Từ các chính sách hỗ trợ thiết thực, môi trường nội trú an toàn đến đổi mới phương pháp dạy học, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tăng cường hướng nghiệp, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Vĩnh Long đang có những chuyển biến rõ nét.
Những kết quả bước đầu sau một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đang tạo thêm động lực để thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa vùng thuận lợi và vùng còn khó khăn, mở rộng cơ hội học tập, phát triển cho học sinh dân tộc Khmer ở Vĩnh Long.
Mang cơ hội phát triển bình đẳng đến con em đồng bào Khmer
Tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức), chính sách hỗ trợ của Nhà nước đang trở thành điểm tựa để học sinh Khmer yên tâm học tập, rèn luyện và định hướng tương lai.
Theo Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh Kim Chan Ta Na, để các em yên tâm học tập, nhà trường triển khai đồng bộ giải pháp chăm lo cho học sinh nội trú, kết hợp chính sách ưu đãi của Nhà nước theo Nghị định số 66/2025/NĐ-CP. Học sinh được hưởng học bổng chính sách bằng 80% mức lương cơ sở, tương đương 2.024.000 đồng/tháng và được cấp chăn, màn, chiếu, đồng phục, sách giáo khoa, vở và dụng cụ học tập. Những hỗ trợ này giúp giảm áp lực chi phí cho gia đình, góp phần tạo điều kiện để học sinh vùng sâu, vùng xa duy trì việc học.
Trường tổ chức quản lý nội trú 24/24 giờ, bảo đảm chế độ ăn uống, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm; đồng thời chú trọng tư vấn tâm lý, giáo dục kỹ năng sống, tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, giúp học sinh ổn định sinh hoạt, yên tâm học tập khi sống xa gia đình.
Em Thạch Thúy Duy, học sinh lớp 12A cho biết, đây là năm thứ 3 em học tại trường và luôn nhận được sự quan tâm của nhà trường. Ngoài được miễn học phí và hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định, em còn được nhà trường chăm lo bữa ăn, nơi ở và thầy cô thường xuyên động viên trong học tập. Những hỗ trợ này giúp em giảm bớt chi phí sinh hoạt, yên tâm học tập và tiếp tục thực hiện ước mơ trở thành bác sĩ.
Em Kiên Gia Bảo, học sinh lớp 10C chia sẻ, khi biết đủ điểm vào Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh, em rất vui vì việc học tập, sinh hoạt tại trường giúp gia đình giảm một phần chi phí. Bước vào môi trường học tập mới, được đánh giá cao về chất lượng, em vừa hồi hộp, háo hức, vừa đặt cho mình quyết tâm học tập và rèn luyện tốt hơn.
Năm học 2026-2027, Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh có 414 học sinh với 100% là người Khmer. Học sinh đến từ nhiều xã, phường thuộc các khu vực I, II, III của tỉnh, trong đó có 40 em thuộc diện khó khăn.
Từ nền tảng đó, chất lượng giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số tiếp tục được nâng lên. Năm học vừa qua, học sinh dân tộc Khmer tốt nghiệp Trung học phổ thông đạt 100%; tỷ lệ trúng tuyển đại học nguyện vọng 1 đạt 73,38%.
Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức) có 100% học sinh dân tộc Khmer.
Kết quả thi học sinh giỏi cũng cho thấy sự tiến bộ khi trường đạt 11 giải học sinh giỏi vòng tỉnh, trong đó có 1 giải ba và 10 giải khuyến khích, xếp thứ 10/131 trường trong tỉnh. Trường có 3 đề tài tham gia Hội thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh, đoạt 1 giải ba. Học sinh còn đạt thành tích tại các cuộc thi, hội thi về quốc phòng - an ninh, hùng biện tiếng Anh, tiếng Khmer, giải toán bằng máy tính cầm tay và khởi nghiệp.
Đổi mới để thu hẹp khoảng cách giáo dục
Tỉnh Vĩnh Long hiện có 710.489 học sinh, trong đó, 81.228 em dân tộc thiểu số, chiếm 11,43%. Toàn tỉnh có 9 trường phổ thông dân tộc nội trú với 89 lớp, gần 3.000 học sinh.
Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Long Thạch Tha Lai cho biết, thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành Chương trình số 06-CTr/TU và Kế hoạch số 12/KH-UBND để cụ thể hóa. Theo đó, Vĩnh Long tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho phát triển giáo dục, trong đó, chú trọng đầu tư trường lớp, phòng học, phòng chức năng, thiết bị dạy học và hạ tầng công nghệ thông tin.
