Bước vào tháng 8, những triền đồi ở xã Đại Đình (Phú Thọ) rộn ràng mùa thu hoạch na Bồ Lý. Những quả na căng tròn, thơm ngọt được người dân thu hái từ sáng sớm để kịp đưa đến tay người tiêu dùng.
Đất đồi sỏi dăm pha cát và khí hậu mát mẻ dưới chân dãy Tam Đảo đã tạo nên hương vị ngọt thanh đặc trưng của na Bồ Lý. Tuy nhiên, để đặc sản này khẳng định vị thế trên thị trường, người trồng na đang chuyển từ sản xuất theo kinh nghiệm sang canh tác theo quy trình, xây dựng mã số vùng trồng và phát triển thương hiệu.
Từ cây trồng xóa đói đến cây làm giàu
Hơn 20 năm gắn bó với cây na, anh Chu Văn Dũng ở thôn Đồng Bụt vẫn nhớ những ngày gia đình chỉ trông vào cây sắn với thu nhập bấp bênh. "Ngày trước trồng sắn quanh năm mà chẳng dư dả gì. Từ khi chuyển sang trồng na, cuộc sống khá lên rõ rệt", anh chia sẻ.
Những vườn na xanh mướt dưới chân dãy Tam Đảo là điểm đến hấp dẫn của du khách mỗi mùa quả chín.
Trên diện tích khoảng 0,5 ha, gia đình anh Dũng hiện chăm sóc 700 gốc na. Riêng vụ na năm nay, gia đình đã thu hoạch khoảng 4 tấn quả, giá bán đầu vụ dao động 70.000 - 80.000 đồng/kg, mang lại nguồn thu ổn định. Để có những vụ na đạt năng suất, giá trị cao là cả quá trình chăm sóc công phu của người trồng.
Theo anh Dũng, sâu đục thân là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm nhất đối với cây na. Bên cạnh việc phòng trừ sâu bệnh, công đoạn quyết định năng suất lại diễn ra vào mùa hoa. Nếu để cây na thụ phấn tự nhiên, tỷ lệ đậu quả của cây rất thấp, quả thường nhỏ, méo hoặc vẹo. Vì vậy, người trồng phải cắt tỉa cành cho tán cây thông thoáng, độ cao vừa tầm rồi tiến hành thụ phấn thủ công. Có những hôm vợ chồng anh bắt đầu thụ phấn từ chập tối đến 3 giờ sáng mới xong. Công đoạn này quyết định khoảng 70% năng suất cả vụ.
Khách hàng lựa chọn mua na Bồ Lý tại nhà vườn ngay sau khi thu hoạch.
Không chỉ chú trọng kỹ thuật, gia đình anh Dũng đang hoàn thiện hồ sơ xin cấp mã số vùng trồng. Chị Lương Thị Phượng, vợ anh Dũng mong muốn tiếp tục được cơ quan chuyên môn hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn ghi chép nhật ký sản xuất, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định để nâng cao giá trị quả na và ổn định đầu ra.
Chuyên nghiệp hóa vùng trồng
Cách đó không xa là đồi na rộng gần 2 ha của anh Nguyễn Kế Thanh, một trong những hộ có nhiều kinh nghiệm ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất. Trước đây, diện tích này được gia đình trồng bạch đàn nhưng hiệu quả kinh tế không cao. Sau khi chuyển sang cây na, anh Thanh đầu tư bài bản, ứng dụng quy trình VietGAP. Hiện gia đình anh Thanh có khoảng 2.000 cây na, trong đó 1.000 cây đang cho thu hoạch, sản lượng mỗi vụ đạt trên 10 tấn, doanh thu từ 500 - 600 triệu đồng mỗi năm.
Thu hái từ ban đêm đến rạng sáng là cách người trồng na giữ độ tươi ngon của quả trước khi đưa ra thị trường.
Theo anh Thanh, bí quyết để có quả na to, đẹp nằm ở khâu chăm sóc ngay từ khi cây chuẩn bị ra hoa. Từ việc cắt tỉa tán cây để ánh nắng lọt đều, chấm phấn hoa đúng thời điểm, đến điều tiết thời vụ đều phải thực hiện đúng kỹ thuật. Một cây được chăm sóc tốt có thể cho thu hoạch khoảng 100 quả loại lớn mỗi mùa. Anh Thanh còn là một trong những hộ áp dụng thành công kỹ thuật cho cây na ra quả trái vụ, giúp kéo dài thời gian thu hoạch lên nhiều đợt trong năm, nâng cao giá trị của cây đặc sản. Anh Thanh đang hoàn thiện thủ tục cấp mã số vùng trồng cho diện tích trồng na của gia đình. Theo anh Thanh, khi được cấp mã số vùng trồng, người sản xuất sẽ có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn thương hiệu, đầu tư chăm sóc và tuân thủ quy trình sản xuất.
"Cả nước có nhiều vùng trồng na nổi tiếng như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La hay Tây Ninh. Na Bồ Lý có hương vị riêng nhờ điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu vùng Tam Đảo. Nếu xây dựng tốt mã số vùng trồng và thương hiệu thì giá trị quả na sẽ còn tăng lên", anh Thanh chia sẻ.
Mã số vùng trồng - nền tảng phát triển bền vững
Theo Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Phú Thọ Nguyễn Việt Xuân, xây dựng mã số vùng trồng không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn là giải pháp quan trọng để thay đổi phương thức sản xuất theo hướng chuyên nghiệp. Đến nay, toàn tỉnh Phú Thọ đã được cấp 786 mã số vùng trồng, gồm 108 mã phục vụ xuất khẩu, 678 mã phục vụ tiêu thụ nội địa, với tổng diện tích hơn 8.800 ha, cùng 5 mã số cơ sở đóng gói. Để được cấp mã số, vùng trồng cây lâu năm phải có diện tích tối thiểu 10 ha, sản xuất theo quy trình được cơ quan chuyên môn hướng dẫn, ghi chép đầy đủ nhật ký canh tác, đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật của thị trường tiêu thụ.
Những quả na Bồ Lý chín đều, căng tròn, mang theo hương vị ngọt lành của vùng quê Phú Thọ.
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Phú Thọ cũng khuyến cáo người trồng na cần thay đổi tập quán sản xuất theo hướng minh bạch và có trách nhiệm hơn; ghi chép đầy đủ việc bón phân, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; tuân thủ nguyên tắc "4 đúng"; áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp, thu gom bao bì thuốc sau sử dụng và thường xuyên giám sát vùng trồng.
Việc cấp mã số vùng trồng sẽ tạo điều kiện áp dụng các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP, nâng cao chất lượng nông sản, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc, mở rộng thị trường tiêu thụ và tạo điều kiện xuất khẩu chính ngạch vào các thị trường có yêu cầu cao như Trung Quốc, Mỹ hay Liên minh châu Âu.
Tem truy xuất nguồn gốc được dán lên từng thùng na Bồ Lý trước khi xuất bán.
Từ những quả na được chăm chút bằng đôi bàn tay của người nông dân, đến những cuốn sổ nhật ký sản xuất ghi đầy đủ từng lần bón phân, phun thuốc, mã số vùng trồng đang từng bước thay đổi cách làm nông nghiệp ở vùng trồng na Bồ Lý. Khi các vườn na đều có "danh tính" rõ ràng, thương hiệu na dai Bồ Lý sẽ có thêm cơ hội khẳng định vị thế trên thị trường, mang lại giá trị bền vững hơn cho người trồng và vùng đất đồi dưới chân Tam Đảo./.