Tạo động lực mới cho giáo dục vùng đồng bào Khmer

Từ các chính sách hỗ trợ thiết thực, môi trường nội trú an toàn đến đổi mới phương pháp dạy học, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tăng cường hướng nghiệp, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Vĩnh Long đang có những chuyển biến rõ nét.

giao-duc2-9926.jpg
Cô và trò lớp 10B Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức) trong một tiết học.

Những kết quả bước đầu sau một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đang tạo thêm động lực để thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa vùng thuận lợi và vùng còn khó khăn, mở rộng cơ hội học tập, phát triển cho học sinh dân tộc Khmer ở Vĩnh Long.

Mang cơ hội phát triển bình đẳng đến con em đồng bào Khmer

Tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức), chính sách hỗ trợ của Nhà nước đang trở thành điểm tựa để học sinh Khmer yên tâm học tập, rèn luyện và định hướng tương lai.

Theo Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh Kim Chan Ta Na, để các em yên tâm học tập, nhà trường triển khai đồng bộ giải pháp chăm lo cho học sinh nội trú, kết hợp chính sách ưu đãi của Nhà nước theo Nghị định số 66/2025/NĐ-CP. Học sinh được hưởng học bổng chính sách bằng 80% mức lương cơ sở, tương đương 2.024.000 đồng/tháng và được cấp chăn, màn, chiếu, đồng phục, sách giáo khoa, vở và dụng cụ học tập. Những hỗ trợ này giúp giảm áp lực chi phí cho gia đình, góp phần tạo điều kiện để học sinh vùng sâu, vùng xa duy trì việc học.

Trường tổ chức quản lý nội trú 24/24 giờ, bảo đảm chế độ ăn uống, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm; đồng thời chú trọng tư vấn tâm lý, giáo dục kỹ năng sống, tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, giúp học sinh ổn định sinh hoạt, yên tâm học tập khi sống xa gia đình.

Em Thạch Thúy Duy, học sinh lớp 12A cho biết, đây là năm thứ 3 em học tại trường và luôn nhận được sự quan tâm của nhà trường. Ngoài được miễn học phí và hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định, em còn được nhà trường chăm lo bữa ăn, nơi ở và thầy cô thường xuyên động viên trong học tập. Những hỗ trợ này giúp em giảm bớt chi phí sinh hoạt, yên tâm học tập và tiếp tục thực hiện ước mơ trở thành bác sĩ.

Em Kiên Gia Bảo, học sinh lớp 10C chia sẻ, khi biết đủ điểm vào Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh, em rất vui vì việc học tập, sinh hoạt tại trường giúp gia đình giảm một phần chi phí. Bước vào môi trường học tập mới, được đánh giá cao về chất lượng, em vừa hồi hộp, háo hức, vừa đặt cho mình quyết tâm học tập và rèn luyện tốt hơn.

Năm học 2026-2027, Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh có 414 học sinh với 100% là người Khmer. Học sinh đến từ nhiều xã, phường thuộc các khu vực I, II, III của tỉnh, trong đó có 40 em thuộc diện khó khăn.

Từ nền tảng đó, chất lượng giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số tiếp tục được nâng lên. Năm học vừa qua, học sinh dân tộc Khmer tốt nghiệp Trung học phổ thông đạt 100%; tỷ lệ trúng tuyển đại học nguyện vọng 1 đạt 73,38%.

Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức) có 100% học sinh dân tộc Khmer.

Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức) có 100% học sinh dân tộc Khmer.

Kết quả thi học sinh giỏi cũng cho thấy sự tiến bộ khi trường đạt 11 giải học sinh giỏi vòng tỉnh, trong đó có 1 giải ba và 10 giải khuyến khích, xếp thứ 10/131 trường trong tỉnh. Trường có 3 đề tài tham gia Hội thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh, đoạt 1 giải ba. Học sinh còn đạt thành tích tại các cuộc thi, hội thi về quốc phòng - an ninh, hùng biện tiếng Anh, tiếng Khmer, giải toán bằng máy tính cầm tay và khởi nghiệp.