Các chính sách đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú được rà soát, thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Tỉnh triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần cải thiện điều kiện học tập và tạo thêm cơ hội phát triển cho học sinh.
Không chỉ tập trung vào chính sách hỗ trợ, việc thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW tại Vĩnh Long đang được cụ thể hóa bằng những thay đổi trong quản trị, phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ. Trong năm qua, tỉnh tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp trường lớp, phòng học, phòng chức năng và thiết bị dạy học; triển khai kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày đối với giáo dục phổ thông giai đoạn 2026-2030; tăng cường hạ tầng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Đến nay, 100% cơ sở giáo dục công lập được kết nối Internet băng thông rộng; học bạ số, văn bằng số, cơ sở dữ liệu ngành và Trung tâm điều hành giáo dục thông minh được triển khai đồng bộ. Ngành Giáo dục và Đào tạo tăng cường tập huấn giáo viên về chương trình giáo dục phổ thông mới, đổi mới kiểm tra đánh giá, giáo dục STEM, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.
Tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh, tinh thần đổi mới được thể hiện rõ trong phương pháp dạy học và quản trị nhà trường. Hiệu trưởng nhà trường Kim Chan Ta Na cho biết, chuyển biến rõ nét sau một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW là sự thay đổi từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, gắn giáo dục nội trú với chuyển đổi số và định hướng nguồn nhân lực bản địa. Quản trị bằng dữ liệu số, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng học đi đôi với hành, trải nghiệm thực tiễn và nâng chất lượng hướng nghiệp đang trở thành những nội dung trọng tâm.
Trường chuyển mạnh sang dạy học tương tác, thảo luận nhóm, dự án liên môn; kiểm tra, đánh giá chú trọng khả năng vận dụng và tư duy phản biện thay vì học thuộc. Các nội dung nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn, trong đó, việc bảo tồn bản sắc văn hóa Khmer được chú trọng. Chuyển đổi số cũng được đưa sâu hơn vào quản lý và kết nối nhà trường với gia đình. Từ tuyển sinh đầu cấp, điểm danh, quản lý học liệu đến trao đổi thông tin với phụ huynh, nhà trường sử dụng các nền tảng số, mã QR và nhóm công nghệ; hệ thống bài giảng điện tử, quản lý điểm và hồ sơ học sinh nội trú được đồng bộ trên cơ sở dữ liệu ngành.
Đáng chú ý, nhà trường bắt đầu tích hợp nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo vào chương trình Tin học và các môn liên quan, đồng thời hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ AI an toàn, có trách nhiệm, biết kiểm chứng thông tin và không lạm dụng công nghệ để làm thay bài học. Công tác hướng nghiệp được triển khai sớm hơn, gắn với các đơn vị, cơ quan, cơ sở đào tạo nghề, giúp học sinh xác định năng lực, sở trường và lựa chọn hướng đi phù hợp.
Học sinh lớp 10B Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức) có 100% học sinh là người dân tộc Khmer.
Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Long Thạch Tha Lai cho biết, thời gian tới, ngành tiếp tục thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách đối với người dạy, người học và cơ sở giáo dục tại vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, tổ chức dạy tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1; đồng thời phát triển việc dạy tiếng dân tộc thiểu số, trong đó có tiếng Khmer, phù hợp nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương.
Tỉnh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số được học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú lên trên 12% so với tổng số học sinh dân tộc thiểu số trong độ tuổi đi học; 100% cơ sở giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số tổ chức hoạt động tìm hiểu văn hóa dân tộc và tạo điều kiện để học sinh học tiếng Khmer theo quy định.
Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, Vĩnh Long tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ quản lý, giáo viên; đào tạo giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số, nâng cao năng lực tiếng Khmer cho đội ngũ công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và các phương pháp giáo dục tiên tiến tiếp tục được đẩy mạnh.
Từ chính sách hỗ trợ thiết thực đến đổi mới quản trị, dạy học và hướng nghiệp, việc triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW tại Vĩnh Long đang từng bước chuyển từ đầu tư điều kiện học tập sang nâng cao chất lượng và cơ hội phát triển cho người học. Với học sinh Khmer, đây là nền tảng để các em tiếp cận tốt hơn với giáo dục hiện đại, đồng thời gìn giữ bản sắc văn hóa và chuẩn bị hành trang cho tương lai./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn