Phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng biên giới

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành Quyết định số 3516 /QĐ-BVHTTDL về việc tổ chức tập huấn, phổ biến giáo dục pháp luật về công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại một số tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia.

thai-91025-10.jpg
Thiếu nữ dân tộc Thái thêu trang phục truyền thống. Ảnh: Xuân Tư/TTXVN

Theo quyết định, Bộ giao Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Cao Bằng, Điện Biên, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Tây Ninh, các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức “Tập huấn, phổ biến giáo dục pháp luật về công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại một số tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia”.

Mục đích của việc tổ chức tập huấn, phổ biến giáo dục pháp luật về công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tại địa phương; góp phần bảo vệ, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp; hạn chế, từng bước loại bỏ phong tục, tập quán lạc hậu và xây dựng nếp sống văn minh trong cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, việc tổ chức tập huấn, phổ biến này tiếp tục đưa hương ước, quy ước góp phần phát huy vai trò tự quản của cộng đồng, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở, góp phần tích cực hỗ trợ việc quản lý nhà nước bằng pháp luật.

Nội dung tập huấn gồm 4 chuyên đề: Chuyên đề 1- Chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về văn hóa dân tộc và tổng quan tình hình xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước; Chuyên đề 2 - Tổng quan tình hình xây dựng, thực hiện hương ước, quy 2 ước trên địa bàn (các tỉnh Cao Bằng, Điện Biên, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Tây Ninh), đặc trưng văn hóa, xã hội và yếu tố tác động đến xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn; Chuyên đề 3 - Quy định pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước của cộng đồng dân cư theo Nghị định số 61/2023/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan; Chuyên đề 4 - Nghiệp vụ, kỹ năng tổ chức xây dựng hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số qua thực tiễn.

Dự kiến tham gia tập huấn có hơn 1.100 học viên là công chức thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo và công chức Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng thôn, tổ trưởng dân phố… đến từ 6 tỉnh trên. Các lớp tập huấn tại các tỉnh được tổ chức triển khai trong quý IV năm 2025./.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Giữ vững an ninh trật tự cho cuộc bầu cử nơi vùng biên

Giữ vững an ninh trật tự cho cuộc bầu cử nơi vùng biên

Hòa chung không khí phấn khởi của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hướng tới Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, lực lượng công an, biên phòng, quân sự các xã vùng cao, vùng biên giới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đang triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm bảo đảm an ninh, an toàn trước, trong và sau bầu cử.

Tín dụng chính sách đồng hành cùng hội viên phụ nữ phát triển kinh tế

Tín dụng chính sách đồng hành cùng hội viên phụ nữ phát triển kinh tế

Với nhiều cách làm linh hoạt trong hỗ trợ hội viên tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách, thời gian qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tỉnh Vĩnh Long đã trở thành cầu nối quan trọng giúp nhiều hội viên có điều kiện phát triển kinh tế, ổn định đời sống. Thông qua sự phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội, các chương trình cho vay ưu đãi được triển khai hiệu quả, tạo điều kiện để hội viên mạnh dạn khởi nghiệp, phát triển kinh tế gia đình, từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Quyết tâm để tổ chức bầu cử thành công, thực sự là ngày hội của toàn dân

Quyết tâm để tổ chức bầu cử thành công, thực sự là ngày hội của toàn dân

Chỉ còn ít ngày nữa là đến thời điểm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Nhân dịp này, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tuấn Anh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, Chủ tịch Hội đồng bầu cử tỉnh Lào Cai về công tác chuẩn bị cho ngày hội lớn của dân tộc.

Phát huy vai trò đảng viên trong tuyên truyền bầu cử vùng biên giới

Phát huy vai trò đảng viên trong tuyên truyền bầu cử vùng biên giới

Tỉnh Lạng Sơn có 11 xã biên giới với đặc thù địa bàn rộng, dân cư phân tán, trình độ dân trí không đồng đều. Trong bối cảnh đó, đội ngũ đảng viên sinh hoạt tại các khu dân cư đã và đang khẳng định vai trò nòng cốt trong công tác tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, xứng đáng là “cầu nối” đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bầu cử đến với từng hộ dân, cử tri, góp phần để ngày bầu cử thực sự trở thành ngày hội của toàn dân.