Đổi mới để thu hẹp khoảng cách giáo dục

Tỉnh Vĩnh Long hiện có 710.489 học sinh, trong đó, 81.228 em dân tộc thiểu số, chiếm 11,43%. Toàn tỉnh có 9 trường phổ thông dân tộc nội trú với 89 lớp, gần 3.000 học sinh.

Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Long Thạch Tha Lai cho biết, thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành Chương trình số 06-CTr/TU và Kế hoạch số 12/KH-UBND để cụ thể hóa. Theo đó, Vĩnh Long tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho phát triển giáo dục, trong đó, chú trọng đầu tư trường lớp, phòng học, phòng chức năng, thiết bị dạy học và hạ tầng công nghệ thông tin.

Các chính sách đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú được rà soát, thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Tỉnh triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần cải thiện điều kiện học tập và tạo thêm cơ hội phát triển cho học sinh.

Không chỉ tập trung vào chính sách hỗ trợ, việc thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW tại Vĩnh Long đang được cụ thể hóa bằng những thay đổi trong quản trị, phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ. Trong năm qua, tỉnh tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp trường lớp, phòng học, phòng chức năng và thiết bị dạy học; triển khai kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày đối với giáo dục phổ thông giai đoạn 2026-2030; tăng cường hạ tầng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.

Đến nay, 100% cơ sở giáo dục công lập được kết nối Internet băng thông rộng; học bạ số, văn bằng số, cơ sở dữ liệu ngành và Trung tâm điều hành giáo dục thông minh được triển khai đồng bộ. Ngành Giáo dục và Đào tạo tăng cường tập huấn giáo viên về chương trình giáo dục phổ thông mới, đổi mới kiểm tra đánh giá, giáo dục STEM, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.

Tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh, tinh thần đổi mới được thể hiện rõ trong phương pháp dạy học và quản trị nhà trường. Hiệu trưởng nhà trường Kim Chan Ta Na cho biết, chuyển biến rõ nét sau một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW là sự thay đổi từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, gắn giáo dục nội trú với chuyển đổi số và định hướng nguồn nhân lực bản địa. Quản trị bằng dữ liệu số, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng học đi đôi với hành, trải nghiệm thực tiễn và nâng chất lượng hướng nghiệp đang trở thành những nội dung trọng tâm.

Trường chuyển mạnh sang dạy học tương tác, thảo luận nhóm, dự án liên môn; kiểm tra, đánh giá chú trọng khả năng vận dụng và tư duy phản biện thay vì học thuộc. Các nội dung nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn, trong đó, việc bảo tồn bản sắc văn hóa Khmer được chú trọng. Chuyển đổi số cũng được đưa sâu hơn vào quản lý và kết nối nhà trường với gia đình. Từ tuyển sinh đầu cấp, điểm danh, quản lý học liệu đến trao đổi thông tin với phụ huynh, nhà trường sử dụng các nền tảng số, mã QR và nhóm công nghệ; hệ thống bài giảng điện tử, quản lý điểm và hồ sơ học sinh nội trú được đồng bộ trên cơ sở dữ liệu ngành.

Đáng chú ý, nhà trường bắt đầu tích hợp nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo vào chương trình Tin học và các môn liên quan, đồng thời hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ AI an toàn, có trách nhiệm, biết kiểm chứng thông tin và không lạm dụng công nghệ để làm thay bài học. Công tác hướng nghiệp được triển khai sớm hơn, gắn với các đơn vị, cơ quan, cơ sở đào tạo nghề, giúp học sinh xác định năng lực, sở trường và lựa chọn hướng đi phù hợp.

Học sinh lớp 10B Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức) có 100% học sinh là người dân tộc Khmer.

Học sinh lớp 10B Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức) có 100% học sinh là người dân tộc Khmer.

Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Long Thạch Tha Lai cho biết, thời gian tới, ngành tiếp tục thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách đối với người dạy, người học và cơ sở giáo dục tại vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, tổ chức dạy tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1; đồng thời phát triển việc dạy tiếng dân tộc thiểu số, trong đó có tiếng Khmer, phù hợp nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương.

Tỉnh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số được học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú lên trên 12% so với tổng số học sinh dân tộc thiểu số trong độ tuổi đi học; 100% cơ sở giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số tổ chức hoạt động tìm hiểu văn hóa dân tộc và tạo điều kiện để học sinh học tiếng Khmer theo quy định.

Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, Vĩnh Long tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ quản lý, giáo viên; đào tạo giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số, nâng cao năng lực tiếng Khmer cho đội ngũ công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và các phương pháp giáo dục tiên tiến tiếp tục được đẩy mạnh.

Từ chính sách hỗ trợ thiết thực đến đổi mới quản trị, dạy học và hướng nghiệp, việc triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW tại Vĩnh Long đang từng bước chuyển từ đầu tư điều kiện học tập sang nâng cao chất lượng và cơ hội phát triển cho người học. Với học sinh Khmer, đây là nền tảng để các em tiếp cận tốt hơn với giáo dục hiện đại, đồng thời gìn giữ bản sắc văn hóa và chuẩn bị hành trang cho tương lai./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Đắk Lắk chủ động phòng chống thiên tai trong mùa mưa bão

Đắk Lắk chủ động phòng chống thiên tai trong mùa mưa bão

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, từ ngày 9/9, khu vực tỉnh Đắk Lắk đã có mưa vừa, cảnh báo trong những ngày tới xuất hiện mưa to với lượng mưa tích lũy phổ biến từ 10-30mm, có nơi trên 60mm, nguy cơ xảy ra rủi ro thiên tai do lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất.

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Từ những bao gạo, bộ quần áo, đôi dép đến vật dụng thiết yếu được trao tận tay người dân nghèo, các “Gian hàng không đồng” đang trở thành điểm sẻ chia ấm áp trên nhiều địa bàn biên giới tỉnh Nghệ An.

Tạo môi trường học tập chất lượng, bình đẳng cho học sinh dân tộc thiểu số

Tạo môi trường học tập chất lượng, bình đẳng cho học sinh dân tộc thiểu số

Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển giáo dục và đào tạo", tỉnh Khánh Hòa đã và đang tập trung nâng cấp hạ tầng, qui hoạch và sắp xếp bài bản mô hình trường lớp, bảo đảm đầy đủ điều kiện dạy và học cho thầy trò nơi đất liền, vùng sâu, vùng xa và biển đảo.

Hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào vùng biên thoát nghèo

Hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào vùng biên thoát nghèo

Ngày 8/9, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Trị phối hợp với Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh tổ chức Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ Biên cương” năm 2026 tại thôn Pa Hy, xã Đakrông. Hoạt động góp phần hỗ trợ sinh kế bền vững cho phụ nữ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn ở khu vực biên giới.

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Từ những bao gạo, bộ quần áo, đôi dép đến những vật dụng thiết yếu được trao tận tay người dân nghèo, các “Gian hàng không đồng” đang trở thành những điểm sẻ chia ấm áp trên nhiều địa bàn biên giới tỉnh Nghệ An. 

Tiếp sức vùng biên phát triển kinh tế từ vốn ưu đãi

Tiếp sức vùng biên phát triển kinh tế từ vốn ưu đãi

Thành phố Đồng Nai hiện có 8 xã biên giới tiếp giáp với Campuchia, với hầu hết xã đều có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tốt, phù hợp phát triển trồng trọt, chăn nuôi. Trước đây, do thiếu vốn nên việc sản xuất của người dân gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, tận dụng nguồn vốn chính sách và các nguồn hợp pháp khác, người dân các xã biên giới đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhiều hộ vươn lên làm giàu, góp phần xây dựng vùng biên thịnh vượng.

Ghi nhận những chiến công đặc biệt của Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới

Ghi nhận những chiến công đặc biệt của Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới

Ngày 7/9, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Vĩnh Long tổ chức lễ đón nhận Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đây là sự ghi nhận cao quý của Đảng và Nhà nước đối với những cống hiến của tập thể cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Định hướng xây dựng 5 phường trung tâm Đà Lạt thành đô thị loại II

Định hướng xây dựng 5 phường trung tâm Đà Lạt thành đô thị loại II

Với quy mô quy hoạch khoảng 68.000 ha, dân số dự kiến gần 757.000 người và khoảng gần 17,5 triệu lượt khách du lịch vào năm 2050, tỉnh Lâm Đồng định hướng xây dựng 5 phường Xuân Hương - Đà Lạt, Lâm Viên - Đà Lạt, Cam Ly - Đà Lạt, Xuân Trường - Đà Lạt và Lang Biang - Đà Lạt trở thành đô thị loại II, phát triển năng động, bền vững; đồng thời là trung tâm du lịch, dịch vụ, văn hóa, khoa học và đổi mới sáng tạo của tỉnh và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên.

