Nâng cao trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh

Trà Vinh là tỉnh có đồng bào dân tộc Khmer sinh sống cao nhất cả nước, chiếm gần 32% dân số của tỉnh. Các cấp ủy Đảng, chính quyền luôn chú trọng công tác giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer. Cùng với việc đầu tư, hoàn thiện mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học tại các trường, học sinh Khmer còn được “tiếp bước” đến trường bằng nhiều chế độ ưu đãi.

vna_potal_anh_kem_bai_phat_24_tren_220_tang_sinh_hoc_sinh_tot_nghiep_truong_trung_cap_pali-_khmer_tra_vinh__7301562.jpg
Một tiết học tại Trường Trung cấp Pali- Khmer Trà Vinh (phường 8, thành phố Trà Vinh). Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Trà Vinh hiện có trên 216.000 học sinh, trong đó học sinh dân tộc Khmer hơn 78.600 em, chiếm 36,4%. Toàn tỉnh có 8 trường phổ thông dân tộc nội trú, 1 Trường Trung cấp Pali-Khmer và Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh). Hiện nay, học sinh, tăng sinh, sinh viên học tại các trường này được tiếp cận nhiều chính sách hỗ trợ.

Các trường Phổ thông dân tộc nội trú trong tỉnh thuộc diện chính sách đặc biệt ưu tiên, đảm nhiệm nhiệm vụ “vừa nuôi - vừa dạy” học sinh Khmer, góp phần đào tạo nguồn cán bộ dân tộc Khmer trình độ cao cho tỉnh.

vna_potal_anh_kem_bai_phat_24_tren_220_tang_sinh_hoc_sinh_tot_nghiep_truong_trung_cap_pali-_khmer_tra_vinh__7301561.jpg
Trường Trung cấp Pali- Khmer Trà Vinh (phường 8, thành phố Trà Vinh). Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Hằng năm, Trà Vinh luôn ưu tiên bố trí nguồn lực để sửa chữa, nâng cấp, đầu tư thiết bị dạy học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú. Năm 2024, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn được bố trí gần 48,2 tỷ đồng để thực hiện Tiểu dự án Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó, ngân sách Trung ương hơn 35,5 tỷ đồng, vốn sự nghiệp trên 12,6 tỷ đồng.

Thầy Kim Chan Ta Na, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh cho biết, học sinh tại các trường phổ thông dân tộc nội trú được hưởng chế độ ưu đãi theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các chế độ gồm: miễn học phí, hằng tháng được nhận học bổng bằng 80% mức lương cơ bản, tương đương 1.440.000 đồng; được cấp thẻ bảo hiểm y tế, học phẩm hằng năm. Học sinh mới trúng tuyển vào trường cũng được cấp đầy đủ các vật dụng sinh hoạt, áo khoác, áo mưa, đồ đồng phục… Ngoài ra, học sinh còn được hỗ trợ tiền tàu xe, điện, nước sinh hoạt…

Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh có tổng số 413 học sinh. Hằng năm, nhà trường tuyển sinh chỉ tiêu 140 em là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào Khmer. Thầy Kim Chan Ta Na cho hay, những năm gần đây, trình độ học sinh Khmer trong tỉnh được nâng lên rõ rệt. Gần 20 năm qua, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của học sinh tại Trường luôn đạt 100%. Năm học 2022-2023, phổ điểm tốt nghiệp của nhà trường đứng hạng 3/46 trường trong tỉnh; hơn 71% học sinh của trường trúng tuyển vào các Trường Đại học top đầu toàn quốc; điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 đầu vào cũng rất cao so với các trường trong tỉnh.

vna_potal_cac_truong_dan_toc_noi_tru_tai_tra_vinh_gop_phan_dao_tao_nguon_can_bo_dan_toc_khmer_trinh_do_cao_7301496.jpg
Giờ học của học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN

Cùng được hưởng chế độ ưu đãi theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT, Trường Trung cấp Pali-Khmer Trà Vinh được thành lập năm 2014, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Trà Vinh. Trường đào tạo theo hình thức đặc thù gồm hệ giáo dục thường xuyên, tiếng Pali, ngữ văn Khmer và giáo lý Phật giáo cho tăng sinh, học sinh Khmer đã tốt nghiệp Trung học Cơ sở và Sơ cấp Pali-Khmer hoặc tương đương (Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình tiếng Khmer cấp Trung học Cơ sở); thời gian đào tạo 3 năm/khóa.

Khi mới thành lập, Trường mượn tạm cơ sở vật chất tại chùa Kompong, phường 1, thành phố Trà Vinh. Từ năm học 2019-2020, Trường khánh thành điểm mới tại phường 8, thành phố Trà Vinh. Ngoài cơ sở vật chất được đầu tư khang trang với nhiều khu, phòng, nhà trường còn có ký túc xá đảm bảo cho hơn 144 tăng sinh, học sinh Khmer ăn, nghỉ, sinh hoạt và học tập. Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã tuyển sinh được 8 khóa, với tổng số 300 tăng sinh, học sinh; trong đó, 221 tăng sinh, học sinh đã tốt nghiệp.

Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Pali-Khmer Lâm So Rone cho biết, việc thành lập Trường đã đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng lớn nhất của các vị cao tăng, cán bộ lão thành cách mạng và đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh. Trường Trung cấp Pali-Khmer ra đời góp phần phát triển nguồn nhân lực có trình độ dân trí cao trong đồng bào dân tộc và sư sãi, phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh.

Bên cạnh các trường đào tạo theo hình thức đặc thù trên, tỉnh Trà Vinh còn có Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh), với rất nhiều sinh viên dân tộc Khmer khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo học. Hiện, sinh viên học ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống (Khmer) được miễn 100% học phí, được cấp sinh hoạt phí 450.000 đồng/tháng. Ngoài ra, hằng năm, nhà trường còn cấp phát nhiều suất học bổng đối với những em có thành tích học tập tốt.

Song song với công tác đào tạo trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ, Trà Vinh còn chú trọng việc phát triển đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, tạo nguồn cán bộ người dân tộc Khmer đủ năng lực giữ các chức vụ chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền các cấp, đảm bảo tính kế thừa.

Đến nay, toàn tỉnh có 47.022 đảng viên, trong đó, có 8.269 đảng viên dân tộc Khmer, chiếm 17,58% đảng viên toàn tỉnh; 100% ấp, khóm có đông đồng bào dân tộc thiểu số có đảng viên là người dân tộc. Các địa phương có đông đồng bào Khmer đều bố trí cán bộ là người dân tộc Khmer giữ các chức danh chủ chốt.

Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh Thạch Mu Ni cho hay, trình độ dân trí đồng bào Khmer tại Trà Vinh đã được nâng cao đáng kể. Đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer ngày càng trưởng thành về số lượng và chất lượng. Toàn tỉnh hiện có 23.430 cán bộ, công chức, viên chức; trong đó người dân tộc Khmer chiếm gần 21%. Nhiều người dân tộc Khmer giữ các chức danh cán bộ chủ chốt của tỉnh, sở, ngành và các địa phương.

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã giúp vùng đồng bào Khmer ngày càng khởi sắc; khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo ở vùng dân tộc, tôn giáo được giữ vững. Đồng bào các dân tộc trong tỉnh chung sức, đồng lòng cùng chính quyền địa phương xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Thanh Hòa

(TTXVN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Tăng tốc xây dựng Trường nội trú liên cấp Sơn Vĩ

Tăng tốc xây dựng Trường nội trú liên cấp Sơn Vĩ

Những ngày đầu tháng 7, trên công trường xây dựng Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Sơn Vĩ, xã Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang, không khí thi công diễn ra khẩn trương. Từng dãy nhà lớp học, hiệu bộ, ký túc xá, nhà ăn, nhà đa năng đang dần thành hình giữa vùng biên, mở ra kỳ vọng về một môi trường học tập, sinh hoạt tốt hơn cho học sinh nơi đây.

Lai Châu khẩn trương khắc phục thiệt hại do mưa lũ

Lai Châu khẩn trương khắc phục thiệt hại do mưa lũ

Mưa lớn từ tối 7/7 đến sáng nay tiếp tục gây thiệt hại về nhà ở, hoa màu và hạ tầng giao thông tại nhiều địa phương của tỉnh Lai Châu. Hiện cấp ủy, chính quyền và lực lượng chức năng đang khẩn trương triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả, đảm bảo giao thông thông suốt và hỗ trợ người dân sớm ổn định cuộc sống.

Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp

Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp

Tỉnh Đồng Tháp có đường biên giới đất liền dài hơn 50 km, tiếp giáp tỉnh Prey Veng (Vương quốc Campuchia) với 6 xã, phường biên giới. Được sự quan tâm hỗ trợ của các cấp và các ngành, tình hình kinh tế - xã hội khu vực biên giới ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,42%; thu nhập bình quân đầu người các xã, phường biên giới đạt từ 64 - 84 triệu đồng/năm; an ninh trật tự, an ninh biên giới ổn định.

Mưa lũ gây sạt lở nhiều nơi tại Lai Châu

Mưa lũ gây sạt lở nhiều nơi tại Lai Châu

Sau những ngày mưa lớn, nhiều xã ở Lai Châu như: Nậm Mạ, Nậm Cuổi, Pu Sam Cáp, Than Uyên, Sìn Hồ… bị sạt lở nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến hạ tầng giao thông, ruộng vườn, hoa màu, nhà cửa của người dân.

Tổng lực hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng cao

Tổng lực hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng cao

Nhờ nỗ lực thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hàng ngàn hộ dân đã được hỗ trợ đất, giải quyết sinh kế, chuyển đổi nghề ổn định cuộc sống. Chính sách đã góp phần giảm nghèo bền vững và tạo động lực phát triển cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Các xã miền núi phía Tây Quảng Ngãi chủ động ứng phó nguy cơ sạt lở

Các xã miền núi phía Tây Quảng Ngãi chủ động ứng phó nguy cơ sạt lở

Hiện nay, phía Tây Quảng Ngãi đang bắt đầu bước vào mùa mưa. Tại một số địa phương thường xuyên xảy ra sạt lở đất như Đăk Plô, Măng Ri, Tu Mơ Rông,… nhiều điểm sạt lở đã được chính quyền địa phương chủ động xử lý, nhằm phòng, chống sạt lở cũng như giảm nguy cơ thiệt hại về người và tài sản do sạt lở gây ra. Bên cạnh đó, nhiều điểm có nguy cơ sạt lở cao cũng được chính quyền địa phương thực hiện cảnh báo để người dân nắm bắt, đề phòng.

Thanh Hóa: Chuyển đổi số trong Đảng - nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở

Thanh Hóa: Chuyển đổi số trong Đảng - nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở

Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các đảng bộ xã trên địa bàn Thanh Hóa từng bước đưa chuyển đổi số vào sinh hoạt chi bộ ở các thôn. Từ những buổi sinh hoạt vốn gắn với sổ sách, giấy tờ, nhiều chi bộ đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ số trong điều hành, quản lý và triển khai nghị quyết.

Hoàn thiện khu tái định cư cho đồng bào dân tộc

Hoàn thiện khu tái định cư cho đồng bào dân tộc

Ngày 7/7, Đoàn công tác Hội đồng Dân tộc của Quốc hội do bà Cao Thị Xuân, Phó Chủ tịch Hội đồng làm Trưởng đoàn đã khảo sát thực tế việc thực hiện các kiến nghị của Hội đồng Dân tộc liên quan đến kết quả giải quyết đơn thư của đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ.

Xây dựng mô hình nhân đạo thống nhất, nâng cao hiệu quả trợ giúp người yếu thế miền núi

Xây dựng mô hình nhân đạo thống nhất, nâng cao hiệu quả trợ giúp người yếu thế miền núi

“Đối với Lạng Sơn, một tỉnh miền núi, biên giới có nhiều xã vùng cao và đồng bào dân tộc thiểu số, hoạt động nhân đạo cần chuyển mạnh từ hỗ trợ trước mắt sang hỗ trợ phát triển; từ "trao quà" sang "trao cơ hội"; từ giúp một hoàn cảnh sang tạo sinh kế cho cả cộng đồng”. Đây là chỉ đạo của Chủ tịch Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Đỗ Thị Thu Thảo tại Đại hội đại biểu Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tỉnh Lạng Sơn lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031, diễn ra sáng 7/7.

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bảo vệ chất lượng, giữ giá trị thương hiệu cho na Chi Lăng

Bảo vệ chất lượng, giữ giá trị thương hiệu cho na Chi Lăng

Những vườn na trên địa bàn xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đang bước vào giai đoạn nuôi quả. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng xen kẽ mưa rào, độ ẩm cao đã tạo điều kiện để nhiều đối tượng gây hại cho cây na như nhện đỏ, rệp sáp, bọ trĩ và đặc biệt là ruồi vàng phát triển. Ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương đã khẩn trương triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo vệ sản lượng, chất lượng na, giữ gìn thương hiệu đặc sản địa phương.

Cây mắc ca tạo sinh kế bền vững cho vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Cây mắc ca tạo sinh kế bền vững cho vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Từ một xã biên giới đặc biệt khó khăn ở phía Tây tỉnh Lâm Đồng, Quảng Trực đang từng bước chuyển mình nhờ phát huy lợi thế đất đỏ bazan để phát triển cây mắc ca, cà phê gắn với liên kết sản xuất, đầu tư hạ tầng và xây dựng các điểm dân cư biên giới. Những đổi thay này không chỉ tạo sinh kế bền vững cho người dân mà còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên tuyến biên giới Tây Nam.

Hoàn lưu bão số 1 gây nhiều thiệt hại tại Lào Cai, Cao Bằng

Hoàn lưu bão số 1 gây nhiều thiệt hại tại Lào Cai, Cao Bằng

Từ đêm ngày 4 - 6/7, hoàn lưu bão số 1 đã gây mưa lớn, dông lốc kèm sạt lở đất trên diện rộng tại tỉnh Lào Cai, để lại hậu quả nặng nề về tài sản và hạ tầng giao thông. Nhờ chủ động phương án ứng phó, địa phương không ghi nhận thương vong về người. Tổng thiệt hại sơ bộ ước tính lên tới gần 6,3 tỷ đồng.

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Giữa không gian thanh bình của núi đồi và những nếp nhà sàn truyền thống dân tộc Tày, thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân, mô hình này còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.

Dự án hồ thủy lợi gần 1.500 tỷ đồng vẫn nhiều lần lỡ hẹn

Dự án hồ thủy lợi gần 1.500 tỷ đồng vẫn nhiều lần lỡ hẹn

Dự án Hồ thủy lợi Ea Tam được kỳ vọng trở thành công trình thủy lợi mang tính chiến lược nhằm phục vụ tưới tiêu và tạo cảnh quan, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực đô thị Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, dù đã quá tiến độ nhưng dự án vẫn ngổn ngang và “lỡ hẹn” về đích từ năm này qua năm khác. Sự “ì ạch” kéo dài không chỉ làm chậm hiệu quả công trình mà còn gây lãng phí nguồn lực xã hội, nhất là nguồn vốn đầu tư công.

Hoàn lưu bão số 1 gây sạt lở nhiều tuyến đường ở Điện Biên

Hoàn lưu bão số 1 gây sạt lở nhiều tuyến đường ở Điện Biên

Do ảnh hưởng của hoàn lưu cơn bão số 1, mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở tại một số tuyến giao thông trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Các đơn vị quản lý đường bộ đang huy động máy móc, nhân lực khẩn trương khắc phục, bảo đảm giao thông. Đến 15 giờ ngày 6/7, chỉ còn tuyến Huổi Só - Huổi Lóng và Đèo Gió - Tả Sìn Thàng vẫn chưa thể lưu thông do nhiều điểm sạt lở lớn.

Lai Châu: Mưa lớn gây nhiều thiệt hại, một người bị nước lũ cuốn trôi

Lai Châu: Mưa lớn gây nhiều thiệt hại, một người bị nước lũ cuốn trôi

Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 1, từ chiều 5/7 đến sáng 6/7, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có mưa vừa đến mưa rất to, lượng mưa phổ biến từ 100-200mm, riêng xã Hua Bum ghi nhận lượng mưa lên tới 275mm. Mưa lớn kéo dài đã gây ngập úng diện rộng, sạt lở trên nhiều tuyến giao thông, làm hư hỏng một số công trình hạ tầng và ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người dân.

Mang nguồn nước sạch về bản làng vùng cao Tà Rụt

Mang nguồn nước sạch về bản làng vùng cao Tà Rụt

Giữa núi rừng Trường Sơn điệp trùng, cuộc sống của người dân vùng cao xã Tà Rụt (tỉnh Quảng Trị) đang đổi thay từng ngày nhưng nước sạch phục vụ sinh hoạt vẫn còn là một khó khăn. Để mang dòng nước sạch về bản làng có sự chung tay góp sức từ cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức và nhất là sự xung kích, tinh thần trách nhiệm của người trẻ.

Giữ nhịp xây dựng trường nội trú liên cấp trong mùa mưa lũ

Giữ nhịp xây dựng trường nội trú liên cấp trong mùa mưa lũ

Điện Biên đang bước vào mùa mưa, cũng là thời điểm các dự án trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới bước vào giai đoạn nước rút để kịp đón năm học mới 2026-2027. Trước những diễn biến bất lợi của thời tiết, các nhà thầu đang linh hoạt điều chỉnh phương án tổ chức sản xuất, siết chặt các biện pháp bảo đảm an toàn lao động và chất lượng công trình, quyết tâm giữ vững tiến độ đã đề ra.