Nâng cao trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh

Trà Vinh là tỉnh có đồng bào dân tộc Khmer sinh sống cao nhất cả nước, chiếm gần 32% dân số của tỉnh. Các cấp ủy Đảng, chính quyền luôn chú trọng công tác giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer. Cùng với việc đầu tư, hoàn thiện mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học tại các trường, học sinh Khmer còn được “tiếp bước” đến trường bằng nhiều chế độ ưu đãi.

vna_potal_anh_kem_bai_phat_24_tren_220_tang_sinh_hoc_sinh_tot_nghiep_truong_trung_cap_pali-_khmer_tra_vinh__7301562.jpg
Một tiết học tại Trường Trung cấp Pali- Khmer Trà Vinh (phường 8, thành phố Trà Vinh). Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Trà Vinh hiện có trên 216.000 học sinh, trong đó học sinh dân tộc Khmer hơn 78.600 em, chiếm 36,4%. Toàn tỉnh có 8 trường phổ thông dân tộc nội trú, 1 Trường Trung cấp Pali-Khmer và Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh). Hiện nay, học sinh, tăng sinh, sinh viên học tại các trường này được tiếp cận nhiều chính sách hỗ trợ.

Các trường Phổ thông dân tộc nội trú trong tỉnh thuộc diện chính sách đặc biệt ưu tiên, đảm nhiệm nhiệm vụ “vừa nuôi - vừa dạy” học sinh Khmer, góp phần đào tạo nguồn cán bộ dân tộc Khmer trình độ cao cho tỉnh.

vna_potal_anh_kem_bai_phat_24_tren_220_tang_sinh_hoc_sinh_tot_nghiep_truong_trung_cap_pali-_khmer_tra_vinh__7301561.jpg
Trường Trung cấp Pali- Khmer Trà Vinh (phường 8, thành phố Trà Vinh). Ảnh: Thanh Hòa- TTXVN

Hằng năm, Trà Vinh luôn ưu tiên bố trí nguồn lực để sửa chữa, nâng cấp, đầu tư thiết bị dạy học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú. Năm 2024, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn được bố trí gần 48,2 tỷ đồng để thực hiện Tiểu dự án Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó, ngân sách Trung ương hơn 35,5 tỷ đồng, vốn sự nghiệp trên 12,6 tỷ đồng.

Thầy Kim Chan Ta Na, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh cho biết, học sinh tại các trường phổ thông dân tộc nội trú được hưởng chế độ ưu đãi theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các chế độ gồm: miễn học phí, hằng tháng được nhận học bổng bằng 80% mức lương cơ bản, tương đương 1.440.000 đồng; được cấp thẻ bảo hiểm y tế, học phẩm hằng năm. Học sinh mới trúng tuyển vào trường cũng được cấp đầy đủ các vật dụng sinh hoạt, áo khoác, áo mưa, đồ đồng phục… Ngoài ra, học sinh còn được hỗ trợ tiền tàu xe, điện, nước sinh hoạt…

Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh có tổng số 413 học sinh. Hằng năm, nhà trường tuyển sinh chỉ tiêu 140 em là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào Khmer. Thầy Kim Chan Ta Na cho hay, những năm gần đây, trình độ học sinh Khmer trong tỉnh được nâng lên rõ rệt. Gần 20 năm qua, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của học sinh tại Trường luôn đạt 100%. Năm học 2022-2023, phổ điểm tốt nghiệp của nhà trường đứng hạng 3/46 trường trong tỉnh; hơn 71% học sinh của trường trúng tuyển vào các Trường Đại học top đầu toàn quốc; điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 đầu vào cũng rất cao so với các trường trong tỉnh.

vna_potal_cac_truong_dan_toc_noi_tru_tai_tra_vinh_gop_phan_dao_tao_nguon_can_bo_dan_toc_khmer_trinh_do_cao_7301496.jpg
Giờ học của học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Phổ thông tỉnh Trà Vinh. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN

Cùng được hưởng chế độ ưu đãi theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT, Trường Trung cấp Pali-Khmer Trà Vinh được thành lập năm 2014, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Trà Vinh. Trường đào tạo theo hình thức đặc thù gồm hệ giáo dục thường xuyên, tiếng Pali, ngữ văn Khmer và giáo lý Phật giáo cho tăng sinh, học sinh Khmer đã tốt nghiệp Trung học Cơ sở và Sơ cấp Pali-Khmer hoặc tương đương (Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình tiếng Khmer cấp Trung học Cơ sở); thời gian đào tạo 3 năm/khóa.