Ngày Biên phòng toàn dân 3/3: Xây dựng 'thế trận lòng dân' ở biên giới Tây Nam

Ngày Biên phòng toàn dân 3/3: Xây dựng 'thế trận lòng dân' ở biên giới Tây Nam

Tỉnh An Giang có đường biên giới dài gần 150 km, tiếp giáp một số tỉnh của Vương quốc Campuchia. Các đơn vị Biên phòng trong tỉnh làm tốt công tác vận động quần chúng, triển khai nhiều hoạt động, chương trình thiết thực, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân” vững chắc, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Người lính quân hàm xanh - 'lá chắn thép' nơi biên thùy

Người lính quân hàm xanh - 'lá chắn thép' nơi biên thùy

Bộ đội Biên phòng An Giang giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và đấu tranh phòng, chống tội phạm khu vực biên giới. “Những người lính quân hàm xanh” là “lá chắn thép” nơi biên giới, giữ gìn an ninh, là cầu nối “quân - dân” với Đảng và Nhà nước, trở thành điểm tựa cho nhân dân ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, gắn bó với biên cương.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Các đơn vị vũ trang tỉnh Đắk Lắk bỏ phiếu sớm hơn 1 ngày

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Các đơn vị vũ trang tỉnh Đắk Lắk bỏ phiếu sớm hơn 1 ngày

Ủy ban Bầu cử tỉnh Đắk Lắk thông tin, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã có công văn đồng ý để tỉnh Đắk Lắk tổ chức bỏ phiếu sớm hơn một ngày (14/3/2026) đối với lực lượng vũ trang tại 11 khu vực bỏ phiếu. Việc bỏ phiếu sớm nhằm bảo đảm quyền, nghĩa vụ công dân của cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Công an tỉnh đang thực hiện nhiệm vụ đặc thù, không làm gián đoạn công tác quốc phòng, an ninh.

Tích cực tuyên truyền bầu cử trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Tích cực tuyên truyền bầu cử trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Những ngày này, công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đang được triển khai rộng khắp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác tuyên truyền bầu cử được các địa phương thực hiện linh động, hiệu quả bằng nhiều hình thức. Qua đó, giúp các cử tri hiểu rõ về công tác bầu cử, danh sách đại biểu ứng cử để bầu ra những người đại diện cho tiếng nói của người dân trong nhiệm kỳ tới.

Khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng lập nghiệp của thanh niên dân tộc thiểu số

Khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng lập nghiệp của thanh niên dân tộc thiểu số

Thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với bảo đảm an sinh xã hội, tỉnh Tây Ninh tập trung khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng lập thân, lập nghiệp của thanh niên dân tộc thiểu số thông qua giáo dục, đào tạo nghề và hỗ trợ khởi nghiệp gắn với sinh kế truyền thống, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng trong tỉnh.

'Đòn bẩy' thay đổi tư duy phát triển kinh tế của đồng bào DTTS

'Đòn bẩy' thay đổi tư duy phát triển kinh tế của đồng bào DTTS

Với phương châm “gần dân, sát dân”, dòng vốn tín dụng chính sách tại thành phố Cần Thơ không chỉ là nguồn lực tài chính đơn thuần mà đã trở thành “vốn mồi” quan trọng. Nguồn vốn này đang làm thay đổi căn bản tư duy sản xuất, xóa bỏ tâm lý ỷ lại và tạo động lực tự thân để đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên làm giàu bền vững trên chính mảnh đất quê hương.

Điện Biên tạo đà phát triển từ thu hút đầu tư

Điện Biên tạo đà phát triển từ thu hút đầu tư

Là tỉnh miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn, Điện Biên xác định thu hút đầu tư là một trong những đột phá quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Với quyết tâm chính trị cao và tư duy đổi mới, tỉnh đang từng bước cải thiện môi trường đầu tư, tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp.

Nông nghiệp vùng cao hướng tới sản xuất hàng hóa

Nông nghiệp vùng cao hướng tới sản xuất hàng hóa

Những ngày đón Tết Bính Ngọ 2026, nhiều con đường dẫn vào các xã vùng cao phía Tây của các tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai luôn rộn ràng hơn bởi sắc xanh của những nương rẫy đang vào vụ chăm sóc. Từ những chính sách hỗ trợ sinh kế ban đầu, tư duy sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và người dân ở các địa phương nơi đây đã có bước chuyển quan trọng, từ sản xuất tự cung tự cấp sang hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp hàng hóa, kết nối với các vùng nguyên liệu quy mô lớn.