Tìm đầu ra, nâng giá trị 'quốc bảo' sâm Ngọc Linh

Tìm đầu ra, nâng giá trị 'quốc bảo' sâm Ngọc Linh

Quốc bảo sâm Ngọc Linh là sản vật quý hiếm, mang giá trị dược tính cao, sinh trưởng trên vùng núi Ngọc Linh với độ cao hơn 1.500 m. Tuy công tác gieo trồng, chăm sóc sâm rất khó khăn, gian khổ, nhưng những năm gần đây, giá bán các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh liên tục giảm, khiến bà con vùng trồng sâm rất lo lắng.

Khai thác lợi thế đất đỏ bazan, nâng tầm nông nghiệp phía Tây Lâm Đồng

Khai thác lợi thế đất đỏ bazan, nâng tầm nông nghiệp phía Tây Lâm Đồng

Sở hữu diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn, nhiều vùng đất đỏ bazan màu mỡ cùng điều kiện khí hậu thuận lợi, khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Các ngành hàng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu và một số loại cây ăn quả đang tạo sinh kế, thu nhập cho hàng chục nghìn hộ dân.

Khẩn trương đưa dân vùng thiên tai về khu tái định cư trước mùa mưa lũ

Khẩn trương đưa dân vùng thiên tai về khu tái định cư trước mùa mưa lũ

Những ngày này, không khí tháo dỡ và dựng nhà trên công trường khu tái định cư và khu dân cư Bôn Jứ, xã Ia Tul (tỉnh Gia Lai) đâu đâu cũng nhộn nhịp, hăng hái và đầy quyết tâm. Mục tiêu là phấn đấu hoàn thành việc di dời 207 hộ dân vùng thiên tai Bôn Jứ về khu tái định cư mới trước cao điểm mùa mưa lũ.

Đánh thức nội lực trên những bản người Mông

Đánh thức nội lực trên những bản người Mông

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển ở nhiều địa bàn bản Mông ở Phú Thọ được mở rộng, tạo thêm điều kiện liên kết nguồn lực, phát triển sản xuất và du lịch.

Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước

Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước

Trên vùng cao nguyên đá khắc nghiệt, nơi đất sản xuất ít, nước sinh hoạt còn thiếu, xã biên giới Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang đang lựa chọn cách làm cụ thể để tạo sinh kế cho người dân: cán bộ, đảng viên đi trước xây dựng mô hình, người dân cùng làm; chuyển những diện tích ngô năng suất thấp và đất hoang hóa sang cây trồng có giá trị, đồng thời gắn sản xuất với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Những mô hình bước đầu đang mở thêm hướng giảm nghèo cho địa phương nơi cực Bắc Tổ quốc.

Khắc phục sạt lở, thông tuyến đường Đồng Nai đi Lâm Đồng

Khắc phục sạt lở, thông tuyến đường Đồng Nai đi Lâm Đồng

Ngày 6/9, tuyến đường ĐT.755B, đoạn qua xã Phước Sơn, thành phố Đồng Nai, xảy ra sự cố đất tràn xuống mặt đường do mưa lớn kéo dài, gây ách tắc giao thông cục bộ. Sau hơn 1 giờ khắc phục, tuyến đường đã được thông tuyến, các phương tiện lưu thông bình thường.

Từ sinh kế giữ rừng đến 'lá chắn xanh' vùng biên

Từ sinh kế giữ rừng đến 'lá chắn xanh' vùng biên

Hơn 10 năm qua, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Đăk Ơ, Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) đã gắn bó với rừng qua mô hình nhận khoán bảo vệ. Việc triển khai hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ mang lại sinh kế bền vững cho hàng trăm hộ dân vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập mà còn góp phần bảo vệ “lá phổi xanh” nơi biên cương.

Tuổi trẻ đồng hành, kiến tạo môi trường an toàn, sạch khỏe cho học sinh vùng khó

Tuổi trẻ đồng hành, kiến tạo môi trường an toàn, sạch khỏe cho học sinh vùng khó

Hướng tới chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2026), ngày 5/9, tại điểm trường Làng Cát, Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đakrông (xã Đakrông, tỉnh Quảng Trị), Hội Thầy thuốc trẻ Trung ương, Công ty Unilever Việt Nam, nhãn hàng Lifebuoy và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Trị đã phối hợp tổ chức chương trình “An toàn sạch khỏe - Bé vui tới trường”. Đây là hoạt động ý nghĩa góp phần cụ thể hóa Đề án “Tuổi trẻ Quảng Trị đồng hành với thanh thiếu nhi vùng biên giới giai đoạn 2025 - 2030”.

Chợ tiền tỷ ngóng... tiểu thương

Chợ tiền tỷ ngóng... tiểu thương

Chợ Mai Pha, phường Đông Kinh, tỉnh Lạng Sơn sau khi được đầu tư xây dựng với hạ tầng cơ bản đồng bộ đã đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, số lượng tiểu thương đăng ký kinh doanh ít, lượng khách chưa hình thành, trong khi một bộ phận người dân vẫn giữ thói quen mua bán tại các khu vực chợ cóc và điểm kinh doanh truyền thống. Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cần sớm có giải pháp để phát huy hiệu quả công trình, tránh nguy cơ lãng phí nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước...

Nâng bước những mầm xanh nơi biên cương

Nâng bước những mầm xanh nơi biên cương

Trong không khí cả nước khai giảng năm học mới 2026 - 2027, ngày 5/9, lãnh đạo Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị cùng cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trên hai tuyến biên giới của tỉnh đã đồng hành với thầy, trò nơi phên dậu Tổ quốc. Với tinh thần trách nhiệm, tình yêu thương, những người lính mang “quân hàm xanh” đang lặng thầm góp phần chăm lo, tiếp sức cho học sinh, nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn, vững bước đến trường.

Khai giảng năm học mới 2026-2027: Tiếp thêm động lực nâng cao chất lượng giáo dục

Khai giảng năm học mới 2026-2027: Tiếp thêm động lực nâng cao chất lượng giáo dục

Cùng với học sinh cả nước, học sinh, sinh viên tại các địa phương như Tây Ninh, Điện Biên, Gia Lai và Cần Thơ bước vào năm học mới 2026-2027. Tại các địa bàn miền núi, biên giới, nhiều trường nội trú liên cấp được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em dân tộc thiểu số và con em gia đình chính sách được học tập và rèn luyện.

Lễ khai giảng đặc biệt ở lớp học tình thương

Lễ khai giảng đặc biệt ở lớp học tình thương

Khi nhiều sân trường trên địa bàn tỉnh rộn ràng tiếng trống khai giảng, tại Lớp học tình thương, điểm dạy học sinh khuyết tật miễn phí ở xã Thọ Phong, tỉnh Quảng Ngãi, ngày hội đến trường diễn ra theo một cách rất riêng.

Rộn ràng trước giờ khai giảng tại trường phổ thông nội trú liên cấp nơi biên giới

Rộn ràng trước giờ khai giảng tại trường phổ thông nội trú liên cấp nơi biên giới

Ngay từ sáng sớm 5/9, tại Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Sơn Thủy, xã Sơn Thủy, tỉnh Thanh Hóa, không khí chuẩn bị cho Lễ khai giảng năm học 2026-2027 và khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới trên phạm vi toàn quốc đã diễn ra khẩn trương, trang trọng.

Tuổi trẻ vùng biên khơi mở 'dòng chảy số' nơi phên dậu Tổ quốc

Tuổi trẻ vùng biên khơi mở 'dòng chảy số' nơi phên dậu Tổ quốc

Không bắt đầu từ những khái niệm lớn lao, chuyển đổi số tại các xã miền núi, biên giới tỉnh Quảng Trị đang dần đi vào đời sống từ chính những thao tác thiết thực hàng ngày: từ sử dụng điện thoại thông minh, tra cứu thông tin chính thống, thực hiện dịch vụ công trực tuyến đến thanh toán không tiền mặt.