Khi mới thành lập, Trường mượn tạm cơ sở vật chất tại chùa Kompong, phường 1, thành phố Trà Vinh. Từ năm học 2019-2020, Trường khánh thành điểm mới tại phường 8, thành phố Trà Vinh. Ngoài cơ sở vật chất được đầu tư khang trang với nhiều khu, phòng, nhà trường còn có ký túc xá đảm bảo cho hơn 144 tăng sinh, học sinh Khmer ăn, nghỉ, sinh hoạt và học tập. Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã tuyển sinh được 8 khóa, với tổng số 300 tăng sinh, học sinh; trong đó, 221 tăng sinh, học sinh đã tốt nghiệp.

Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Pali-Khmer Lâm So Rone cho biết, việc thành lập Trường đã đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng lớn nhất của các vị cao tăng, cán bộ lão thành cách mạng và đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh. Trường Trung cấp Pali-Khmer ra đời góp phần phát triển nguồn nhân lực có trình độ dân trí cao trong đồng bào dân tộc và sư sãi, phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh.

Bên cạnh các trường đào tạo theo hình thức đặc thù trên, tỉnh Trà Vinh còn có Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (thuộc Trường Đại học Trà Vinh), với rất nhiều sinh viên dân tộc Khmer khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo học. Hiện, sinh viên học ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống (Khmer) được miễn 100% học phí, được cấp sinh hoạt phí 450.000 đồng/tháng. Ngoài ra, hằng năm, nhà trường còn cấp phát nhiều suất học bổng đối với những em có thành tích học tập tốt.

Song song với công tác đào tạo trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ, Trà Vinh còn chú trọng việc phát triển đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, tạo nguồn cán bộ người dân tộc Khmer đủ năng lực giữ các chức vụ chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền các cấp, đảm bảo tính kế thừa.

Đến nay, toàn tỉnh có 47.022 đảng viên, trong đó, có 8.269 đảng viên dân tộc Khmer, chiếm 17,58% đảng viên toàn tỉnh; 100% ấp, khóm có đông đồng bào dân tộc thiểu số có đảng viên là người dân tộc. Các địa phương có đông đồng bào Khmer đều bố trí cán bộ là người dân tộc Khmer giữ các chức danh chủ chốt.

Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh Thạch Mu Ni cho hay, trình độ dân trí đồng bào Khmer tại Trà Vinh đã được nâng cao đáng kể. Đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer ngày càng trưởng thành về số lượng và chất lượng. Toàn tỉnh hiện có 23.430 cán bộ, công chức, viên chức; trong đó người dân tộc Khmer chiếm gần 21%. Nhiều người dân tộc Khmer giữ các chức danh cán bộ chủ chốt của tỉnh, sở, ngành và các địa phương.

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã giúp vùng đồng bào Khmer ngày càng khởi sắc; khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo ở vùng dân tộc, tôn giáo được giữ vững. Đồng bào các dân tộc trong tỉnh chung sức, đồng lòng cùng chính quyền địa phương xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Thanh Hòa

(TTXVN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Mang Tết sớm đến với người nghèo vùng biên giới An Phú

Mang Tết sớm đến với người nghèo vùng biên giới An Phú

Sáng 6/1, tại xã biên giới An Phú, Ban Thanh niên Công an tỉnh An Giang phối hợp với Tỉnh đoàn An Giang và UBND xã An Phú (tỉnh An Giang) tổ chức Lễ ra quân “Xuân tình nguyện” năm 2026 với nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, giúp các gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, học sinh vui Xuân, đón Tết vui vẻ, đầm ấm.

Hướng đi mới trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Gia Lai

Hướng đi mới trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Gia Lai

Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, nhiều loại cây trồng truyền thống như tiêu, cà phê, mía bộc lộ hạn chế về khả năng thích ứng, hiệu quả kinh tế và tính ổn định của thị trường. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm những hướng chuyển đổi phù hợp hơn. Tại Gia Lai, trồng dâu nuôi tằm đang được người dân và địa phương lựa chọn như một hướng đi mới trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Đà Nẵng: Chiến dịch thần tốc giữa thời bình đang băng băng về đích

Đà Nẵng: Chiến dịch thần tốc giữa thời bình đang băng băng về đích

Với những cách làm sáng tạo, đầy trách nhiệm trong Chiến dịch Quang Trung thần tốc, thành phố Đà Nẵng đang hoàn thành mục tiêu làm mới và sửa chữa trên 500 ngôi nhà cho đồng bào bị thiệt hại do mưa lũ gây ra trong những tháng cuối năm 2025, đảm bảo đưa vào sử dụng trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ổn định chỗ ở an toàn và tái thiết sinh kế bền vững cho đồng bào.

Quảng bá, phát triển thương hiệu đặc sản táo Đại Sơn (Bắc Ninh)

Quảng bá, phát triển thương hiệu đặc sản táo Đại Sơn (Bắc Ninh)

Với sự kết hợp hài hòa chất đất của núi rừng và khí hậu mát mẻ, ít mưa cùng những bàn tay cần cù lao động của người dân vùng cao xã Đại Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng thương hiệu táo Đại Sơn. Loại cây trồng này đã giúp người dân nơi đây vươn lên thoát nghèo, phát triển kinh tế.

Hướng đi hiệu quả cho người dân miền núi Thanh Hóa

Hướng đi hiệu quả cho người dân miền núi Thanh Hóa

Những năm gần đây, ở nhiều xã miền núi Thanh Hóa, bức tranh nông thôn đang dần đổi màu tươi sáng hơn. Từ những bản làng heo hút, nhà cửa đơn sơ, đời sống người dân chủ yếu trông chờ vào nương rẫy bấp bênh, nay đã xuất hiện ngày càng nhiều ngôi nhà kiên cố, đường làng ngõ xóm khang trang, đời sống ấm no hơn trước.

'Giữ lửa' nhịp điệu múa đặc sắc của dân tộc S’tiêng

'Giữ lửa' nhịp điệu múa đặc sắc của dân tộc S’tiêng

Trên mảnh đất xã Bù Đăng (Đồng Nai), người dân vẫn âm thầm giữ gìn những nhịp điệu múa của dân tộc S’tiêng. Các đội múa không chỉ bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh mà còn góp phần lan tỏa, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc thiểu số đến thế hệ mai sau.

Chiến dịch Quang Trung: Những mái ấm mới ở vùng đất D’ran

Chiến dịch Quang Trung: Những mái ấm mới ở vùng đất D’ran

Chỉ sau gần một tháng triển khai xây dựng thần tốc trong “Chiến dịch Quang Trung”, nhiều ngôi nhà đã được bàn giao cho người dân xã D’ran (Lâm Đồng) trước thềm năm mới 2026. Từ đây, những mái ấm đã được hình thành ở vùng đất D’ran sau trận mưa lũ lịch sử hiếm thấy.

Giữ bình yên cho vùng đồng bào Mông ở Pà Cò

Giữ bình yên cho vùng đồng bào Mông ở Pà Cò

Cách trung tâm tỉnh Phú Thọ hơn 200 km, xã Pà Cò có địa hình chủ yếu đồi núi cao, chia cắt mạnh, giao thông đi lại khó khăn. Đồng bào dân tộc Mông chiếm 64,77% dân số toàn xã, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều.

Xuân về với đồng bào Mông ở Sơn La

Xuân về với đồng bào Mông ở Sơn La

Xuân mới đang về mang theo hơi ấm của đất trời, trong không khí rộn ràng, sắc váy áo rực rỡ, tiếng cười nói xen lẫn âm thanh lao động sản xuất, một sức sống mới đang lan tỏa mạnh mẽ ở vùng đồng bào dân tộc Mông tại các xã vùng cao của tỉnh Sơn La. Người Mông nơi đây luôn có niềm tin vào những chủ trương của Đảng, Nhà nước và định hướng của tỉnh trong phát triển kinh tế - xã hội.

Giảm nghèo bền vững - Điểm tựa cho xây dựng nông thôn mới tại Nghệ An

Giảm nghèo bền vững - Điểm tựa cho xây dựng nông thôn mới tại Nghệ An

Những năm gần đây, diện mạo nông thôn tại nhiều xã miền núi Nghệ An đang từng ngày khởi sắc. Những con đường đất lầy lội nay được bê tông hóa. Điện, nước sinh hoạt, trường lớp, trạm y tế được đầu tư đồng bộ. Đời sống người dân từng bước ổn định hơn. Trong dòng chảy đổi thay ấy, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được xem là "điểm tựa" quan trọng, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới, đặc biệt tại các địa bàn khó khăn.

Lạng Sơn phấn đấu trở thành trung tâm kết nối kinh tế, thương mại

Lạng Sơn phấn đấu trở thành trung tâm kết nối kinh tế, thương mại

Năm 2025, tỉnh Lạng Sơn đã vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được kết quả nổi bật trên tất cả các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao. Thu ngân sách Nhà nước vượt dự toán, đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, hiệu quả.

Rộn ràng phiên chợ vùng cao chào năm mới 2026

Rộn ràng phiên chợ vùng cao chào năm mới 2026

Ngày 1/1/2026, trong không khí rộn ràng chào đón năm mới 2026, chuỗi hoạt động Tết Dương lịch với điểm nhấn “Chợ phiên vùng cao - Chào năm mới 2026” tại không gian Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đã mang đến bức tranh sinh động về sắc màu văn hóa các dân tộc Việt Nam, góp phần bảo tồn, phát huy và lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại 2025: Điện Biên vượt khó, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới

Nhìn lại 2025: Điện Biên vượt khó, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới

Năm 2025 khép lại trong bối cảnh đặc biệt đối với Điện Biên, một tỉnh miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ. Đây không chỉ là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021–2025 mà còn là năm đầu tiên vận hành chính quyền địa phương hai cấp theo mô hình mới. Trong bối cảnh thiên tai gây nhiều tác động bất lợi, tỉnh phải tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy. Kết quả đạt được trong năm 2025 đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị cao, tinh thần vượt khó và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị, nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên.

Sôi nổi khí thế thi công trên cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột

Sôi nổi khí thế thi công trên cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột

Trong ngày đầu năm mới 2026, trên công trình giao thông trọng điểm Dự án thành phần 3 cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột vẫn rền vang tiếng thiết bị, máy móc và hàng trăm công nhân làm việc. Tất cả đều hướng đến mục tiêu hoàn thành, nghiệm thu và đưa vào sử dụng trước ngày 14/2/2026 (trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026) để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Những căn nhà mới xây từ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc

Những căn nhà mới xây từ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc

Sau một tháng triển khai Chiến dịch "Thần tốc Quang Trung" do Thủ tướng Chính phủ phát động, nhiều hộ dân bị ảnh hưởng bão lũ tại tỉnh Đắk Lắk đã có nhà mới. Niềm vui càng nhân lên khi những căn nhà mới này được xây dựng từ sự quan tâm của chính quyền địa phương, sự hỗ trợ của các lực lượng vũ trang, sự đóng góp của các nhà hảo tâm, giúp đỡ của bà con làng xóm. Đây chính là tinh thần "tương thân, tương ái", "lá lành đùm lá rách", "tình dân tộc, nghĩa đồng bào" trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Tăng cường cán bộ về cơ sở, nâng cao hiệu lực chính quyền cấp xã miền núi, vùng cao

Tăng cường cán bộ về cơ sở, nâng cao hiệu lực chính quyền cấp xã miền núi, vùng cao

Sau hợp nhất tỉnh, việc kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực hoạt động của chính quyền cơ sở được tỉnh Tuyên Quang xác định là nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết. Trên cơ sở chỉ đạo của Trung ương và thực tiễn địa phương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp tổ chức bộ máy.

Từ nền tảng vững chắc đến khát vọng bứt phá

Từ nền tảng vững chắc đến khát vọng bứt phá

Trong không khí phấn khởi chào đón năm mới 2026 và hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tỉnh Tuyên Quang đang sẵn sàng bước vào giai đoạn phát triển mới với quyết tâm cao, khí thế thi đua sôi nổi, kỳ vọng phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội nhằm hướng tới mục tiêu đưa mảnh đất địa đầu cực Bắc Tổ quốc bứt phá mạnh mẽ.