Nâng cao trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh

Trà Vinh là tỉnh có đồng bào dân tộc Khmer sinh sống cao nhất cả nước, chiếm gần 32% dân số của tỉnh. Các cấp ủy Đảng, chính quyền luôn chú trọng công tác giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer. Cùng với việc đầu tư, hoàn thiện mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học tại các trường, học sinh Khmer còn được “tiếp bước” đến trường bằng nhiều chế độ ưu đãi.

vna_potal_anh_kem_bai_phat_24_tren_220_tang_sinh_hoc_sinh_tot_nghiep_truong_trung_cap_pali-_khmer_tra_vinh__7301562.jpg
Một tiết học tại Trường Trung cấp Pali- Khmer Trà Vinh (phường 8, thành phố Trà Vinh). Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Trà Vinh hiện có trên 216.000 học sinh, trong đó học sinh dân tộc Khmer hơn 78.600 em, chiếm 36,4%. Toàn tỉnh có 8 trường phổ thông dân tộc nội trú, 1 Trường Trung cấp Pali-Khmer và Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh). Hiện nay, học sinh, tăng sinh, sinh viên học tại các trường này được tiếp cận nhiều chính sách hỗ trợ.

Các trường Phổ thông dân tộc nội trú trong tỉnh thuộc diện chính sách đặc biệt ưu tiên, đảm nhiệm nhiệm vụ “vừa nuôi - vừa dạy” học sinh Khmer, góp phần đào tạo nguồn cán bộ dân tộc Khmer trình độ cao cho tỉnh.

vna_potal_anh_kem_bai_phat_24_tren_220_tang_sinh_hoc_sinh_tot_nghiep_truong_trung_cap_pali-_khmer_tra_vinh__7301561.jpg
Trường Trung cấp Pali- Khmer Trà Vinh (phường 8, thành phố Trà Vinh). Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Hằng năm, Trà Vinh luôn ưu tiên bố trí nguồn lực để sửa chữa, nâng cấp, đầu tư thiết bị dạy học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú. Năm 2024, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn được bố trí gần 48,2 tỷ đồng để thực hiện Tiểu dự án Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó, ngân sách Trung ương hơn 35,5 tỷ đồng, vốn sự nghiệp trên 12,6 tỷ đồng.

Thầy Kim Chan Ta Na, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh cho biết, học sinh tại các trường phổ thông dân tộc nội trú được hưởng chế độ ưu đãi theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các chế độ gồm: miễn học phí, hằng tháng được nhận học bổng bằng 80% mức lương cơ bản, tương đương 1.440.000 đồng; được cấp thẻ bảo hiểm y tế, học phẩm hằng năm. Học sinh mới trúng tuyển vào trường cũng được cấp đầy đủ các vật dụng sinh hoạt, áo khoác, áo mưa, đồ đồng phục… Ngoài ra, học sinh còn được hỗ trợ tiền tàu xe, điện, nước sinh hoạt…

Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh có tổng số 413 học sinh. Hằng năm, nhà trường tuyển sinh chỉ tiêu 140 em là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào Khmer. Thầy Kim Chan Ta Na cho hay, những năm gần đây, trình độ học sinh Khmer trong tỉnh được nâng lên rõ rệt. Gần 20 năm qua, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của học sinh tại Trường luôn đạt 100%. Năm học 2022-2023, phổ điểm tốt nghiệp của nhà trường đứng hạng 3/46 trường trong tỉnh; hơn 71% học sinh của trường trúng tuyển vào các Trường Đại học top đầu toàn quốc; điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 đầu vào cũng rất cao so với các trường trong tỉnh.

vna_potal_cac_truong_dan_toc_noi_tru_tai_tra_vinh_gop_phan_dao_tao_nguon_can_bo_dan_toc_khmer_trinh_do_cao_7301496.jpg
Giờ học của học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN

Cùng được hưởng chế độ ưu đãi theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT, Trường Trung cấp Pali-Khmer Trà Vinh được thành lập năm 2014, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Trà Vinh. Trường đào tạo theo hình thức đặc thù gồm hệ giáo dục thường xuyên, tiếng Pali, ngữ văn Khmer và giáo lý Phật giáo cho tăng sinh, học sinh Khmer đã tốt nghiệp Trung học Cơ sở và Sơ cấp Pali-Khmer hoặc tương đương (Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình tiếng Khmer cấp Trung học Cơ sở); thời gian đào tạo 3 năm/khóa.

Khi mới thành lập, Trường mượn tạm cơ sở vật chất tại chùa Kompong, phường 1, thành phố Trà Vinh. Từ năm học 2019-2020, Trường khánh thành điểm mới tại phường 8, thành phố Trà Vinh. Ngoài cơ sở vật chất được đầu tư khang trang với nhiều khu, phòng, nhà trường còn có ký túc xá đảm bảo cho hơn 144 tăng sinh, học sinh Khmer ăn, nghỉ, sinh hoạt và học tập. Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã tuyển sinh được 8 khóa, với tổng số 300 tăng sinh, học sinh; trong đó, 221 tăng sinh, học sinh đã tốt nghiệp.

Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Pali-Khmer Lâm So Rone cho biết, việc thành lập Trường đã đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng lớn nhất của các vị cao tăng, cán bộ lão thành cách mạng và đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh. Trường Trung cấp Pali-Khmer ra đời góp phần phát triển nguồn nhân lực có trình độ dân trí cao trong đồng bào dân tộc và sư sãi, phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh.

Bên cạnh các trường đào tạo theo hình thức đặc thù trên, tỉnh Trà Vinh còn có Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh), với rất nhiều sinh viên dân tộc Khmer khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo học. Hiện, sinh viên học ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống (Khmer) được miễn 100% học phí, được cấp sinh hoạt phí 450.000 đồng/tháng. Ngoài ra, hằng năm, nhà trường còn cấp phát nhiều suất học bổng đối với những em có thành tích học tập tốt.

Song song với công tác đào tạo trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ, Trà Vinh còn chú trọng việc phát triển đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, tạo nguồn cán bộ người dân tộc Khmer đủ năng lực giữ các chức vụ chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền các cấp, đảm bảo tính kế thừa.

Đến nay, toàn tỉnh có 47.022 đảng viên, trong đó, có 8.269 đảng viên dân tộc Khmer, chiếm 17,58% đảng viên toàn tỉnh; 100% ấp, khóm có đông đồng bào dân tộc thiểu số có đảng viên là người dân tộc. Các địa phương có đông đồng bào Khmer đều bố trí cán bộ là người dân tộc Khmer giữ các chức danh chủ chốt.

Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh Thạch Mu Ni cho hay, trình độ dân trí đồng bào Khmer tại Trà Vinh đã được nâng cao đáng kể. Đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer ngày càng trưởng thành về số lượng và chất lượng. Toàn tỉnh hiện có 23.430 cán bộ, công chức, viên chức; trong đó người dân tộc Khmer chiếm gần 21%. Nhiều người dân tộc Khmer giữ các chức danh cán bộ chủ chốt của tỉnh, sở, ngành và các địa phương.

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã giúp vùng đồng bào Khmer ngày càng khởi sắc; khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo ở vùng dân tộc, tôn giáo được giữ vững. Đồng bào các dân tộc trong tỉnh chung sức, đồng lòng cùng chính quyền địa phương xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Thanh Hòa

(TTXVN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Định vị hướng phát triển đô thị mới gắn với phát triển kinh tế biên mậu

Định vị hướng phát triển đô thị mới gắn với phát triển kinh tế biên mậu

Ngày 9/9, Đoàn công tác của Bộ Nội vụ và các bộ, ngành liên quan đã đến khảo sát thực tế tại khu vực các xã dự kiến thành lập phường trên địa bàn biên giới, tỉnh Tây Ninh, nhằm đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn thành lập phường theo quy định của pháp luật.

Tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

Tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

Ngày 9/9, tại phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng (Việt Nam), Đoàn đại biểu Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng và Đoàn đại biểu Tiểu khu Quân sự tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia tổ chức Hội đàm.

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Từ ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ cán bộ xử lý công việc đến hướng dẫn người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, các xã miền núi thành phố Đà Nẵng đang từng bước đưa chuyển đổi số vào những công việc thiết thực của chính quyền và đời sống.

Trao thiết bị, xe đạp hỗ trợ học sinh đồng bào H’rê đến trường

Trao thiết bị, xe đạp hỗ trợ học sinh đồng bào H’rê đến trường

Sáng 9/9, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm Nhân thọ Sun Life Việt Nam tổ chức Lễ bàn giao trang thiết bị và trao tặng xe đạp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại Trường Trung học cơ sở Ba Dinh - Ba Tô (xã Ba Dinh, tỉnh Quảng Ngãi).

Tạo động lực mới cho giáo dục vùng đồng bào Khmer

Tạo động lực mới cho giáo dục vùng đồng bào Khmer

Từ các chính sách hỗ trợ thiết thực, môi trường nội trú an toàn đến đổi mới phương pháp dạy học, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tăng cường hướng nghiệp, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Vĩnh Long đang có những chuyển biến rõ nét.

Đắk Lắk chủ động phòng chống thiên tai trong mùa mưa bão

Đắk Lắk chủ động phòng chống thiên tai trong mùa mưa bão

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, từ ngày 9/9, khu vực tỉnh Đắk Lắk đã có mưa vừa, cảnh báo trong những ngày tới xuất hiện mưa to với lượng mưa tích lũy phổ biến từ 10-30mm, có nơi trên 60mm, nguy cơ xảy ra rủi ro thiên tai do lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất.

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Từ những bao gạo, bộ quần áo, đôi dép đến vật dụng thiết yếu được trao tận tay người dân nghèo, các “Gian hàng không đồng” đang trở thành điểm sẻ chia ấm áp trên nhiều địa bàn biên giới tỉnh Nghệ An.

Tạo môi trường học tập chất lượng, bình đẳng cho học sinh dân tộc thiểu số

Tạo môi trường học tập chất lượng, bình đẳng cho học sinh dân tộc thiểu số

Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển giáo dục và đào tạo", tỉnh Khánh Hòa đã và đang tập trung nâng cấp hạ tầng, qui hoạch và sắp xếp bài bản mô hình trường lớp, bảo đảm đầy đủ điều kiện dạy và học cho thầy trò nơi đất liền, vùng sâu, vùng xa và biển đảo.

Hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào vùng biên thoát nghèo

Hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào vùng biên thoát nghèo

Ngày 8/9, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Trị phối hợp với Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh tổ chức Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ Biên cương” năm 2026 tại thôn Pa Hy, xã Đakrông. Hoạt động góp phần hỗ trợ sinh kế bền vững cho phụ nữ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn ở khu vực biên giới.

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Từ những bao gạo, bộ quần áo, đôi dép đến những vật dụng thiết yếu được trao tận tay người dân nghèo, các “Gian hàng không đồng” đang trở thành những điểm sẻ chia ấm áp trên nhiều địa bàn biên giới tỉnh Nghệ An. 

Tiếp sức vùng biên phát triển kinh tế từ vốn ưu đãi

Tiếp sức vùng biên phát triển kinh tế từ vốn ưu đãi

Thành phố Đồng Nai hiện có 8 xã biên giới tiếp giáp với Campuchia, với hầu hết xã đều có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tốt, phù hợp phát triển trồng trọt, chăn nuôi. Trước đây, do thiếu vốn nên việc sản xuất của người dân gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, tận dụng nguồn vốn chính sách và các nguồn hợp pháp khác, người dân các xã biên giới đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhiều hộ vươn lên làm giàu, góp phần xây dựng vùng biên thịnh vượng.

Ghi nhận những chiến công đặc biệt của Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới

Ghi nhận những chiến công đặc biệt của Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới

Ngày 7/9, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Vĩnh Long tổ chức lễ đón nhận Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đây là sự ghi nhận cao quý của Đảng và Nhà nước đối với những cống hiến của tập thể cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Định hướng xây dựng 5 phường trung tâm Đà Lạt thành đô thị loại II

Định hướng xây dựng 5 phường trung tâm Đà Lạt thành đô thị loại II

Với quy mô quy hoạch khoảng 68.000 ha, dân số dự kiến gần 757.000 người và khoảng gần 17,5 triệu lượt khách du lịch vào năm 2050, tỉnh Lâm Đồng định hướng xây dựng 5 phường Xuân Hương - Đà Lạt, Lâm Viên - Đà Lạt, Cam Ly - Đà Lạt, Xuân Trường - Đà Lạt và Lang Biang - Đà Lạt trở thành đô thị loại II, phát triển năng động, bền vững; đồng thời là trung tâm du lịch, dịch vụ, văn hóa, khoa học và đổi mới sáng tạo của tỉnh và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên.

Tìm đầu ra, nâng giá trị 'quốc bảo' sâm Ngọc Linh

Tìm đầu ra, nâng giá trị 'quốc bảo' sâm Ngọc Linh

Quốc bảo sâm Ngọc Linh là sản vật quý hiếm, mang giá trị dược tính cao, sinh trưởng trên vùng núi Ngọc Linh với độ cao hơn 1.500 m. Tuy công tác gieo trồng, chăm sóc sâm rất khó khăn, gian khổ, nhưng những năm gần đây, giá bán các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh liên tục giảm, khiến bà con vùng trồng sâm rất lo lắng.

Khai thác lợi thế đất đỏ bazan, nâng tầm nông nghiệp phía Tây Lâm Đồng

Khai thác lợi thế đất đỏ bazan, nâng tầm nông nghiệp phía Tây Lâm Đồng

Sở hữu diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn, nhiều vùng đất đỏ bazan màu mỡ cùng điều kiện khí hậu thuận lợi, khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Các ngành hàng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu và một số loại cây ăn quả đang tạo sinh kế, thu nhập cho hàng chục nghìn hộ dân.

Khẩn trương đưa dân vùng thiên tai về khu tái định cư trước mùa mưa lũ

Khẩn trương đưa dân vùng thiên tai về khu tái định cư trước mùa mưa lũ

Những ngày này, không khí tháo dỡ và dựng nhà trên công trường khu tái định cư và khu dân cư Bôn Jứ, xã Ia Tul (tỉnh Gia Lai) đâu đâu cũng nhộn nhịp, hăng hái và đầy quyết tâm. Mục tiêu là phấn đấu hoàn thành việc di dời 207 hộ dân vùng thiên tai Bôn Jứ về khu tái định cư mới trước cao điểm mùa mưa lũ.

Đánh thức nội lực trên những bản người Mông

Đánh thức nội lực trên những bản người Mông

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển ở nhiều địa bàn bản Mông ở Phú Thọ được mở rộng, tạo thêm điều kiện liên kết nguồn lực, phát triển sản xuất và du lịch.

Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước

Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước

Trên vùng cao nguyên đá khắc nghiệt, nơi đất sản xuất ít, nước sinh hoạt còn thiếu, xã biên giới Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang đang lựa chọn cách làm cụ thể để tạo sinh kế cho người dân: cán bộ, đảng viên đi trước xây dựng mô hình, người dân cùng làm; chuyển những diện tích ngô năng suất thấp và đất hoang hóa sang cây trồng có giá trị, đồng thời gắn sản xuất với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Những mô hình bước đầu đang mở thêm hướng giảm nghèo cho địa phương nơi cực Bắc Tổ quốc.

