Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển ở nhiều địa bàn bản Mông ở Phú Thọ được mở rộng, tạo thêm điều kiện liên kết nguồn lực, phát triển sản xuất và du lịch.
Từ những cánh rừng quế xanh ngút ở Trung Sơn, tiếng máy may, máy thêu vang lên giữa bản Mỹ Á, xã Thu Cúc đến những nếp nhà làm du lịch cộng đồng ở Pà Cò, sức sống mới đã và đang hiện hữu. Điều đáng chú ý không chỉ là câu chuyện thoát nghèo mà còn là sự chuyển biến trong cách nghĩ, cách làm, khi người dân chủ động khai thác đất đai, nghề truyền thống và bản sắc văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao thu nhập ngay trên quê hương.
Khi người Mông không chỉ nghĩ đến thoát nghèo
Trên những sườn núi của xã Trung Sơn, màu xanh của quế đang phủ lên nhiều diện tích trước đây chủ yếu trồng mỡ, tre, bồ đề - những loại cây cho hiệu quả kinh tế không cao. Với người dân khu Nhồi, quế giờ đây không đơn thuần là cây lâm nghiệp mà đã trở thành nguồn sinh kế quan trọng.
Bà Đinh Thị Linh, Bí thư Chi bộ khu Nhồi là một trong những người sớm gắn bó với cây quế. Cuối những năm 1980, gia đình bà thuộc nhóm hộ đầu tiên được vận động trồng quế, hỗ trợ cây giống và trồng xen với sắn để có nguồn thu trước mắt.
Năm 2012, hơn 2 ha quế của gia đình bà Linh cho thu hoạch mang lại khoảng 300 triệu đồng. Từ hiệu quả của những hộ đi trước, người dân trong khu mạnh dạn dành thêm đất trồng quế, đầu tư chăm sóc và coi đây là cây có khả năng tạo nguồn tích lũy lâu dài. Gia đình bà Linh hiện có hơn 8 ha; mới đây, chỉ cắt tỉa khoảng 0,7 ha đã thu khoảng 150 triệu đồng. Trong khu, nhiều hộ có thu nhập 200-300 triệu đồng mỗi năm nhờ quế.
Từ một số hộ tiên phong, vùng quế Trung Sơn ngày càng mở rộng. Toàn xã hiện có 1.442 hộ trồng quế, tổng diện tích hơn 2.800 ha. Tháng 9/2025, Đảng bộ xã ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế đồi rừng giai đoạn 2025-2030, xác định quế là một trong những cây trồng trọng tâm, hướng tới quy hoạch vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, thu hút doanh nghiệp chế biến và từng bước hình thành chuỗi giá trị.
Bí thư Đảng ủy xã Trung Sơn Đinh Hải Nam cho biết, địa phương tập trung nâng chất lượng nguyên liệu, hướng dẫn người dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tăng liên kết sản xuất và tìm đầu ra ổn định, qua đó nâng giá trị trên cùng một diện tích đất.
Một người phụ nữ Mông ở xã Pà Cò miệt mài bên khung cửu để dệt ra những tấm vải thổ cẩm Mông bền đẹp. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN
Rời những triền quế Trung Sơn, đến bản Mỹ Á, xã Thu Cúc, sức sống mới hiện lên theo một cách khác. Giữa những nếp nhà của đồng bào Mông, tiếng máy may, máy thêu đều đặn vang lên, cùng những con đường đã được cứng hóa và những căn nhà kiên cố hơn tạo nên nhịp sống mới. Mỹ Á có 149 hộ với 913 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào Mông. Dù đời sống từng bước được cải thiện, việc làm, vốn và thị trường vẫn là những khó khăn lớn.
Từng thuộc diện hộ nghèo, chị Mùa Thị Là mạnh dạn đầu tư giàn máy thêu để làm thổ cẩm và trang phục truyền thống của người Mông. Máy móc giúp rút ngắn thời gian hoàn thiện, tăng năng suất và đáp ứng những đơn hàng lớn. Mỗi tháng, cơ sở của chị làm ra hàng trăm sản phẩm, cung cấp cho các xã có điểm du lịch cộng đồng trong khu vực và bán trực tiếp cho du khách đến Mỹ Á.
Cơ sở thêu của chị Là đã tạo việc cho các lao động tại địa phương. Những chiếc váy, áo và hoa văn truyền thống không chỉ hiện diện trong đời sống văn hóa mà còn trở thành hàng hóa, tạo việc làm cho phụ nữ ngay tại bản. Bản sắc được gìn giữ bằng một cách thiết thực hơn, đi vào sản xuất, gắn với thị trường và trở thành sinh kế. Chị Là mong muốn tiếp tục được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và kết nối thị trường để mở rộng quy mô, đa dạng mẫu mã. Trưởng bản Mùa A Cáng đánh giá đây là hướng làm kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế. Việc một hộ từng còn nhiều khó khăn chủ động đầu tư máy móc, tìm đầu ra và tạo việc làm cho nhiều người khác cho thấy nhận thức về phát triển kinh tế trong cộng đồng đã có chuyển biến.
