng, cán bộ lão thành cách mạng và đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh. Trường Trung cấp Pali-Khmer ra đời góp phần phát triển nguồn nhân lực có trình độ dân trí cao trong đồng bào dân tộc và sư sãi, phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh.

Bên cạnh các trường đào tạo theo hình thức đặc thù trên, tỉnh Trà Vinh còn có Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh), với rất nhiều sinh viên dân tộc Khmer khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo học. Hiện, sinh viên học ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống (Khmer) được miễn 100% học phí, được cấp sinh hoạt phí 450.000 đồng/tháng. Ngoài ra, hằng năm, nhà trường còn cấp phát nhiều suất học bổng đối với những em có thành tích học tập tốt.

Song song với công tác đào tạo trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ, Trà Vinh còn chú trọng việc phát triển đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, tạo nguồn cán bộ người dân tộc Khmer đủ năng lực giữ các chức vụ chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền các cấp, đảm bảo tính kế thừa.

Đến nay, toàn tỉnh có 47.022 đảng viên, trong đó, có 8.269 đảng viên dân tộc Khmer, chiếm 17,58% đảng viên toàn tỉnh; 100% ấp, khóm có đông đồng bào dân tộc thiểu số có đảng viên là người dân tộc. Các địa phương có đông đồng bào Khmer đều bố trí cán bộ là người dân tộc Khmer giữ các chức danh chủ chốt.

Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh Thạch Mu Ni cho hay, trình độ dân trí đồng bào Khmer tại Trà Vinh đã được nâng cao đáng kể. Đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer ngày càng trưởng thành về số lượng và chất lượng. Toàn tỉnh hiện có 23.430 cán bộ, công chức, viên chức; trong đó người dân tộc Khmer chiếm gần 21%. Nhiều người dân tộc Khmer giữ các chức danh cán bộ chủ chốt của tỉnh, sở, ngành và các địa phương.

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã giúp vùng đồng bào Khmer ngày càng khởi sắc; khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo ở vùng dân tộc, tôn giáo được giữ vững. Đồng bào các dân tộc trong tỉnh chung sức, đồng lòng cùng chính quyền địa phương xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Thanh Hòa

(TTXVN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Chưa có căn cứ để xác định việc 'ăn chặn' suất ăn bán trú tại Trường Mầm non 19/5, Gia Lai

Chưa có căn cứ để xác định việc 'ăn chặn' suất ăn bán trú tại Trường Mầm non 19/5, Gia Lai

Thời gian qua, một số phụ huynh học sinh Trường Mầm non 19/5, xã Bờ Ngoong (tỉnh Gia Lai) có đơn phản ánh gửi các cơ quan chức năng cho rằng, bữa ăn bán trú của học sinh chưa tương xứng với mức tiền đóng góp và nghi ngờ có việc cắt xén suất ăn cùng một số khoản thu chi chưa minh bạch. Theo kết quả xác minh của UBND xã Bờ Ngoong, chưa có căn cứ xác định việc “ăn chặn” suất ăn và nhà trường được yêu cầu chấn chỉnh, tăng cường công khai hoạt động bán trú.

Nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Trong công tác xây dựng Đảng, việc kiểm tra, giám sát luôn được xác định là khâu trọng yếu, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Thực tiễn cho thấy, nơi nào công tác kiểm tra, giám sát được triển khai nghiêm túc, chủ động, nơi đó kỷ luật Đảng được giữ vững, vi phạm được phòng ngừa từ sớm, từ xa, tạo nền tảng quan trọng để các chủ trương, nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống.

Cao Bằng: Phòng, chống rét, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân

Cao Bằng: Phòng, chống rét, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân

Những ngày vừa qua, thời tiết tại tỉnh Cao Bằng có nhiều diễn biến tiêu cực, nhiệt độ giảm sâu, nhiều nơi xuống dưới 0°C, đặc biệt tại các vùng núi cao như Phia Oắc, Phia Đén (xã Nguyên Bình) đã xuất hiện băng giá, sương muối, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân.

Nông dân Hà Tĩnh chủ động chống rét, giữ an toàn đàn gia súc

Nông dân Hà Tĩnh chủ động chống rét, giữ an toàn đàn gia súc

Do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh liên tiếp tràn xuống địa bàn đã khiến nền nhiệt tại Hà Tĩnh giảm sâu. Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, người chăn nuôi trên toàn tỉnh đang hối hả triển khai các biện pháp giữ ấm, bảo vệ an toàn cho đàn gia súc, gia cầm, quyết tâm không để xảy ra thiệt hại trong đợt rét đậm, rét hại.

Gieo niềm tin, dựng mái ấm cho người dân vùng sạt lở

Gieo niềm tin, dựng mái ấm cho người dân vùng sạt lở

Những ngày đầu năm mới 2026, cùng với không khí “thần tốc thi công - thần tốc về đích” của chiến dịch Quang Trung, niềm vui cũng đang lan tỏa khắp các khu dân cư tại xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị từng chịu ảnh hưởng trước những đợt mưa lũ, sạt lở nghiêm trọng. Những ngôi nhà vững chãi, công trình chống sạt lở hình thành từ Chiến dịch Quang Trung không chỉ là điểm tựa vững chắc, mà còn gieo niềm tin, hy vọng cho người dân vùng thiên tai ổn định cuộc sống.

Giữ ấm cho đàn gia súc nơi vùng cao, biên giới Tuyên Quang

Giữ ấm cho đàn gia súc nơi vùng cao, biên giới Tuyên Quang

Những ngày này, không khí lạnh tăng cường khiến nhiệt độ tại nhiều xã vùng cao, biên giới tỉnh Tuyên Quang giảm sâu, có nơi xuống dưới 3 độ. Giá rét kéo dài tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng lớn đến đàn trâu, bò và vật nuôi, đòi hỏi các địa phương phải chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống.

Tạo việc làm ổn định cho thanh niên vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Tạo việc làm ổn định cho thanh niên vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Đến năm 2030, tỉnh Quảng Trị phấn đấu 80% thanh niên được tư vấn hướng nghiệp và việc làm; 60% thanh niên được đào tạo nghề gắn với tạo việc làm, trong đó, tạo việc làm ổn định cho trên 50% thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Đây là một trong những mục tiêu trọng tâm của Chương trình phát triển thanh niên tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2021-2030, được UBND tỉnh Quảng Trị ban hành ngày 8/1.

Người dân vùng cao chủ động phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi

Người dân vùng cao chủ động phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi

Các đợt không khí lạnh tăng cường, nhiệt độ xuống thấp đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Để hạn chế thiệt hại, bảo vệ sản xuất và thu nhập của người dân, công tác phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi đã được cấp uỷ, chính quyền và người dân địa phương chủ động triển khai đồng bộ, quyết liệt.

Các trường học chủ động ứng phó với rét đậm, rét hại

Các trường học chủ động ứng phó với rét đậm, rét hại

Trước diễn biến phức tạp của rét đậm, rét hại và các hiện tượng thời tiết cực đoan, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ ban hành văn bản số 39/SGDĐT-HSSV, yêu cầu các cơ sở giáo dục trên địa bàn chủ động triển khai biện pháp bảo đảm sức khỏe, an toàn cho học sinh.

Đột phá theo Nghị quyết 57: Khi đồng bào dân tộc chuyển đổi số

Đột phá theo Nghị quyết 57: Khi đồng bào dân tộc chuyển đổi số

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tại Lào Cai, nhiều mô hình số, tri thức số hiệu quả được thực hiện đồng bộ, kịp thời tại các địa bàn vùng cao, vùng xa đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong hành trình đưa chuyển đổi số tới cộng đồng dân cư, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội.

Cuộc sống mới trở lại Long Phụng sau thiên tai

Cuộc sống mới trở lại Long Phụng sau thiên tai

Chỉ hơn hai tháng trước, xã Long Phụng là một trong những địa phương của tỉnh Quảng Ngãi chịu thiệt hại nặng nề do ảnh hưởng của cơn bão số 13. Bằng sự chủ động của chính quyền địa phương và nỗ lực kiên cường của người dân, nhịp sống nơi đây nay đã dần ổn định.

Chiến dịch Quang Trung: Dựng nhà ở - 'xây' niềm tin

Chiến dịch Quang Trung: Dựng nhà ở - 'xây' niềm tin

Các đợt mưa bão vừa qua, tại thôn Chung Tam, xã Măng Ri một vệt nứt dài cả trăm mét, rộng khoảng 30cm ở trên đồi đe dọa gây nguy hiểm cho người dân. Trước thực tế trên, đầu tháng 12/2025, chính quyền đã họp bàn cùng người dân quyết định triển khai một chiến dịch dời làng nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản lâu dài cho 78 hộ với hơn 300 nhân khẩu nơi đây.

Vùng cao Lai Châu chủ động phòng, chống rét cho đàn gia súc

Vùng cao Lai Châu chủ động phòng, chống rét cho đàn gia súc

Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, tỉnh Lai Châu đã chỉ đạo ngành nông nghiệp và môi trường phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống rét, bảo vệ an toàn cho đàn gia súc.

Bế giảng lớp bồi dưỡng tiếng Khmer năm 2025 cho Bộ đội Biên phòng

Bế giảng lớp bồi dưỡng tiếng Khmer năm 2025 cho Bộ đội Biên phòng

Ngày 8/1, Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ đã tổ chức lễ bế giảng lớp bồi dưỡng tiếng Khmer năm 2025 cho cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP Cần Thơ. Khóa học ghi nhận thành tích ấn tượng khi tỷ lệ học viên đạt loại giỏi gần tuyệt đối.

Giữ con chữ cho trẻ em vùng cao

Giữ con chữ cho trẻ em vùng cao

Ở các xã vùng cao biên giới của tỉnh Quảng Trị, hành trình đến lớp của nhiều học sinh không chỉ bị ngăn trở bởi núi rừng, mưa lũ mà còn bởi nghèo khó, bệnh tật và những lo toan trong chính gia đình mình. Đằng sau những buổi học sinh đến trường đầy đủ là sự kiên trì, lặng lẽ của thầy cô giáo, lực lượng Biên phòng và chính quyền địa phương trong nỗ lực giữ con chữ cho trẻ em vùng cao.

Người Mông vùng cao Điện Biên vươn lên từ nội lực

Người Mông vùng cao Điện Biên vươn lên từ nội lực

Sính Phình là xã vùng cao còn nhiều khó khăn của tỉnh Điện Biên, nơi đồng bào Mông chiếm đa số. Vài năm trở lại đây, nhờ thay đổi tư duy, phát huy tinh thần tự lực, nhiều hộ dân đã vươn lên phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vốn khó khăn. Điển hình như người nông dân này, khởi nghiệp với 8 con dê giống từ năm 2022, nhờ chăm sóc đúng kỹ thuật, đến nay đàn dê phát triển tốt tăng số lượng lên gấp 10 lần và mang lại thu nhập ổn định.

Thái Nguyên bảo vệ đàn vật nuôi trước rét đậm, rét hại

Thái Nguyên bảo vệ đàn vật nuôi trước rét đậm, rét hại

Trước dự báo về những đợt rét đậm, rét hại kéo dài có thể xảy ra trong tháng 1/2026, đặc biệt tại các khu vực vùng núi cao, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên đã ban hành hướng dẫn chi tiết, yêu cầu các địa phương không được chủ quan, lơ là trong việc phòng chống rét cho đàn vật nuôi, bảo vệ tài sản cho người nông dân.

Khẩn trương sửa chữa Quốc lộ 19 đoạn qua đèo An Khê

Khẩn trương sửa chữa Quốc lộ 19 đoạn qua đèo An Khê

Quốc lộ 19 đoạn qua đèo An Khê (tỉnh Gia Lai) vừa mới hoàn thành và đưa vào sử dụng vào năm 2025 nhưng đã xuất hiện nhiều hư hỏng cục bộ trên một số đoạn đường khiến người dân bức xúc và lo ngại nguy cơ tai nạn.

Gia Lai: Áp lực phòng dịch gia tăng do thiếu thú y cơ sở

Gia Lai: Áp lực phòng dịch gia tăng do thiếu thú y cơ sở

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều địa bàn phía Tây tỉnh Gia Lai thiếu nhân lực thú y cơ sở do nhiều cán bộ thú y nghỉ theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP Quy định về tinh giản biên chế. Lực lượng phòng dịch mỏng, trong khi địa bàn rộng, sẽ gia tăng rủi ro về giám sát và xử lý dịch bệnh trên đàn vật nuôi. Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Gia Lai, khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai hiện có 209 dự án chăn nuôi với quy mô đàn vật nuôi lớn lên đến gần 2 triệu con lợn, gần 200.000 con bò và gần 3 triệu con gia cầm.

Nông dân Sơn La phòng, chống đói rét cho vật nuôi, cây trồng

Nông dân Sơn La phòng, chống đói rét cho vật nuôi, cây trồng

Những ngày này, trên địa bàn tỉnh vùng cao Sơn La bắt đầu xuất hiện rét đậm, rét hại làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nhất là trong lĩnh vực chăn nuôi. Để bảo vệ đàn gia súc, chính quyền địa phương đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn và các xã chủ động triển khai những biện pháp phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi. Cùng với đó, người chăn nuôi cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng, chống đói rét, dịch bệnh cho đàn gia súc và có những những giải pháp cụ thể, thiết thực.

Hạn chế thấp nhất thiệt hại do rét đậm, rét hại gây ra với cây trồng, vật nuôi

Hạn chế thấp nhất thiệt hại do rét đậm, rét hại gây ra với cây trồng, vật nuôi

Do ảnh hưởng của không khí lạnh, thời tiết tỉnh Lai Châu những ngày qua có mưa rải rác, trời rét đậm, vùng núi cao rét hại. Để hạn chế thấp nhất những thiệt hại do rét đậm, rét hại gây ra, tỉnh Lai Châu đã triển khai nhiều biện pháp để bảo vệ sức khỏe của người dân và phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi, bảo vệ cây trồng.

Dựng lại mái ấm, khơi dậy niềm tin nơi vùng lũ

Dựng lại mái ấm, khơi dậy niềm tin nơi vùng lũ

Những ngày đầu năm mới, tại xã Hàm Thuận Bắc (tỉnh Lâm Đồng), không khí lao động khẩn trương vẫn rộn ràng suốt ngày đêm. Trên những nền đất từng “oằn mình” trong mưa lũ, những căn nhà mới đang thành hình - vững chãi, khang trang và ấm áp.

Triển khai nhiều biện pháp phòng, chống rét cho cây trồng, vật nuôi

Triển khai nhiều biện pháp phòng, chống rét cho cây trồng, vật nuôi

Những ngày qua, nhiệt độ tại tỉnh Lào Cai giảm sâu, nhiều nơi xuất hiện băng giá và sương muối. Nhằm bảo vệ đàn vật nuôi và cây trồng, các địa phương trên địa bàn tỉnh đồng loạt triển khai các biện pháp, hướng dẫn người dân che chắn chuồng trại, dự trữ thức ăn cho gia súc và chăm sóc cây trồng nhằm hạn chế tối đa thiệt hại.