Khắc phục sạt lở, thông tuyến đường Đồng Nai đi Lâm Đồng

Khắc phục sạt lở, thông tuyến đường Đồng Nai đi Lâm Đồng

Ngày 6/9, tuyến đường ĐT.755B, đoạn qua xã Phước Sơn, thành phố Đồng Nai, xảy ra sự cố đất tràn xuống mặt đường do mưa lớn kéo dài, gây ách tắc giao thông cục bộ. Sau hơn 1 giờ khắc phục, tuyến đường đã được thông tuyến, các phương tiện lưu thông bình thường.

Từ sinh kế giữ rừng đến 'lá chắn xanh' vùng biên

Từ sinh kế giữ rừng đến 'lá chắn xanh' vùng biên

Hơn 10 năm qua, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Đăk Ơ, Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) đã gắn bó với rừng qua mô hình nhận khoán bảo vệ. Việc triển khai hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ mang lại sinh kế bền vững cho hàng trăm hộ dân vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập mà còn góp phần bảo vệ “lá phổi xanh” nơi biên cương.

Tuổi trẻ đồng hành, kiến tạo môi trường an toàn, sạch khỏe cho học sinh vùng khó

Tuổi trẻ đồng hành, kiến tạo môi trường an toàn, sạch khỏe cho học sinh vùng khó

Hướng tới chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2026), ngày 5/9, tại điểm trường Làng Cát, Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đakrông (xã Đakrông, tỉnh Quảng Trị), Hội Thầy thuốc trẻ Trung ương, Công ty Unilever Việt Nam, nhãn hàng Lifebuoy và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Trị đã phối hợp tổ chức chương trình “An toàn sạch khỏe - Bé vui tới trường”. Đây là hoạt động ý nghĩa góp phần cụ thể hóa Đề án “Tuổi trẻ Quảng Trị đồng hành với thanh thiếu nhi vùng biên giới giai đoạn 2025 - 2030”.

Chợ tiền tỷ ngóng... tiểu thương

Chợ tiền tỷ ngóng... tiểu thương

Chợ Mai Pha, phường Đông Kinh, tỉnh Lạng Sơn sau khi được đầu tư xây dựng với hạ tầng cơ bản đồng bộ đã đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, số lượng tiểu thương đăng ký kinh doanh ít, lượng khách chưa hình thành, trong khi một bộ phận người dân vẫn giữ thói quen mua bán tại các khu vực chợ cóc và điểm kinh doanh truyền thống. Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cần sớm có giải pháp để phát huy hiệu quả công trình, tránh nguy cơ lãng phí nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước...

Nâng bước những mầm xanh nơi biên cương

Nâng bước những mầm xanh nơi biên cương

Trong không khí cả nước khai giảng năm học mới 2026 - 2027, ngày 5/9, lãnh đạo Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị cùng cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trên hai tuyến biên giới của tỉnh đã đồng hành với thầy, trò nơi phên dậu Tổ quốc. Với tinh thần trách nhiệm, tình yêu thương, những người lính mang “quân hàm xanh” đang lặng thầm góp phần chăm lo, tiếp sức cho học sinh, nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn, vững bước đến trường.

Khai giảng năm học mới 2026-2027: Tiếp thêm động lực nâng cao chất lượng giáo dục

Khai giảng năm học mới 2026-2027: Tiếp thêm động lực nâng cao chất lượng giáo dục

Cùng với học sinh cả nước, học sinh, sinh viên tại các địa phương như Tây Ninh, Điện Biên, Gia Lai và Cần Thơ bước vào năm học mới 2026-2027. Tại các địa bàn miền núi, biên giới, nhiều trường nội trú liên cấp được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em dân tộc thiểu số và con em gia đình chính sách được học tập và rèn luyện.