Mở rộng không gian phát triển, đánh thức nội lực vùng cao
Nếu Trung Sơn tìm hướng đi từ rừng quế, Mỹ Á, xã Thu Cúc tạo sinh kế từ nghề truyền thống thì xã Pà Cò đang từng bước biến cảnh quan và văn hóa bản địa thành nguồn lực phát triển du lịch cộng đồng.
Xã Pà Cò hiện có hơn 11.500 người sinh sống tại 18 xóm, trong đó đồng bào Mông chiếm khoảng 65%. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, xã Pà Cò mới được hình thành trên cơ sở sáp nhập Pà Cò, Hang Kia, Cun Pheo và một phần xã Đồng Tân. Không gian rộng hơn tạo điều kiện để địa phương liên kết nguồn lực, xây dựng các tuyến, sản phẩm du lịch thay vì phát triển riêng lẻ từng điểm.
Lợi thế của Pà Cò nằm ở cảnh quan thiên nhiên đặc sắc cùng kho tàng văn hóa phong phú của đồng bào Mông. Những nếp nhà truyền thống, tiếng khèn, nghề dệt lanh, nhuộm chàm, thêu thổ cẩm, vẽ sáp ong, ẩm thực và lễ hội đang từng bước trở thành sản phẩm du lịch, tạo thêm trải nghiệm cho du khách.
Đến nay, trên địa bàn xã đã có hàng chục hộ tham gia làm du lịch cộng đồng. Việc khai thác du lịch gắn với bảo tồn văn hóa giúp những nghề truyền thống vừa tạo thêm thu nhập vừa có thêm động lực để được gìn giữ.
Không gian trưng bày văn hóa người Mông sắp được hoạt động của chị Sùng Y Múa tại xã Hang Kia. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN
Một trong những người sớm nhận thấy tiềm năng ấy là chị Sùng Y Múa. Khoảng năm 2002, chị bắt đầu học hỏi các mô hình du lịch, từng bước đầu tư cơ sở lưu trú trên không gian ngôi nhà truyền thống của người Mông. Đến nay, cơ sở có hơn 10 phòng nghỉ và một nhà nghỉ cộng đồng. Trung bình mỗi tháng, homestay đón khoảng 250 lượt khách, trong đó có khách quốc tế. Hoạt động du lịch tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 4 - 7 lao động; thời điểm cao điểm 7 - 10 người, thu nhập bình quân 4 - 5 triệu đồng/người/tháng.
Từ mô hình tiên phong này, cách làm du lịch đang lan tỏa trong cộng đồng. Chị Sùng Y Dớ, chủ homestay Pà Cò Home cho biết, trước đây người dân chủ yếu dựa vào ngô, sắn, chè và sản xuất nông nghiệp; trong khi phát triển du lịch có thể mang lại mức thu nhập cao gấp 3 - 4 lần so với trước. Người dân vì thế có thêm cơ hội khai thác cảnh quan, văn hóa, sản vật để tạo thu nhập ngay tại quê hương.
Tuy nhiên, Pà Cò vẫn còn không ít trở ngại về giao thông, cơ sở vật chất, chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực và nước sinh hoạt. Địa phương mong muốn các tuyến đường, trong đó có tuyến kết nối Quốc lộ 15 với Quốc lộ 6 được nâng cấp để tăng khả năng kết nối các điểm đến. Trong các đợt nắng nóng năm 2026, lực lượng Công an tỉnh đã phải huy động xe téc vận chuyển nước sạch phục vụ người dân; Công an xã cũng vận động nguồn lực xây dựng giếng khoan cho khu dân cư thiếu nước.
Người Mông xã Pà Cò luôn tự hào với những sản phẩm vải thổ cẩm. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN
Theo Bí thư Đảng ủy xã Pà Cò Sùng A Chênh, địa phương cần tiếp tục được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo nguồn nhân lực để nâng chất lượng du lịch cộng đồng. Cùng với du lịch, các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, mô hình nuôi gà đen cũng được xác định là hướng đi có tiềm năng.
Từ Pà Cò đến Trung Sơn, Thu Cúc, mỗi địa phương lựa chọn một hướng đi phù hợp với lợi thế riêng. Điểm chung là mục tiêu không còn chỉ dừng ở thoát nghèo mà hướng tới nâng giá trị sản xuất, tạo việc làm và từng bước làm giàu trên quê hương.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Trung Sơn Đinh Hải Nam, giảm nghèo bền vững cần chuyển dần từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo điều kiện để người dân có sinh kế ổn định, có thị trường và khả năng tự phát triển sản xuất.
Những giá trị sẵn có của vùng cao, từ đất đai, nghề truyền thống đến văn hóa, cảnh quan và đời sống cộng đồng đang được người dân Phú Thọ khai thác theo một cách mới. Khi nguồn lực của Nhà nước gặp ý chí vươn lên và sự chủ động của người dân, những giá trị tưởng như quen thuộc có thể trở thành sinh kế, tạo việc làm và nguồn thu bền vững. Đó là nền tảng để những bản người Mông của Phú Thọ từng bước làm giàu trên quê hương, gìn giữ bản sắc và tạo sức sống mới cho vùng cao Tây Bắc./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn